Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
A. giúp xã hội ổn định, trật tự và phát triển.

A. giúp xã hội ổn định, trật tự và phát triển.

Tải bản đầy đủ - 0trang

câu hỏi trắc nghiệm.

Sơ đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy. Đây là phương pháp dễ nhất để chuyển tải

thông tin vào bộ não của học sinh rồi đưa thơng tin ra ngồi bộ não. Nó là một phương tiện

ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng nghĩa của nó là “Sắp xếp” ý nghĩ của học

sinh .

Với cách thể hiện gần như cơ chế hoạt động của bộ não, sơ đồ tư duy sẽ

giúp học sinh :

• Sáng tạo hơn

• Tiết kiệm thời gian

• Ghi nhớ tốt hơn

• Nhìn thấy bức tranh tổng thể

• Tổ chức và phân loại suy nghĩ của học sinh

Và hơn thế nữa sơ đồ tư duy sẽ giúp học sinh nhanh chóng tiếp cận bài giảng của giáo viên

bắt gặp được những ý đã có trong sách giáo khoa, nhanh chóng tìm ra những gì giáo viên

truyền đạt nhờ những từ khóa hoặc hình ảnh một cách nhanh chóng. Vì thế học sinh sẽ xây

dựng bài học một cách tích cực, nhanh chóng trả lời được những câu hỏi mà giáo viên đặt

ra ngay trong quá trình diễn giải, học sinh sẽ khơng bỏ sót bất cứ một lưu ý nào của giáo

viên nhờ đã bỏ trống trên sơ đồ tư duy những ý mà học sinh chưa thật sự nắm bắt.. Rõ ràng

Sơ đồ tư duy của học sinh là tài sản riêng của học sinh : một khi học sinh hiểu cách tạo ra

những ghi chú trong sơ đồ tư duy, học sinh có thể phát huy các quy tắc của riêng mình để

làm cho nó tốt hơn. Và sơ đồ tư duy tốt hơn đồng nghĩa với việc các kiến thức của môn

GDCD sẽ nắm chắc hơn. Như vậy, thay vì phải học thuộc lòng các khái niệm, định nghĩa

hay cả bài giảng đọc chép như lúc trước, giờ đây học sinh có thể hiểu và nắm được khái

niệm qua hình vẽ. Chính sự liên tưởng theo hướng dẫn của giáo viên cũng giúp các em nhớ

được phần trọng tâm của bài giảng. Cách học này còn phát triển được năng lực riêng của

từng học sinh khơng chỉ về trí tuệ, vẽ, viết gì trên sơ đồ tư duy, hệ thống hóa kiến thức

chọn lọc những phần nào trong bài để ghi, thể hiện dưới hình thức kết hợp hình vẽ, chữ

viết, màu sắc, vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống.

Sơ đồ tư duy thực chất là một sơ đồ mở không theo một khuôn mẫu hay tỷ lệ nhất định mà

là cách hệ thống kiến thức tạo ra một tiết học sinh động, đầy màu sắc và thực sự hiệu quả.

Học tập theo sơ đồ tư duy phát huy tính tích cực nhiều nhất trong các giờ ơn tập. Khi học

sinh trở thành chủ thể thành nhân vật trung tâm trong mỗi tiết học, học sinh sẽ trở nên hào

hứng và hăng say hơn trong học tập. Vì lẽ đó, việc tạo lập sơ đồ tư duy rõ ràng, rành mạch

khi áp dụng vào môn học GDCD cần được quan tâm hơn. Đây là những thành phần cấu tạo

18



nên một sơ đồ tư duy, mặc dù chúng có thể được chỉnh sửa tự do theo ý muốn cá nhân:

Sơ đồ tư duy đơn giản chỉ có 2 nhánh chính toả ra từ trung tâm, thì sơ đồ tư duy phức tạp

hoặc đa chủng loại có thể có bao nhiêu nhánh chính cũng được. Trong thực tế, số nhánh

chính hoặc ý chủ đạo trong sơ đồ tư duy đa chủng loại trung bình từ ba đến bảy nhánh. Sở

dĩ như vậy là vì, bộ não bình thường khơng giữ được hơn 7 thơng tin chính trong trí nhớ

ngắn hạn của nó. Do đó học sinh khi học mơn GDCD nên chọn tối thiểu số ý chủ đạo thật

sự có liên quan đến bài học và dùng chúng để liên kết bó thơng tin cho dễ xử lý, giống như

tiêu đề một chương của một cuốn sách do chính bản thân học sinh soạn ra.

