Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b.Những đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực là:

b.Những đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực là:

Tải bản đầy đủ - 0trang

cách của mình, khơng ai có thể làm thay được. Vị trí trung tâm của học sinh trong q trình

học tập cần phải đặt đúng vị trí của nó như đã vốn có. Việc phát huy tính chủ động, tích

cực, khơi dậy tài năng của mỗi một cá nhân học sinh có ý nghĩa khơng phải chỉ hơm nay

mà còn là hành trang cho các em bước vào cuộc sống sau này.

… Làm được điều này chỉ có thể là mọi hoạt động giáo dục - trong đó trọng tâm là việc

dạy học, phải được tiến hành có kế hoạch dưới sự chỉ đạo trực tiếp của người giáo viên.

Thứ hai: Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh .

Kế hoạch học tập, bài giảng phải được thiết kế trước trong giáo án chứ không phải

thực hiện một cách ngẫu hứng, tùy tiện. Người dạy phải thông báo cho học sinh vào cuối

buổi học những công việc cần chuẩn bị cho giờ học kế tiếp, phân công nhiệm vụ rõ ràng,

để người học phải có tâm thế chuẩn bị, tham gia và hợp tác. Trong khi tiến hành giờ học,

người dạy phải linh hoạt thay đổi các hoạt động cho phù hợp với thực tế giờ học và nội

dung bài học, nhằm kích thích người học hoạt động tích cực, tạo sự hưng phấn cho giờ

học. Có như thế, mục tiêu dạy học, bài học mới được đảm bảo thành công.

Thứ ba ,chú trọng rèn luyện phương pháp tự học trong dạy học

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy chúng ta “Về việc học phải lấy tự học làm cốt”.

Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học, khả năng phát hiện và

giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn. Phương pháp tự học hướng đến việc khơi

dậy khả năng suy nghĩ, làm việc, nắm bắt kỷ cương và con đường đi đến kiến thức mới.

Muốn làm được điều này học sinh buộc lòng phải làm việc nhiều hơn với sách vở (giáo

khoa và sách tham khảo), làm bài tập, tự học ở ngoài trường và lớp… kết hợp với sự giúp

đỡ, hướng dẫn của giáo viên bộ mơn. Bồi dưỡng khả năng tự học chính là sự chuẩn bị cần

thiết cho khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn trong việc làm, thực tế sau này của người

học, giúp họ có thể tự tin hòa nhập, tự vượt qua những áp lực, khó khăn, hướng đến tương

lai của bản thân và sự phát triển của tập thể mà họ là thành viên.

Thứ tư: Hoàn thiện học của cá nhân phối hợp với học tập hợp tác tập thể.

Những tri thức mà học sinh khám phá dễ mang tính chủ quan, phiến diện, do vậy

các em cần trao đổi, hợp tác tri thức cá nhân được kiểm nghiệm tăng tính khách quan và

khoa học. Đồng thời tạo thói quen giao tiếp, khả năng thuyết phục, lắng nghe, nói trước

đám đơng … ý thức hợp tác, chia sẻ và tính kỷ luật …

Dạy học thơng qua hợp tác tạo nên quan hệ bình đẳng giữa người học và mơi trường

học tập an tồn là điều kiện để xây dựng tình bạn, tính cạnh tranh lành mạnh, thói quen

chia sẻ, tính trách nhiệm. Xây dựng quan hệ thầy - trò - bạn bè tốt đẹp khơng chỉ lúc còn đi

học mà cả trong cuộc sống và cơng việc sau này.

6



Thứ năm: Kết hợp đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò

Trong q trình dạy học, đánh giá học sinh là rất quan trọng để giáo viên nắm bắt

được thực trạng học tập của học sinh và điều chỉnh việc dạy sao cho phù hợp hơn, đạt kết

quả cao hơn. Với phương pháp dạy học tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh biết tự

đánh giá khả năng, sự hiểu biết của mình để điều chỉnh việc học; giáo viên phải tạo điều

kiện thuận lợi để người học được tham gia, và biết cách đánh giá bản thân. Thơng qua việc

đánh giá khích lệ nhau, nhận ra được ưu điểm và hạn chế của từng cá nhân để khắc phục,

đánh giá việc học tập phải dựa trên tiêu chuẩn văn hóa đánh giá tức là tìm ra được ưu điểm

và đề nghị được giải pháp sửa chữa khuyết điểm… Có làm được điều này thì phương pháp

dạy học tích cực với đặc trưng thứ năm là đánh giá việc học - người học mới thực sự có ý

nghĩa!

