Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ

II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Đa số GV tự tiến hành các thí nghiệm có minh họa trong SGK mà khơng

hướng dẫn HS độc lập suy nghĩ tìm kiếm các phương án thí nghiệm để từ đó rèn

luyện cho HS kĩ năng tự học, tư duy độc lập.

- Hầu hết GV ít sử dụng TN trong việc kiểm tra, đánh giá HS.

- Phần lớn GV chưa có sự đầu tư khai thác những thí nghiệm.

* Một số nguyên nhân cơ bản

-Về phía GV

+ Mặc dù GV nhận thức được tầm quan trọng của thí nghiệm trong q trình

dạy học nhưng GV chưa có sự đầu tư đúng đắn.

+ Nhiều GV vẫn quen dạy theo lối cũ, ngại đổi mới PPDH do đó việc sử dụng

TN theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học cho HS đòi hỏi GV phải tốn thời gian và

cơng sức để sưu tầm và tuyển chọn hệ thống TN phù hợp với các hình thức dạy học.

+ Các giáo án của GV chỉ mang tính hình thức và chỉ tóm tắt lại nội dung chính

trong SGK mà chưa thiết kế giáo án theo một tiến trình cụ thể bằng hệ thống các thí

nghiệm để hình thành kiến thức cho HS.

+ Chế độ kiểm tra, thi cử, đánh giá kết quả học tập chưa kích thích được khả

năng tư duy và ý thức tự học của các em vì một bộ phận không nhỏ các GV vẫn dạy

theo quan niệm “thi gì, dạy nấy”. Vẫn còn nạn chạy đua theo thành tích, tuy khơng

nhiều nhưng cũng tác động rất lớn đến việc tự học của các em.

- Về phía HS

+ Phần đông HS nhận thức được tầm quan trọng của việc tự học trong quá trình

học tập của các em, tuy nhiên các em khơng biết và khơng có điều kiện để rèn luyện

được những kĩ năng tự học vì áp lực học tập và thi cử (học thêm tràn lan).

+ Mặt khác, HS còn hạn chế về khả năng hiểu biết các dụng cụ thí nghiệm, tư

duy lơgic trong q trình giải thích các hiện tượng và giải bài tập vật lý, vận dụng

kiến thức vào các vấn đề kĩ thuật đơn giản; năng lực thực hành.

2. Thuận lợi và khó khăn về vấn đề sử dụng TN để nâng cao chất lượng về kiến

thức và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cho HS

* Những thuận lợi

7



- Sự phát triển của nền kinh tế đòi hỏi Giáo dục phải tạo ra được những con

người năng động, sáng tạo, có khả năng chiếm lĩnh tri thức và làm chủ tri thức.

Chính vì vậy mà vấn đề tự học, rèn luyện các kĩ năng tự học cho HS để từ đó bồi

dưỡng cho các em năng lực tự học được các cấp chính quyền và xã hội quan tâm

đúng mức.

- Cùng với sự đổi mới chương trình, nội dung là sự đổi mới về PPDH nên hiện

nay nhiều trường phổ thông đã được đầu tư, trang bị khá đầy đủ về cơ sở vật chất,

trang thiết bị, đảm bảo cho GV có thể tổ chức các hoạt động dạy học theo hướng

tích cực.

- Mơn Vật lí là một mơn khoa học thực nghiệm, có nhiều thí nghiệm phong phú

gắn liền với thực tiễn và đời sống nên GV dễ dàng khai thác thí nghiệm theo hướng

bồi dưỡng năng lực tự học cho HS.

* Những khó khăn

Ngồi những thuận lợi nêu trên, khi sử dụng thí nghiệm theo hướng bồi dưỡng

năng lực tự học cho HS ở các trường THPT GV thường gặp những khó khăn sau:

- Nhiều trường THPT đã trang bị đầy đủ cho GV thực hiện tốt đổi mới PPDH,

tuy nhiên còn nhiều GV còn lúng túng trong việc sử dụng các thiết bị dạy học. Việc

sử dụng thí nghiệm trong q trình dạy học Vật lí gặp nhiều khó khăn cho việc tổ

chức hoạt động nhận thức của HS.

- Sử dụng thí nghiệm theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học cho HS đòi hỏi

GV phải tốn nhiều thời gian để sưu tầm và tuyển chọn thí nghiệm phù hợp.

- GV rất ngại làm thí nghiệm, vì khi sử dụng thí nghiệm trong một tiết dạy đòi

hỏi GV cần phải chuẩn bị từ 2 đến 3 buổi để chuẩn bị thí nghiệm.

III. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Sử dụng thí nghiệm theo hướng tích cực là thí nghiệm cung cấp kiến thức,

phương tiện để học sinh khai thác, tìm tòi theo phương pháp kiểm chứng, phương

pháp nghiên cứu….