Cuối cùng giáo viên phải giúp học sinh củng cố sơ đồ tư duy:

Sau khi tạo lập được một sơ đồ tư duy một cách khoa học nhất mỗi học sinh cần có thời

gian ơn luyện và củng cố vì kết quả nghiên cứu khoa học cho thấy trí nhớ sau khi ơn tập

biến thiên theo một đường cong xác định đối với thời gian.

Bảng đo phần trăm thông tin nhớ lại sau khi học, chúng ta thấy rằng nếu có củng cố thì

hầu như đường biên khơng thay đổi nhưng nếu khơng có q trình củng cố thì hầu như

thơng tin được lưu giữ lại giảm rất rõ rệt.

Vì vậy, khi học sinh bước vào quá trình củng cố bài học, học sinh cần phải nhớ bài học

một cách chủ động để có thể uyển chuyển phân tích những câu hỏi trắc nghiệm của giáo

viên, nếu ghi nhớ thụ động thì sẽ rất dễ quên lại không thể trả lời cho các câu hỏi ứng dụng.

Để ghi nhớ chủ động chuẩn bị cho kỳ thi TNTHPTQG 2109 học sinh phải lên một kế

hoạch ôn tập vào thời điểm nhất định. Bằng cách này học sinh có thể hồn thiện sơ đồ tư

duy, sửa chữa và bổ sung những sai sót, hay củng cố các liên kết đặc biệt quan trọng. Vì

trên thực tế là khi điều tra học sinh các em đều cho rằng ôn bài sớm trước kỳ thi chỉ là vơ

ích vì họ sẽ quên trước khi thi và họ phải học lại từ đầu như vậy nếu giáo viên cho làm bài

kiểm tra họ thường phải bỏ một khoảng thời gian rất lớn để học lại những gì đã học, vì học

sinh không thể nào nhớ được kiến thức cách đây 5 tháng, học sinh trường tôi cho rằng chỉ

nên ôn bài khoảng 4-5 ngày trước ngày thi mơn GDCD. Chính vì thế học sinh không thể

nào ôn được hết bài hoặc chỉ ôn được một lần trước khi thi. Kết quả là học sinh khơng thể

nào đạt được điểm cao vì không hiểu rõ bài và phạm những lỗi bất cẩn đáng tiếc do quá

căng thẳng; việc ôn bài vào phút cuối “nước đến chân mới nhảy” không chỉ ở học sinh

trường tơi mà hầu như nó cũng đươc lặp lại tương tự đối với học sinh các trường khác.

Việc ôn bài đó cần một khoảng thời gian học dài liên tục khơng được nghỉ ngơi, do đó khả

năng ghi nhớ cũng như hiệu quả học tập cũng giảm sút, mệt mỏi, khơng còn hứng thú với

mơn học. Sơ đồ tư duy sẽ giúp cho học sinh củng cố bài học một cách ngắn gọn nhất, ít tốn

19



thời gian nhất, logic nhất và đươc sắp xếp theo một hệ thống bài học rất khoa học từ giáo

viên khơng còn tình trạng loạn kiến thức trong kỳ thi. Nếu học sinh có một kế hoạch ôn bài

hợp lý cùng với sơ đồ tư duy, sẽ rất tiết kiệm thời gian so với cách ôn bài môn GDCD cách

thông thường. Không những thế khi ôn bài nhiều lần học sinh sẽ hiểu bài hơn ghi nhớ

thông tin nhiều hơn và tăng kỹ năng áp dụng kiến thức trong các câu hỏi trắc nghiệm.

Thông thường học sinh có thể hiểu khái niệm và cách giải quyết một vấn đề, nhưng trong

kỳ thi học sinh lại đâm ra lúng túng và phạm lỗi.

Tốt nhất là sau mỗi giờ học, học sinh có thể ơn lại sơ đồ tư duy theo trình tự .