Tuy nhiên khi áp dụng các phương pháp dạy học tích cực chúng ta cũng gặp một số

trở ngại như: Lớp học đông không áp dụng được phương pháp mới, người học lười phát

biểu, thụ động, sợ không đủ thời gian, cháy giáo án. Người học thì e dè, ngại làm việc, chỉ

thích nghe ghi, ngại đứng dậy phát biểu trước lớp, sợ thầy,cô áp dụng phương pháp mới,

kiến thức không được cô đọng lại rõ ràng mà thi lại tiến hành theo kiểu học cũ … Để khắc

phục những trở ngại này phải có thời gian để người dạy thực hành và rút kinh nghiệm …

Trước mắt có thể thực hiện những điều sau để có giờ giảng thành cơng như:

Tìm hiểu kỹ về người học, đặc biệt là nhu cầu, mong đợi của họ đối với mơn học

của mình phụ trách để lựa chọn phương pháp phù hợp.

Chuẩn bị kỹ bài giảng: Chọn thông điệp ý nghĩa nhất để chuyển tải nội dung. Tốt

nhất bài giảng nên tuân theo quy tắc số 3: Chia bài giảng thành 3 phần, mỗi phần 3 ý …

cùng với các ví dụ, tư liệu minh họa cụ thể, sinh động.

Giao tiếp với người học: Tôn trọng và là người bạn cùng với thái độ thân thiện, lịch

sự, nhẹ nhàng, sự khuyến khích sẽ cho người thầy rất nhiều cơ hội để mở rộng tâm hồn và

trí tuệ của người học …

Rút kinh nghiệm sau từng giờ giảng. Về nội dung bài giảng, phong cách, ứng xử của

giáo viên … Bằng cách xin nhận xét của học trò qua phiếu khơng ghi tên …Điều cuối

cùng, chúng ta cần nhớ là học phương pháp nhưng không phụ thuộc vào phương pháp. Tất

cả sự thành công của giờ học và nhiều giờ học tiếp nối sẽ được quyết định bởi bản lĩnh, kỹ

năng, kinh nghiệm, năng lực và tấm ḷòng của người giáo viên có duyên với nghề dạy học.

2. Phương pháp dạy học tích cực kết hợp với phương tiện được vận dụng trong

chương trình Giáo dục cơng dân .

Hiện nay có rất nhiều biện pháp để thực hiện phương pháp dạy học tích cực, có thể sử

7



dụng vào tất cả các bài dạy trong chương trình giáo dục cơng dân ở cấp trung học như:

-



Biện pháp kích thích động não.



-



Biện pháp xử lý tạo tình huống.



-



Biện pháp thảo luận nhóm.



-



Biện pháp đóng vai.



-



Biện pháp vấn đáp (đàm thoại)



-



Biện pháp nêu vấn đề.



Không biện pháp nào được coi là tối ưu cho cả một bài học, tiết học. Do đó việc lựa

chọn, kết hợp và sử dụng biện pháp nào là phụ thuộc rất lớn vào vai trò Người thầy – Mục

đích là trao kiến thức, tránh nhàm chán và tạo nên sự yêu thích. “ Dạy học là phải chạm

được vào tâm hồn và trái tim người học”.

Tính tất yếu khách quan của việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong

mơn giáo dục cơng dân .

- Cơ sở triết học: Theo quan điểm triết học Mác Lênin, bản chất con người là tổng

hòa mối quan hệ xã hội. Trong các yếu tố hình thành nên bản chất con người, giáo dục có ý

nghĩa vơ cùng quan trọng. Vì vậy để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực cần

tạo ra hồn cảnh mơi trường tự nhiên và mơi trường xã hội có thể tác động đến con người,

giúp con người được giáo dục theo nhiều phương diện khác nhau, từ hoạt động nhận thức

thực tiễn đến quan hệ ứng xử, điều chỉnh hành vi … Tóm lại là các khả năng hướng đến sự

phát triển toàn diện của người công dân mới theo yêu cầu của xã hội.