1. Yêu cầu chung:

Nội dung của TN phải phù hợp với các kiến thức cơ bản của chương trình

SGK và phải thiết thực gần gũi với cuộc sống hằng ngày của HS. Các thiết bị TN

8



phải đơn giản, dễ tìm, dễ chế tạo hoặc có sẵn ở phòng thí nghiệm. Các thao tác TN

khơng q khó

2. Khái qt nội dung chương “Dòng điện khơng đổi”

Chương “Dòng điện khơng đổi” được giảng dạy trong 13 tiết, trong đó 8 tiết lí

thuyết, 2 tiết thực hành và 4 tiết bài tập. Kiến thức của chương là sự nối tiếp các

kiến thức của chương “Điện tích - Điện trường”. Nội dung chương này đề cập đến

những vấn đề cơ bản về dòng điện khơng đổi, là cơ sở để nghiên cứu các vấn đề

khác về dòng điện. Phần lớn kiến thức của chương được kế thừa và phát triển từ

chương trình vật lí THCS như các khái niệm dòng điện, cường độ dòng điện, điện

năng tiêu thụ, định luật Ôm đối với đoạn mạch điện trở…và các kĩ năng vận dụng ở

mức độ đơn giản. Ngồi ra, chương này trình bày những vấn đề mới về nguồn điện,

về sự tạo thành suất điện động của các nguồn điện, ghép các nguồn điện thành bộ,

đặc biệt là việc thiết lập và vận dụng định luật Ôm cho toàn mạch. Kiến thức của

chương rất gần gũi với thực tế cuộc sống hàng ngày mà HS thường gặp, thường thấy

như nguồn điện ở pin, ac-qui, các mạch điện mắc nối tiếp, song song, các tác dụng

của dòng điện…

2.2. Khai thác TN theo hướng dạy học tích cực trong dạy học chương “Dòng

điện khơng đổi”

Dựa vào nội dung cơ bản của chương “ Dòng điện khơng đổi” ta có thể đưa ra

một số TN áp dụng cho chương này như sau:

Dạng 1. Các TN về nguồn điện, định luật Ơm đối với đoạn mạch chỉ có điện trở

thuần.

Dạng 2. Các TN về điện năng, công suất điện. Định luật Jun – Len xơ

Dạng 3. Các TN về Định luật Ơm đối với tồn mạch, mắc các nguồn điện thành bộ

Thí nghiệm 1: Một ắcqui bị mất kí hiệu các cực âm và dương. Chỉ bằng hai dây dẫn

và một cốc nước, làm cách nào để có thể xác định lại các cực của ắcqui. Hãy nêu

phương án thực hiện.



Hình 2.1



9



* Phương án tiến hành: nối các đầu dây dẫn vào hai điện cực của ắcqui. Cạo sạch

lớp cách điện hai đầu dây còn lại cỡ 5cm mỗi đầu và nhúng vào cốc nước ở hai

thành đối diện. Quan sát đầu dây nào có nhiều bọt khí hơn đó là cực âm. Cực của

ắcqui nối với dây này là cực âm, cực còn lại là cực dương.

* Giải thích: Khi mắc mạch điện như trên dưới tác dụng hóa học của dòng điện, các

ion dương H+ dịch chuyển về cực âm, các ion âm O 2- dịch chuyển về cực dương và

được giải phóng. Vì một phân tử nước có hai ngun tử Hiđrơ và một ngun tử Oxi

do đó phân số phân tử Hiđrơ được giải phóng ở cực âm nhiều hơn gấp đơi. Vì vậy

suy ra điện cực âm là điện cực có nhiều bọt khí sủi lên hơn.

Thí nghiệm 2: Cho một nguồn điện một chiều, hai vơn kế giống nhau có điện trở rất

lớn, một điện trở đã biết trị số , một điện trở chưa biết trị số , dây nối, khóa K. Hãy

đề xuất phương án xác định giá trị điện trở ?

* Xây dựng phương án

- Mắc mạch điện theo hình 2.16 , các vôn kế mắc song song vào hai đầu và .

- Đóng khóa K,đọc giá trị của các vơn kế chỉ và ghi vào bảng kết quả đo.

- Thế các giá trị đó vào cơng thức , tìm được

R0



Rx



V



V

+ -



K



Hình 2.2



Hình 2.2



* Giải thích: Do điện trở của vơn kế rất lớn nên khi mắc vôn kế vào mạch, cường

độ dòng điện trong mạch khơng đổi. Mạch ngồi gồm nt .

Ta có,suy ra

Thí nghiệm 3: Cho điện trở đã biết trị số , điện trở chưa biết trị số , hai vơn kế có

điện trở rất lớn, nguồn điện, dây nối. Hãy lập phương án xác định công suất tiêu thụ

trên ?

10



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×