Sau khi ghi chú và ghi chép theo sơ đồ tư duy trong suốt q trình học mơn GDCD

học sinh đã ơn lại chúng ở những thời điểm được đề nghị, học sinh đã thật sự chuẩn bị chu

đáo cho kì thi, tất cả những gì học sinh cần là chuyển kiến thức của bản thân trên sơ đồ tư

duy đáp ứng yêu cầu mà đề thi đưa ra. Hiện nay ở trường tơi giáo viên đã áp dụng tối đa

các hình thức thi trắc nghiệm để có thể kiểm tra tồn diện kiến thức và kỹ năng của học

sinh vì kỹ năng đánh trắc nghiệm là khâu quan trọng, chủ yếu để xác định năng lực nhận

thức của học sinh, từ đó có cơ sở để điều chỉnh q trình dạy và học; là động lực để đổi

mới phương pháp dạy học, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng học sinh trong nhà

trường. Như vậy đối với bản thân học sinh sơ đồ tư duy gợi hứng thú cho người học một

cách tự nhiên, nhờ đó giúp học sinh tiếp thu nhiều hơn và tích cực hơn trong lớp. Sơ đồ tư

duy làm cho bài học ngẫu hứng, sáng tạo và lý thú hơn đối với giáo viên lẫn học sinh. Nhờ

sơ đồ tư duy ghi chép của học sinh trở nên linh hoạt hơn ,trong thời đại mà mọi thứ đều

thay đổi và phát triển nhanh chóng học sinh cần có khả năng đổi mới trong phương pháp

học tập đồng thời bổ sung ghi chú bài giảng một cách dễ dàng, nhanh chóng. Bản thân sơ

đồ tư duy biểu thị nội dung thích hợp dưới hình thức rõ ràng và dễ nhớ nên học sinh có

khuynh hướng đánh các câu trắc nghiệm một cách nhanh chóng và đạt điểm tuyệt đối trong

kỳ thi THPTQG 2019. Ngoài ra ứng dụng sơ đồ tư duy vào học tập và nghiên cứu môn

GDCD đã mang lại cho việc học rất nhiều điều hay: vui nhộn, độc đáo, sáng tạo, dễ nhớ,

kết cấu hợp lý làm giảm bớt những giờ học buồn chán theo kiểu nhồi nhét và ôn tập của thế

hệ học sinh hơm nay từ đó việc đổi mới hình thức thi tốt nghiệp khơng còn là áp lực với

các em và thành tích các em đạt được cũng tăng lên đáng kể. Trường tơi đã và đang áp

dụng hình thức học và ghi chép bằng Sơ đồ tư duy và được các em ủng hộ rất nhiệt tình,

dưới đây là một số Sơ đồ tư duy của học sinh đã và đang áp dụng:



20



21



22



Song song với việc hướng dẫn cho các em sử dụng Sơ đồ tư duy bản thân tôi còn áp dụng

một số phương pháp dạy học tích cực như sau:

* Phương pháp động não: là phương pháp giúp cho học sinh trong một thời gian

ngắn nảy sinh được những ý tưởng hay giả định về một vấn đề nào đó.

Trong mơn giáo dục cơng dân, phương pháp này được dùng để giới thiệu chủ đề

của bài học trên cơ sở so sánh và lựa chọn kết quả trả lời của học sinh hoặc dùng để thu

thập vác phương án giải quyết vấn đề có liên quan đến nội dung bài học đã được nêu ra

trước đó.

Phương pháp động não, hướng đến mục đích phát triển người học những phẩm

chất hoạt động độc lập, đặc biệt là khả năng sáng tạo. Mặt khác kết quả của hoạt động

động não là những ý tưởng, giải pháp mới mẻ của người học.

Phương pháp động não có thể được tiến hành theo trình tự sau:

-



Giáo viên nêu chủ đề hoặc câu hỏi trước lớp hoặc nhóm



-



Đề nghị người học đặt câu hỏi.



-



Thu thập câu hỏi, câu trả lời.



-



Khuyến khích học sinh phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt.



-



Liệt kê tất cả các ý kiến lên bảng hoặc giấy khổ lớn, khơng bỏ sót ý kiến nào,



trừ trường hợp trùng lặp.

-



Phân loại các ý kiến, làm rõ những ý kiến chưa rõ ràng.



-



Tổng hợp ý kiến của học sinh và rút ra kết luận.



+ Ưu điểm của phương pháp động não là:

Giáo viên dễ dàng soạn câu hỏi, dễ thực hiện không tốn kém, đồng thời huy động

được tối đa trí tuệ của tập thể trong q trình tìm kiếm thơng tin của câu trả lời. Tạo được

khơng khí sôi nổi, vui vẻ nhờ thái độ tham gia phản hồi một cách tích cực của người học,

sự di chuyển của giáo viên trong lúc hỗ trợ các nhóm, cá nhân làm việc.