Giáo dục cơng dân là mơn học có đặc điểm tri thức mang tính khái qt hóa và trừu

tượng cao. Chương trình giáo dục cơng dân tập trung khá nhiều nội dung liên quan đến các

phân môn khác, chứa đựng kiến thức các môn khoa học khác nhau. Ở trường trung học phổ

thông môn giáo dục công dân trực tiếp trang bị cho học sinh một cách tổng quát về nhận

thức tư tưởng chính trị, đạo đức và ý thức pháp luật. Mục tiêu này hình thành nội dung cơ

bản của sách giáo khoa các cấp học; là môn học được xem là “khó, khơ, khổ” đối với cả

người dạy lẫn người học, do đó việc giáo viên biết sử dụng các phương pháp dạy học tích

cực để đưa những nội dung rất khái quát ấy vào thực tiễn đời sống giúp học sinh tiếp cận,

nắm vững hệ thống kiến thức cơ bản của môn giáo dục công dân để dần dần hình thành

cho bản thân thế giới quan đúng đắn và phương pháp luận khoa học, giúp học sinh nâng

cao hiệu quả quá trình hoạt động nhận thức và thực tiễn của bản thân.

- Cơ sở tâm lý giáo dục học:

Đối với môn giáo dục công dân “mục tiêu dạy người” luôn được xác định là quan



8



trọng nhất, ln ở vị trí hàng đầu trong việc định hướng, phát triển nhân cách, tâm hồn của

học sinh . Mỗi học sinh là một chủ thể của sự phát triển nhân cách, phát triển xã hội. Trong

giai đoạn hiện nay vì ngun nhân khác nhau, tình trạng suy thối đạo đức, lối sống của

một bộ phận không nhỏ học sinh , học sinh đã đặt ra cho xã hội và ngành giáo dục (đặc biệt

là ở bộ môn giáo dục cơng dân) phải có những biện pháp, giải pháp để góp phần điều chỉnh

những suy nghĩ, nhận thức, hành vi lệch chuẩn đó.

Với những kết quả nghiên cứu tâm sinh lý và điều tra xã hội học gần đây cho thấy ở

lứa tuổi trung học, học sinh không thỏa mãn với vai trò người tiếp thu thụ động, chấp nhận

giải pháp có sẵn mà các em có ham muốn, một yêu cầu là được lĩnh hội độc lập các tri thức

và được phát triển kỹ năng cá nhân. Đó là một yêu cầu đặt ra cho ngành giáo dục nói chung

và mơn giáo dục cơng dân nói riêng. Chỉ có thay đổi phương pháp dạy học tích cực mới có

thể phát huy những điểm mạnh và hạn chế những điểm yếu về đặc điểm tâm sinh lý của

học sinh bậc trung học, mang lại hiệu quả dạy học cao hơn, tạo sự yêu thích, thoải mái cho

cả người dạy lẫn người học.

Luật giáo dục, điều 28, khoản 2, 2005 chỉ rõ “Phương pháp giáo dục phổ thơng

phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động, sáng tạo của học sinh ; phù hợp với đặc

điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc

theo nhóm, rèn luyện kỹ năng, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình

cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh ”.

Do vậy, cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới tạo thói quen chủ động học tập,

phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo. Người học sinh được rèn luyện, tu

dưỡng có thể tự tin, nhạy bén trước những thay đổi của cuộc sống, cuộc đời, giúp ích, giúp

sức cho bản thân học sinh là sự phát triển của xã hội.

Chương trình giáo dục cơng dân với tên gọi “Công dân với pháp luật”, đây là sự phát

triển tiếp nối phần pháp luật ở môn GDCD cấp trung học cơ sở, cung cấp những hiểu biết

cơ bản về bản chất, vai trò, vị trí của pháp luật nhằm giúp học sinh chủ động,tự giác điều

chỉnh hành vi của mình, đánh giá được hành vi của người khác theo quyền và nghĩa vụ của

người công dân trong xã hội dân chủ và công bằng.

