Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cơ sở lí luận: Một số vấn đề chung về thực hành thí nghiệm và các khái niệm liên quan

Cơ sở lí luận: Một số vấn đề chung về thực hành thí nghiệm và các khái niệm liên quan

Tải bản đầy đủ - 0trang

mang tính lí thuyết cao, nhưng để phát hiện cơ sở lí thuyết vẫn phải bằng con đường thực

nghiệm. Thí nghiệm trong dạy học Sinh học có thể tiến hành trên lớp trong khâu hình

thành kiến thức mới hay ở PTN, vườn trường, góc sinh giới hoặc ở nhà. Thí nghiệm do

giáo viên (GV) biểu diễn hoặc do học sinh (HS) thực hiện.

1.1.2. Khái niệm thí nghiệm thực hành

- Thực hành là HS tự mình trực tiếp tiến hành quan sát, tiến hành các thí nghiệm,

tập triển khai các qui trình kĩ thuật chăn ni, trồng trọt. Thí nghiệm thực hành là tiến

hành các thí nghiệm trong các bài thực hành, được HS thực hiện, để các em hiểu rõ được

mục đích thí nghiệm, điều kiện thí nghiệm. Qua tiến hành và quan sát thí nghiệm tại

phòng Sinh học, HS xác định được bản chất của hiện tượng, quá trình Sinh học.

1.2. Vai trò thí nghiệm thực hành

1.2.1. Vai trò của thí nghiệm trong dạy học Sinh học

- Thí nghiệm là một trong những phương pháp nghiên cứu cơ bản của khoa học.

- Thí nghiệm trong điều kiện tự nhiên là mơ hình đại diện cho hiện thực khách

quan, là điểm xuất phát cho quá trình nhận thức của HS, nguồn cung cấp thơng tin.

- Thí nghiệm là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn.

- Thí nghiệm là phương tiện giúp hình thành ở HS kĩ năng, kĩ xảo thực hành Sinh

học và vận dụng kiến thức Sinh học vào sản xuất, đời sống .

1.2.2. Vai trò của thí nghiệm thực hành trong dạy học Sinh học

- Qua thí nghiệm thực hành, HS vận dụng được kiến thức vào những tình huống

khác nhau.

- Qua thí nghiệm thực hành, HS có điều kiện tự tìm hiểu mối quan hệ giữa cấu trúc

với chức năng, giữa bản chất và hiện tượng, giữa nguyên nhân và kết quả, do đó các em

nắm vững tri thức và thiết lập được lòng tin tự giác, sâu sắc hơn.



- Thực hành có liên quan đến nhiều giác quan, do đó bắt buộc HS phải suy nghĩ,

tìm tòi nhiều hơn nên tư duy sáng tạo có điều kiện phát triển hơn.

- Thực hành là phương pháp có ưu thế nhất để rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảo ứng

dụng tri thức vào đời sống. Thực hành có điều kiện nhất để thực hiện ngun lí giáo dục

lí thuyết gắn với thực tiễn.

- Qua thí nghiệm thực hành tập dượt cho HS các phương pháp nghiên cứu Sinh

học, Nơng học như quan sát, thí nghiệm ...

1.3. u cầu của thí nghiệm thực hành

Thí nghiệm thực hành cần thỏa mãn những yêu cầu sau:

- Điều kiện quan trọng nhất khi tiến hành thí nghiệm là phải hiểu rõ được mục

đích thí nghiệm, các điều kiện thí nghiệm.

- Việc quan sát những diễn biến trong q trình thí nghiệm phải thật chính xác.

- Giai đoạn cuối cùng của thí nghiệm thực hành là vạch ra được bản chất bên trong

của các hiện tượng quan sát được từ thí nghiệm thông qua việc thiết lập các mối liên hệ

nhân – quả giữa các hiện tượng.