+ Nhươc điểm của phương pháp động não là:

Có thể mất nhiều thời gian nếu lớp học đơng, học sinh thụ động, ít quan tâm, các

ý kiến trả lời có thể nhiều trùng lặp, tản mạn hoặc lạc đề. Hiệu quả của phương pháp động

não chỉ mới dừng lại ở việc cung cấp ý tưởng chứ chưa bồi dưỡng được năng lực tư duy

phân tích, chứng minh hay tổng hợp của học sinh .

23



+ Yêu cầu đối với người giáo viên khi sử dụng phương pháp động não là:

-Phải có bản lĩnh, kinh nghiệm và quản lý được thời gian theo phân phối nội dung:

-Câu hỏi phải ngắn, gọn rõ ràng, không quá rộng hay quá hẹp không nhằm mục đích cung cấp

kiến thức cơ bản mà hướng đế mở mang và đào sâu kiến thức.

-Giáo viên phải chủ động điều khiển buổi học, là người tổng kết câu hỏi và câu trả lời, ghi

tóm tắt kiến thức chuẩn lên bảng hoặc giấy khổ lớn để học sinh theo dõi tiến trình bài học.

---Tiếp tục chuyển ý vào nội dung tiếp theo của bài học.

*



Phương pháp thảo luận nhóm:



Đây là phương pháp hữu hiệu nhất để khuyến khích sự sáng tạo và tích cực tham

gia của mọi thành viên. Học sinh sẽ chủ động chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải

quyết vấn đề được đặt ra, qua đó đạt mục đích dạy học. Học sinh sẽ hưởng ứng, nhiệt tình,

hợp tác, thu được kết quả kích thích tư duy sáng tạo và tạo điều kiện để các em thể hiện

mình.

Phương pháp thảo luận nhóm có thể tiến hành theo trình tự sau:

-



Giáo viên nêu chủ đề, yêu cầu, quy định thời gian thực hiện



-



Chia nhóm từ 4 đến 10 người theo cách ngẫu nhiên hay thuận tiện theo điều



kiện lớp học. Gọi tên nhóm (để tạo bầu khơng khí nhóm tự đặt hay giáo viên chỉ định)

-



Cử trưởng nhóm, thư ký và thực hiện cơng việc của nhóm. Ghi chép (giấy



khổ lớn hay cử người trình bày trước tập thể)

-



Giáo viên tổng kết, bổ sung.



Ưu điểm của phương pháp làm việc nhóm:

Chủ đề được xác định rõ, định hướng nhiệm vụ của nhóm. Đưa ra được giải pháp,

lời kêu gọi hành động từ kết quả hoạt động của nhóm.

Mọi thành viên của nhóm đều phải hoạt động và nhận kết quả đánh giá chung của

giáo viên trên cơ sở kết quả đã đạt được và có sự so sánh với nhóm khác. Kiến thức trở nên

bền vững, bớt tính chủ quan, học sinh biết lắng nghe và phê phán để bảo vệ ý kiến của mình,

của nhóm.

Nhược điểm

Đòi hỏi tốn nhiều thời gian, người học phải rất tập trung và có tinh thần trách nhiệm

với tập thể cao. Thời gian 45 phút của một tiết học là một khó khăn lớn cho sự thành cơng

của phương pháp làm việc nhóm.

24



Nếu tổ chức kém (nhất là cộng thêm lớp học yếu, mất trật tự, học sinh q hiếu động thì thảo

luận nhóm chưa được tập luyện dễ gây hỗn loạn (ngay trong một nhóm hay giữa các nhóm

nhau) dẫn đến học sinh khơng quan tâm, làm việc riêng hay phát sinh sự mâu thuẫn, đối địch và

giận dữ.

Sự hăng hái hay thụ động quá mức của các nhóm sẽ gây khó khăn cho sự quản lý, điều khiển

của giáo viên.

Yêu cầu đối với người giáo viên khi sử dụng phương pháp làm việc nhóm là:

- Giáo viên phải kết nối được ý kiến của các nhóm.