Nhiệm vụ môn GDCD là nhận biết được thế giới quan,nhân sinh quan,vấn đề dạo

đức,kinh tế -xã hội –chính trị ,vai trò và giá trị cơ bản của pháp luật đối với sự tồn tại và

phát triển của mỗi công dân xã hội và nhà nước. Hiểu được một số nội dung của pháp luật

liên quan đến việc thực hiện và bảo vệ quyền bình đẳng - tự do - dân chủ và phát triển của

công dân trong đời sống.

Nội dung học phần lớn đã gắn kết thực sự với thực tế đời sống xã hội. Mục đích của

9



dạy học là nhằm tạo ra sự nhất quán giữa nhận thức và hành động, lời nói và hành vi.

Do vậy, việc người giáo viên sử dụng các phương pháp dạy học tích cực chính là những

thực hành bước đầu để gắn lý thuyết về những chuẩn mực người công dân cần đạt tới với

đời sống sinh động được kiểm chứng và khẳng định. Có thế nội dung bài học khơng còn

là những tri thức xa xơi, khơ khan mà là những kiến thức, tình huống, bài học từ cuộc

sống sinh động gắn bó mà các em có thể nhìn thấy trong cuộc sống hàng ngày.

Ngồi ra trong q trình dạy học bản thân tơi đã cung cấp cho các em những

phương pháp học tập tích cực từ những phương pháp tích cực học tập từ nước ngoài, chẳng

hạn như:áp dụng Sơ đồ tư duy trong quá trình học:

Sơ đồ tư duy ra đời dựa trên tốc độ tư duy của não bộ và quá trình tâm lý của trí nhớ

nên rõ ràng nó là phương pháp tối ưu nhất giúp cho học sinh học tập tốt hơn, tích cực hơn

đối với mơn GDCD . Sơ đồ tư duy là phương tiện tốt nhất để nắm bắt, phân tích và phổ

biến thơng tin khi đó học sinh sẽ khơng còn vấp phải những khó khăn trong việc học hành,

tư duy, sáng tạo và sử dụng trí nhớ. Vì vậy sẽ nắm được những kiến thức căn bản của mơn

học GDCD từ đó trong mỗi học sinh sẽ tự tin hơn, hứng thú hơn ; năng lực tập trung, tư

duy, trí nhớ sẽ đạt đến trình độ cao nhất gặt hái đươc những thành công trong học tập

chuẩn bị thật tốt cho kì thi TNTHPTQG 2019.

Vận dụng Sơ đồ tư duy nâng cao chất lượng môn học, giải quyết triệt để những khó

khăn vướng mắc mà học sinh gặp phải khi học tập và nghiên cứu mơn GDCD thì trước hết ta

cần hiểu rõ ngun nhân dẫn đến những thực trạng tiêu cực của học sinh nhiều năm qua như:

Ghi chép thụ động

Môn GDCD 12 là một môn học với hệ thống kiến thức môn GDCD có 4 chủ đề

chính: Pháp luật cơ bản, quyền bình đẳng, quyền tự do dân chủ, pháp luật với sự phát triển

của đất nước. Môn GDCD lớp 11 với hệ thống kiến thức là Các vấn đề kinh tế-chính trị-xã

hội.Khối lượng kiến thức cho 1 tiết học là vô cùng lớn đòi hỏi học sinh phải hoạt động một

cách tích cực, phải có kế hoạch chuẩn bị bài một cách cẩn thận trước khi đến lớp mới có

thể tiếp nhận tất cả các thông tin mà giáo viên truyền đạt. Nhưng sau khi điều tra thực tế tôi

nhận thấy rằng có đến hơn 70% học sinh nhận định rằng nếu có đọc bài trước vào lớp cũng

sẽ rất khó để có thể hiểu một cách tường tận, nắm bắt thơng tin một cách chính xác những

gì mà giáo viên nói, điều bất cập ở đây chính là học sinh còn giữ cách học tập của những

năm học THCS, việc chuẩn bị bài của học sinh chỉ là việc “làm cho có”, thậm chí chưa

được xem trọng, học sinh thường có tâm lý ngại đọc sách, tìm hiểu thơng tin trước khi lên

lớp, học sinh đọc nhưng không neo giữ lại thông tin một cách chủ động mà chỉ giới hạn ở

việc tóm tắt sách giáo khoa, bài giảng, những ý tưởng khơng phải là của mình, chính học