- Thí nghiệm chủ yếu được tiến hành khi nghiên cứu các q trình sinh lí, ảnh

hưởng của các nhân tố sinh thái lên cơ thể, vì vậy nó có thể phải thực hiện trong thời gian

dài, ngắn tùy thuộc vào tính chất diễn biến của từng q trình. Có những thí nghiệm chỉ

thực hiện trong 1 tiết học như thí nghiệm tách chiết diệp lục, có những thí nghiệm phải

qua hàng giờ như thí nghiệm phát hiện hơ hấp ở thực vật, có những thí nghiệm phải qua

hàng ngày như giâm chiết cành... Đối với những thí nghiệm dài ngày GV phải có kinh

nghiệm tính toán trước thời gian từ lúc bắt đầu đến khi thí nghiệm có kết quả sao cho khi

giảng bài có liên quan đến thí nghiệm thì có thể biểu diễn hoặc thơng báo kết quả thí

nghiệm.



- Đặt thí nghiệm là khâu quan trọng của thí nghiệm thực hành. Cần tổ chức sao

cho HS được trực tiếp tác động vào các đối tượng nghiên cứu, chủ động thay đổi các điều

kiện thí nghiệm lắp ráp các dụng cụ thí nghiệm. Tổ chức thí nghiệm thực hành như vậy sẽ

có tác dụng lớn về mặt trí dục, đặc biệt có tác dụng giáo dục khoa học kĩ thuật.

1.4. Vị trí của các thí nghiệm thực hành trong Sinh học 11

Những thí nghiệm trong các bài thực hành Sinh học 11 giúp cho HS hiểu sâu, mở

rộng, chính xác hóa các kiến thức đã được thực hành trong các bài lý thuyết. Đồng thời,

giúp cho HS hình thành được những kĩ năng, kĩ xảo trong Sinh học.

Trong chương trình Sinh học 11, SGK sinh học 11 cơ bản có 8 bài thí nghiệm thực

hành, gồm 7 thí nghiệm, được phân bố như Bảng 1.2:

Bảng 1.2 Vị trí của các thí nghiệm thực hành trong Sinh học 11

Chương



Bài



Chương I:



thốt hơi nước và thí

7



nghiệm về vai trò của phân

bón



vật chất



lượng



hơi nước ở hai mặt lá.

2. Nghiên cứu vai trò

của phân bón NPK.





năng



Thí nghiệm, thực hành



Thực hành: Thí nghiệm 1. So sánh tốc độ thốt



Chuyển

hóa



Tên bài



Thực hành: Phát hiện diệp 1. Chiết rút diệp lục

13



14



lục và carôtenôit



2. Chiết rút carôtenôit



Thực hành: Phát



1. Phát hiện hô hấp qua



hiện hô hấp ở thực vật



sự thải CO2.

2. Phát hiện hô hấp qua



sự hút O2

Thực hành: Đo một số chỉ 1. Đếm nhịp tim

21



tiêu sinh lí ở người.



2. Đo huyết áp

3. Đo nhiệt độ cơ thể



Chương II



25



Thực hành: Hướng động



1. Phát hiện hướng trọng

lực của cây.



Thực hành: Xem phim về - Xem phim về tập tính của



Cảm ứng

33



Chương



tập tính của động vật



động vật



Thực hành: Xem phim về Xem phim về sinh trưởng



III:



sinh trưởng và phát triển ở và phát triển ở động vật



Sinh

trưởng



động vật

40



và phát

triển

Chương

IV:

Sinh sản



Thực hành: Nhân



1. Giâm cành và giâm lá



giống vơ tính ở thực



2. Ghép cành, ghép chồi



43

vật bằng giâm,

chiết, ghép



1.5. Khái niệm về bài tập thí nghiệm (BTTN)

BTTN là dạng bài tập luôn đi kèm với TN mà khi giải bài tập HS không những

dựa vào các điều kiện, phương pháp tiến hành và kết quả của TN mà còn vận dụng tổng

hợp các kiến thức lý thuyết và thực nghiệm, các kĩ năng hoạt động trí óc và thực hành kết

hợp với vốn hiểu biết về thực tiễn đời sống. Bằng các thao tác tư duy phân tích, tổng hợp,



so sánh, khái qt hóa, trừu tượng hóa giúp các em giải thích được kết quả TN, từ đó lĩnh

hội được các khái niệm, phân tích được cơ chế của các quá trình, quy luật sinh học.