- Là người phân tích, nhận xét (chứ khơng phê phán) ý kiến của các nhóm. Cần

thiết sẽ là người dung hòa các ý kiến của các nhóm trái ngược, xây dựng khối đoàn kết, chỉ ra

định hướng yêu cầu của từng nhóm để khơng sa đà)

- Là người kiểm sốt thời gian, khơng để nội dung bị lặp lại (nhóm thuyết trình,

nhóm khác lắng nghe, bổ sung, trưng bày áp phích, mơ hình) …

- Là người tổng kết thảo luận nhóm, nhận xét và rút kinh nghiệm về kết quả

thảo luận, đáp ứng yêu cầu của bài học, thời gian … và nếu hoạt động nhóm chưa mang lại

kết quả như mong muốn thì phải giúp học sinh sữa các lỗi đã mắc phải để lần thảo luận sau

làm tốt hơn.

- Giáo viên cần trang bị kỹ năng giao tiếp (sự thân thiện, thái độ tôn trọng lịch

sự, sẵn sàng hỗ trợ chia sẻ với tất cả các nhóm).

- Kỹ năng tổ chức, phân công và điều hành.

Bất kỳ phương pháp dạy học tích cực nào cũng có điểm mạnh và mặt hạn chế khơng thể

tránh khỏi, do đó, thường trong một giờ học sẽ có nhiều phương pháp được lựa chọn. Tuy

nhiên, dù lựa chọn phương pháp nào thì người giáo viên vẫn là người chủ đạo bám theo hoạt

động của các nhóm, lựa chọn các phương án tiết kiệm thời gian, nội dung không trùng lặp,

lôi cuốn được sự tham gia của mọi thành viên trong tập thể học sinh .

Dù phương pháp thảo luận nhóm đơi khi khơng mang lại kết quả như mong muốn thì người

giáo viên cũng phải giúp học trò học bài học từ sự khơng thành cơng của mình, đó mới là

điều quan trọng nhất. Đó mới thực sự là vai trò và giá trị của người Thầy.

*Phương pháp đóng vai:

Là phương pháp dạy học tích cực và “đặc biệt” vì đây là phương pháp gây sự chú ý và thu

hút người học tham gia vào bài giảng, tạo bầu khơng khí sơi nổi, sinh động, người dạy và

25



người học trở nên thân thiện, gần gũi, giờ giảng trở nên hiệu quả hơn.

Đây là phương pháp sử dụng lúc mở đầu bài giảng hay neo chốt kiến thức, giúp người dạy và

người học luyện tập ứng xử với mục đích là thực hành trao đổi những vai trò có thực trong

cuộc sống. Giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc, tập trung vào một sự kiện cụ thể mà người học

vừa thực hiện hoặc quan sát. Việc “diễn” khơng phải là phần chính của phương pháp này mà

điều quan trọng là sự thảo luận rút ra nội dung bài học sau phần diễn ấy.

Phương pháp đóng vai có thể được tiến hành theo trình tự sau:

Giáo viên có nêu chủ đề tình huống trước cho các nhóm chuẩn bị hay nêu khi bắt đầu giờ

học, trong đó nêu rõ quy định về thời gian chuẩn bị, thời gian diễn …

Các nhóm thảo luận về công tác chuẩn bị và tiến hành kịch bản của vai diễn.

Lớp thảo luận, nhận xét, thường là bắt đầu từ khả năng diễn xuất, ứng xử của nhân vật trong

tình huống vở diễn nhưng sẽ mở rộng sang vấn đề gắn với bài học giáo viên tổng hợp các ý

kiến và kết luận.

Ưu điểm của phương pháp đóng vai:

Học sinh được rèn luyện thực hành kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ của mình khi thực hành

ứng xử trong thực tiễn.

Bộc lộ khả năng sáng tạo, linh hoạt khi đóng vai (giả trang, thay đổi giọng nói, tính cách theo

nhân vật)

Tạo ra sự tập trung, tính trách nhiệm trong vai diễn của người diễn theo hướng tích cực tự

giác. Khuyến khích các em có khả năng đóng kịch và u thích bộ mơn nghệ thuật này trong

thực tế, định hướng nghề nghiệp tương lai.

Thay đổi thái độ hành vi ứng xử của các em trong thực tế theo hướng tích cực, tự giác. Đó là

những dấu ấn “khai hóa” tâm hồn các em, khơi dậy tình bè bạn mà người dạy có thể làm

được qua vai diễn của học sinh .