10



sinh đã tự đẩy bản thân mình rơi vào thế bị động. Trong q trình giảng dạy học sinh lớp

12 , tơi đưa ra yêu cầu trong vòng 30 phút các em học sinh phải chuẩn bị một bài trước khi

lên lớp, với những câu hỏi được đưa ra sau khi đọc và tóm tắt sách giáo khoa, học sinh

tham gia được dùng nhiều loại giấy, bút màu để đưa ra những kiến thức mà mình chuẩn bị

được, yêu cầu là bản ghi chú có thể giúp học sinh tìm ra nhanh những thơng tin cần thiết đã

đọc để có thể trả lới nhanh những câu hỏi mà tôi đã sắp đặt, những câu hỏi mà tôi đặt ra chỉ

là những định nghĩa có sẵn trong sách giáo khoa nhưng khi trả lời học sinh thường mất rất

nhiều thời gian cho việc tìm kiếm những thơng tin mà mình đã đọc qua, điều đó gây mất

hứng thú và giảm động cơ học tập cho học sinh, đa số đều rất lúng túng khi tơi đưa ra

những câu hỏi mang tính chất lý thuyết. Ở đây chúng ta thấy rằng học sinh thật sự chưa có

kỹ năng ghi chú một cách hiệu quả những gì mình đã chuẩn bị, lối ghi chú thụ động này

làm hạn chế khả năng học hỏi và tiếp nhận thông tin của học sinh rất nhiều.

Việc ghi chú không chỉ dừng lại ở việc ghi chép, tóm tắt những gì mình đã đọc mà khi

lên lớp học sinh cũng khơng quan tâm đến việc mình phải ghi chép bài như thế nào để có

thể dễ dàng tìm lại, xem lại, đó thật sự làm hạn chế kiến thức mà mỗi học sinh cần đạt khi

lên lớp, có hơn 90% học sinh cố gắng ghi chép tất cả những gì khi giáo viên soạn giảng và

ghi bảng, ngay cả khâu tiếp nhận thông tin học sinh cũng không chủ động thì việc xử lý

thơng tin là một điều rất khó khăn, học sinh cố gắng ghi chép nhưng đa số đều khơng đọc

lại mà nếu có đọc lại thì cũng khơng nhớ hết được những gì mà giáo viên đã giảng, tựu

chung lại cách ghi chép hay ghi chú của học sinh thật sự có vấn đề, qua tiếp xúc và điều tra

bằng bảng hỏi tôi nhận thấy rằng ngay từ lối ghi chú học sinh đã không tổ chức được các ý

tưởng của riêng bản thân học sinh, không có gì sáng tạo ngồi bài giảng trên slide chiếu và

bài giảng của giáo viên; tổng hợp lại có 3 lối ghi chú được 95% học sinh áp dụng đó chính

là:

Lối dùng câu hoặc tường thuật, đơn giản là ghi chú nội dung cần lĩnh hội ở dạng

tường thuật, ghi chép tất cả những gì thấy được, nghe được từ giáo viên, có những ý có sẵn

trong sách giáo khoa vẫn ghi chép lại làm mất rất nhiều thời gian.

Lối liệt kê, là ghi lại các ý tưởng theo tuần tự xuất hiện của bài giảng hay sách giáo

khoa có sẵn

Lối dàn ý đánh thứ tự bằng số hay alphabet, là ghi chú theo kiểu xâu chuỗi, phân cấp

nhóm chính và nhóm con.

Các lối ghi chú này thật sự khơng tận dụng hết các công cụ của lớp vỏ não- khả năng

tư duy thật sự của con người, vì nó bỏ qua các thành phần thiết yếu trong hoạt động tư duy

tồn diện nhằm đưa kiến thức của bộ mơn GDCD thấm nhuần vào tư duy của học sinh giúp

11



học sinh có thể lĩnh hội được kiến thức để đánh những câu trắc nghiệm thật tốt , những

thành phần thiết yếu ấy như: nhịp điệu thị giác, màu sắc, hình ảnh, hình dung, kích thước,

đặc biệt là liên kết… ảnh hưởng rất lớn đến q trình tư duy mơn học cho học sinh vì thế

tất nhiên cũng khơng ngoại lệ những học sinh tham gia cộng tác đều cảm thấy rất khó khăn

tất cả đều cảm thấy “ngán ngẩm”, “cực hình”, “đau đầu”, “phí thời gian”, “gò bó”,

“chán”… Với những tư tưởng như thế này thì thật khó có thể học tốt môn học GDCD.