1.6. Các dạng bài tập thí nghiệm

Có thể chia BTTN trong dạy học Sinh học thành hai dạng:

- BTTN yêu cầu HS phải thực hiện TN trong quá trình giải bài tập. Dạng bài tập

này được gọi là bài tập thực hành TN.

- BTTN có dữ kiện là các TN được GV biểu diễn trực tiếp hay gián tiếp (thông qua

quan sát đoạn phim quay các thao tác, diễn biến của một TN thật hay TN ảo); hoặc bài

tập có dữ kiện được mơ tả bằng các hình vẽ mơ phỏng hay các hình ảnh chụp từ TN thật.

Như vậy, dạng bài tập này chỉ được giải bằng lí thuyết, HS không cần phải tiến hành TN.

Tuy nhiên, sự phân chia các dạng bài tập như trên chỉ mang tính chất tương đối.

Ngoài ra, dựa vào mục tiêu rèn luyện các kĩ năng tư duy thực nghiệm cho HS, có thể chia

thành các dạng: BTTN rèn luyện kĩ năng phân tích kết quả TN; BTTN rèn luyện kĩ năng

so sánh kết quả TN; BTTN rèn luyện kĩ năng phán đoán kết quả TN; BTTN rèn luyện kĩ

năng thiết kế TN.

2. Cơ sở thực tiễn

2.1. Thực trạng việc sử dụng các thí nghiệm thực hành trong giảng dạy Sinh học hiện

nay

Để tiến hành nghiên cứu đề tài này tôi đã làm một cuộc khảo sát điều tra về thực

trạng về sử dụng các thí nghiệm thực hành trong dạy học Sinh học ở các đồng nghiệp của

tôi và một số học sinh. Tôi thu được kết quả như sau:

Bảng 2.1.1. Khảo sát mức độ nhận thức của 8 GV về việc sử dụng thí nghiệm

trong q trình dạy học ở trường THPT

Mức độ nhận thức và lí do



Số lượng



Tỷ lệ



A. Mức độ nhận thức

- Rất cần thiết



4



50%



-



Cần thiết



4



50%



- Không cần thiết

B. Các lí do



0



0%



- Kích thích được hứng thú học tập của HS



5



62,5%



-Phát huy được tính tích cực, độc lập, sáng



3



37,5%



-Đảm bảo kiến thức vững, chắc



7



87,5%



-Chuẩn bị công phu, mất nhiều thời gian



8



100%



-Hiệu quả bài học không cao



2



25%



-Không thi



4



50%



tạo của HS trong quá trình dạy học



Kết quả thu được cho thấy: Hiện nay, giáo viên THPT đều khẳng định sự cần thiết

của việc sử dụng TN trong quá trình dạy học. 50% GV được khảo sát khẳng định rất cần

thiết, 50% khẳng định cần thiết sử dụng TN trong quá trình dạy học SH. Theo đánh giá

của giáo viên THPT, việc sử dụng các TN trong dạy học SH đảm bảo cho HS nắm kiến

thức vững chắc (87,5%), phát huy được tính tích cực, độc lập, sáng tạo của HS trong quá

trình học tập (37,5%), tạo được hứng thú cho HS (62,5%).

Bảng 2.1.2. Khảo sát mức độ sử dụng thí nghiệm thực hành trong dạy học Sinh

học 11 của giáo viên.