Nhược điểm của phương pháp đóng vai:

Phương pháp đóng vai chỉ mang lại hiệu quả thực sự với phòng học, diễn rộng, học sinh

mạnh dạn, kịch bản tốt, có sự chuẩn bị của học sinh và ý kiến trợ giúp của giáo viên - nếu đề

tài được chuẩn bị trước buổi học. Vì đa phần các em đều “nghĩ sao làm vậy”, rất đơn sơ!

Giáo viên sẽ mất nhiều thời gian nếu khơng có kinh nghiệm tổ chức hoặc học sinh quá thụ

động nhút nhát.

Thực tế không có một phương pháp dạy học tích cực nào tối ưu để có thể vận dụng trong

26



suốt một buổi học hay giờ học, do đó tùy vào điều kiện yêu cầu của bài học, đối tượng học,

phương tiện dạy học mà chúng ta có thể sử dụng kết hợp các phương pháp và điều quan trọng

là có sử dụng phương pháp nào thì giáo viên vẫn phải là người chủ đạo, chủ động, dẫn dắt

người học chạm đến tri thức và trở thành những người chủ tri thức tương lai thực sự.

3.Kết quả điều tra khảo sát

3.1.Bằng phiếu điều tra:

Lớp



Năm học



10A4

11A4

12A4



2016-2017

2017-2018

2018-2019



Học sinh hứng thú với tiết học Học sinh chưa hứng thú với tiết

học

70%

30%

85%

15%

90%

10%



3.2.Bằng quan sát trực tiếp:

Khơng khí lớp học rất sôi nổi,học sinh rất chủ động phát biểu xây dựng bài.

Học sinh hứng thú yêu thích tiết học,chủ động tham gia thảo luận nhiệt tình và có hiệu

quả.

3.3.Kiểm tra theo hình thức trắc nghiệm.

97% học sinh làm bài tốt đạt trên điểm TB(trong đó điểm khá ,giỏi đạt 75% ).

C.PHẦN KẾT LUẬN

Việc đổi mới phương pháp theo hướng chủ động tích cực của học sinh phối hợp với sơ đồ tư

duy giúp các em học tập thực sự tốt,các em thực sự hứng thú ,phấn khởi với các sản phẩm,các

sơ đồ tư duy do chính mình tạo ra ,do đó chất lượng bộ mơn được cải thiện nâng cao rõ rệt.

Cụ thể :-Trong kì thi tốt nghiệp THPT quốc gia năm học 2016-2017 :100% học sinh trường

tôi trên điểm trung bình mơn GDCD,điểm bình qn loại giỏi.

-Đợt thi học kì và thi thử tốt nghiệp THPT QG năm học 2017-2018 có 96% học sinh đạt trên

điểm TB.

-Trong kì thi tốt nghiệp THPT quốc gia năm học 2017-2018 hơn 97% học sinh đạt điểm trên

trung bình,trong đó điểm TB chung : 7,33-xếp vào tốp đầu của tỉnh.

Hy vọng những giá trị, những phương pháp, phương tiện dạy học mới mà tôi đã cố gắng áp

dụng sẽ thấm vào học sinh của tôi, trở thành nhân cách, phẩm chất, giá trị làm người, giúp

các em sẽ hình thành thói quen có được những giải pháp khác nhau trong cuộc đời, trở thành

27



người có đức có tài, tránh xa được con đường xấu. Quan trọng hơn sẽ trang bị tốt kiến thức

cho các em tự tin bước vào kì thi tốt nghiệp THPT quốc gia năm học 2018-2019 đạt kết quả

tốt.

Trên đây là kinh nghiệm của bản thân tôi trong quá trình giảng dạy,hi vọng sẽ đóng góp được

phần nào đó cho các bạn đồng môn,đồng nghiệp và rất mong nhận được sự góp ý, chia sẽ

kinh nghiệm của quý đồng mơn,đồng nghiệp để SKKN được hồn thiện hơn và áp dụng vào

thực tế đạt kết quả cao hơn.

Xin chân thành cám ơn!



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Luật giáo dục năm 2005.

2.Sổ tay phương pháp luận dạy học.

3.Kỉ thuật vẽ sơ đồ tư duy trên mạng internet.



28



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

A. giúp xã hội ổn định, trật tự và phát triển.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×