Chúng ta thấy rằng việc học chỉ bằng lối ghi chép một cách thụ động để xử lý thông

tin là ta đã đang và chỉ sử dụng một phần của não bộ. Nguyên nhân là các khả năng chuyên

dụng của bán cầu não không thể tương tác với nhau để tạo ra những vòng xốy hoạt động

của tư duy, chỉ có ghi chép mà khơng tư duy tức là chúng ta đang đẩy tình trạng não đến

nguy cơ khước từ và bỏ quên vì những bất lợi mà lối ghi chép thụ động mang lại như:

Lãng phí thời gian

Một điều đáng lo ngại của học sinh khi học môn GDCD là ghi chép dẫn đến lãng phí thời

gian rất nhiều; khi ghi chú như vậy buộc học sinh phải đọc đi đọc lại những ghi chú khơng

thật sự cần thiết; có khi khơng trả lời được vào chủ đề mà các câu hỏi trắc nghiệm đã đưa

ra.

Khơng kích thích sự sáng tạo trong mơn học

Bản chất của lối trình bày tuần tự trong bản ghi chép hay ghi chú thơng thường làm cản trở

não tìm các mối liên kết, chống lại hoạt động sáng tạo và ký ức. Hơn nữa đối diện với các

bản ghi chú theo lối liệt kê, đa số học sinh đều không thể tư duy những câu trắc nghiệm

mang tính bao quát.

Như vậy ngay từ lối ghi chép của học sinh khi học môn GDCD đã khá thụ động trước việc

tiếp thu môn học, càng ghi chép nhiều nhưng càng không hiệu quả và dẫn đến tình trạng là

càng ngày học sinh càng mất tự tin vào năng lực bản thân, đánh mất sự ham học hỏi hiển

nhiên vốn có của học sinh, nỗ lực nhưng khơng có kết quả khiến học sinh dễ rơi vào tình

trạng buồn chán, thất vọng. Bằng chứng là các em học sinh rất lười học bài thậm chí là

khơng thèm học bài và khơng hồn thành hết tất cả các câu hỏi trắc nghiệm mà giáo viên đưa

ra.

Nhưng khi ghi chép hay ghi chú bằng sơ đồ tư duy ghi chú sẽ trở nên chủ động và thuận lợi

hơn cho người học. Nó có thể khắc phục bất lợi trong kiểu ghi chú thông dụng hiện nay,

chúng ta sẽ thấy những ưu điểm của sơ đồ tư duy như tiết kiệm thời gian hơn vì chỉ ghi chú

các từ liên quan, chỉ đọc các từ liên quan, thời gian ôn bài khi ghi chép bằng sơ đồ tư duy tiết

kiệm đến 90% lối ghi chú thụ động thơng thường; nhanh chóng đáp ứng nhu cầu tương tác

trong dạy học cho giáo viên nhờ nhanh chóng tìm ra các từ khố trong một rừng chữ dơng

12



dài. Hơn nữa lối ghi chép bằng sơ đồ tư duy là một lối ghi chép chủ động là vì cải thiện sức

sáng tạo và trí nhớ, nhờ khả năng tập trung tức thời những từ khoá thiết yếu,nhờ những mối

liên kết mạch lạc, tối ưu giữa các từ khố. Khơng giống như với các bản ghi chú tuần tự đơn

điệu, tẻ nhạt, não dễ dàng tiếp thu và ghi nhớ với những sơ đồ tư duy kích thích thị giác, đa

sắc và đa chiều hơn. Trong quá trình thực hiện sơ đồ tư duy, chúng ta luôn bắt gặp các cơ hội

khám phá tìm hiểu, tạo điều kiện cho dòng chảy tư duy liên tục bất tận.