Mức độ đề cập/ hướng dẫn



Số lượng



Tỷ lệ (%)



Thường xuyên- Tất cả các TN



2



25



Thỉnh thoảng 1-2 TN



6



75



Không bao giờ



0



0



Trong các trường THPT hiện nay, GV đã sử dụng TN trong quá trình dạy học nhưng

mức độ sử dụng là chưa nhiều (75% GV sử dụng 2 – 3 bài thực hành và 25% GV sử dụng

tất các bài thực hành). Kết quả này phản ánh thực trạng: mặc dù giáo viên đã nhận thức

đúng đắn về sự cần thiết của TN trong quá trình dạy học SH, nhưng việc sử dụng TN

trong thực tế lại rất hạn chế.

-



Khảo sát vấn đề này ở 100 học sinh bằng phiếu điều tra. Kết quả tôi thu được như

sau:



Bảng 2.1.3. Mức độ hứng thú của HS khi được thực hiện thí nghiệm thực hành mơn

Sinh học

Mức độ



Số lượng



Tỷ lệ(%)



Rất thích



21



21



Thích



40



40



Bình thường



24



24



Khơng thích



15



15



Qua khảo sát, chúng ta thấy rằng HS rất thích, hứng thú với việc được thực hiện

các thí nghiệm thực hành (61%); bên cạnh đó còn có một bộ phân khơng nhỏ HS chưa

thích hoặc khơng thích làm thực hành thí nghiệm.

2.2. Ngun nhân của thực trạng

TN thực hành đóng vai trò quan trọng trong q trình dạy học nói chung và dạy học

Sinh học nói riêng, nhưng thực tế việc sử dụng các TN thực hành vẫn còn rất hạn chế và

chưa đem lại hiệu quả trong dạy học. Do một số nguyên nhân chủ yếu:



- Thiếu trang thiết bị hoặc trang thiết bị không đảm bảo chất lượng.

- Các thao tác kĩ thuật trong các thí nghiệm chưa được nêu rõ, chưa hướng dẫn chi

tiết; phần chuẩn bị mẫu vật và hóa chất chưa được SGK đề cập đến. Đồng thời các dụng

cụ thí nghiệm thực hành có khi khơng giống SGK gây khó khăn cho GV trong việc sử

dụng.

- Các TN thực hành thường mất nhiều thời gian, công sức và phức tạp.

- Năng lực sử dụng, khai thác, tổ chức HS nhận thức TN của giáo viên còn hạn chế,

do có ít nội dung thi nên giáo viên thường không quan tâm đến việc tổ chức HS khai thác

giá trị dạy học của các TN...

Thực tế cho thấy, quá trình sử dụng các TN của GV còn gặp nhiều khó khăn, việc

áp dụng theo đúng qui trình TN trong SGK đã gây một số khó khăn cho GV về mặt thời

gian cũng như kết quả của TN. Hơn nữa, mặc dù nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng

của TN nhưng mức độ sử dụng TN trong dạy học là không thường xuyên, GV chưa tự

giác trong việc khai thác, sử dụng TN trong giảng dạy. Do đó, hiệu quả sử dụng TN trong

quá trình giảng dạy chưa cao.



Chương II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ

THỰC HÀNH THÍ NGHIỆM

I. Cải tiến một số thí nghiệm thực hành Sinh học 11

1. Quy trình cải tiến một thí nghiệm thực hành

Bước 1: Xác định mục tiêu thí nghiệm.

Đây là những dự kiến sản phẩm phải đạt trong thí nghiệm. Trong mục tiêu cần

phân tích, chỉ rõ kết quả như thế nào, từ kết quả rút ra kết luận gì hay chứng minh điều gì,

các thao tác kĩ thuật cần đạt được qua thí nghiệm là gì.

Bước 2: Phân tích các thí nghiệm trong SGK

Trước hết là tiến hành các thí nghiệm theo đúng sự hướng dẫn trong SGK, mỗi thí

nghiệm được tiến hành lặp đi lặp lại nhiều lần. Sau đó, căn cứ trên tồn bộ qui trình thực

hiện thí nghiệm để phân tích các yếu tố trong thí nghiệm như: điều kiện, phương pháp,

kết quả thí nghiệm. Cụ thể phân tích trong qui trình bao gồm tồn bộ từ khâu chuẩn bị thí

nghiệm như mẫu vật, dụng cụ, hóa chất; đến phân tích việc thực hiện thí nghiệm; đến

cuối cùng là phân tích kết quả thí nghiệm có chính xác với u cầu đề ra hay khơng? Mức

độ chính xác được bao nhiêu phần trăm? Thời gian thực hiện thí nghiệm trong bao lâu?

Từng khâu trong các giai đoạn này được qui định thành những yếu tố trong thí nghiệm.

Bước 3: Phát hiện những khó khăn và xây dựng các phương án khắc phục các khó khăn

của thí nghiệm SGK

Căn cứ trên cơ sở phân tích ở bước 2, phát hiện những mâu thuẫn được hình thành

khi thực hiện thí nghiệm, các khó khăn gặp phải khi thực hiện thí nghiệm như chuẩn bị

mẫu vật, hóa chất, dụng cụ, các thao tác tiến hành, mức độ khó thực hiện của thí

nghiệm... Nếu một yếu tố bất kì trong thí nghiệm gây khó khăn cho thí nghiệm thì sẽ

được đánh dấu và xây dựng phương án giải quyết. Trên cơ sở những khó khăn gặp phải,

chúng tơi tiến hành đồng thời các thí nghiệm khác dựa trên 3 tiêu chí: thay đổi một yếu



tố, một đối tượng, một thao tác nào đó trong thí nghiệm trong khi các đối tượng khác vẫn

được giữ nguyên như thí nghiệm đề ra ban đầu; bổ sung thêm vào hoặc giảm bớt đi

những yếu tố, đối tượng, thao tác cần thiết hoặc khơng cần thiết cho thí nghiệm; bổ sung

những thí nghiệm hồn tồn mới khơng có trong SGK. Mơ hình mà chúng tôi sử dụng

theo 2 nguyên tắc chung: đảm bảo các yếu tố khác trong thí nghiệm và chỉ thay đổi yếu tố

mà chúng tôi quan tâm (đặc biệt trong một yếu tố có thể có nhiều cách thay đổi khác

nhau); tổ hợp các yếu tố thay đổi để tạo nên các thí nghiệm khác nhau.

Bước 4: Thực hiện các thí nghiệm theo phương án cải tiến

Mỗi thí nghiệm được thực hiện từ 5 đến 7 lần lặp lại và theo đúng qui trình tiến

hành một thí nghiệm, sau đó đánh giá kết quả và so sánh. Ngoài việc so sánh kết quả của

những thí nghiệm trong các phương án cải tiến thì chúng tơi còn tính đến khả năng thực

hiện thí nghiệm như thế nào cho phù hợp với yêu cầu của từng vùng, từng địa phương,

từng điều kiện thời tiết, từng cơ sở vật chất của nhà trường, đặc biệt là thao tác thực hiện

sao cho dễ dàng nhất, yêu cầu của thời gian phân bố và thực hiện thí nghiệm.

Bước 5: Đánh giá hiệu quả của phương án TN cải tiến

Mục đích của việc cải tiến cách làm TN nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các TN,

vì vậy sau khi đã tiến hành các TN theo phương án cải tiến đối chiếu với kết quả TN

theo đúng hướng dẫn trong SGK về một số chỉ tiêu như mức độ chính xác của kết quả,

thời gian thực hiện TN, khả năng thực hiện TN … để đánh giá tính ưu việt của phương án

cải tiến.

2. Một số ví dụ về TN theo SGK và phương án cải tiến thí nghiệm:

2.1. Bài 7 - Thí nghiệm 1: So sánh tốc độ thoát hơi nước ở hai mặt lá

2.1.1. Mục tiêu của TN

- HS có khả năng sử dụng giấy coban clorua để phát hiện tốc độ thoát hơi nước

khác nhau ở hai mặt lá.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cơ sở lí luận: Một số vấn đề chung về thực hành thí nghiệm và các khái niệm liên quan

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×