Sơ đồ tư duy là một kỹ thuật họa hình đóng vai trò là chiếc chìa khóa vạn năng để

khai phá tiềm năng của bộ não. Vì vậy việc áp dụng sơ đồ tư duy để cải thiện tình hình học

tập, tăng khả năng tư duy môn GDCD là một vấn đề tất yếu nhằm nâng cao chất lượng học

tập, tăng cường tinh thần tự học cho các em học sinh, chuẩn bị những hành trang thật tốt

cho các em bước vào kỳ thi thật nghiêm túc và hiệu quả.

Lập sơ đồ tư duy (hoặc sơ đồ ý tưởng) là việc bắt đầu từ một ý tưởng trung tâm và

viết ra những ý khác liên quan tỏa ra từ trung tâm. Bằng cách tập trung vào những ý tưởng

chủ chốt được viết bằng từ ngữ của học sinh, sau đó tìm ra những ý tưởng liên quan và kết

nối giữa những ý tưởng lại với nhau hình thành nên một sơ đồ tư duy. Tương tự, nếu học

sinh lập một sơ đồ kiến thức cho từng chương của mơn GDCD , nó sẽ giúp học sinh hiểu

và nhớ những thông tin mới và nắm kiến thức sâu hơn.

Ý tưởng của sơ đồ tư duy là suy nghĩ sáng tạo và liên kết bằng một cách thức phi

tuyến tính. Có rất nhiều thời gian để chỉnh sửa thông tin sau này nhưng ở bước đầu tiên,

việc đưa mọi khả năng vào sơ đồ là rất quan trọng. Đôi khi một trong những khả năng

tưởng như là không thể ấy lại trở thành ý tưởng chủ chốt đưa học sinh đến kiến thức đó, cụ

thể:

Vài học sinh phát hiện rằng sử dụng những kí tự viết hoa sẽ thu hút các em hơn chỉ

chú ý vào những điểm chính. Chữ viết hoa cũng dễ đọc hơn trong một sơ đồ. Tuy nhiên,

học sinh có thể viết vài ghi chú, giải thích bằng chữ viết thường. Một số học sinh làm thế

để khi cần xem lại bản đồ tư duy một thời gian sau, trong lúc số khác lại dùng để ghi lại

những đánh giá, phê bình.

Hầu hết học sinh sau khi tôi đưa ra những sơ đồ tư duy mẫu của từng chương đều

thấy tiện dụng khi lật ngang trang giấy và vẽ sơ đồ tư duy của họ theo chiều ngang. Đặt ý

tưởng hoặc chủ đề chính vào chính giữa trang giấy, ta sẽ có có không gian tối đa cho những

ý khác tỏa ra từ trung tâm; sau khi đã tạo dựng ảnh trung tâm và các nhánh chính sơ đồ tư

duy cho phép học sinh đưa ra bất kỳ ý tưởng nào có trong đầu và những ý mà giáo viên

nêu, các dòng ý tưởng đều tuôn trào một cách tự nhiên và điều tất nhiên học sinh sẽ dễ

dàng nắm bắt; ví dụ như khi nói đến Pháp luật sẽ có các từ khóa như “quy tắc xử sự

13



chung”- “Nhà nước ban hành”-“đảm bảo”- “Quyền lực Nhà nước” nhờ những liên kết

có trong sơ đồ tư duy mà học sinh có thể dễ dàng nhớ được “Định nghĩa Pháp luật”.

Ví dụ: Nhìn vào Sơ đồ tư duy bên dưới các em có thể dễ dàng đánh chính xác được

một số câu hỏi trắc nghiệm như:



14



15



Câu 1. Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành và được đảm bảo

thực hiện bằng:

A. Ý chí của Nhà nước .



B.Sức mạnh vũ lực của Nhà nước.



C.Sức mạnh quyền lực của Nhà nước.



D.Quy định của Nhà nước.



Câu 2. Sức mạnh đặc trưng của pháp luật là

A. Tính thuyết phục.



B. Hình phạt.



C.Quyền lực.



D.Tính cơng bằng.



Câu 3. Mỗi quy tắc xử sự được thể hiện thành

A.một quy phạm pháp luật.



B. một số quy định pháp luật.



C.nhiều quy định pháp luật.



D.nhiều quy phạm pháp luật.



Câu 4. Đặc trưng nào của pháp luật đòi hỏi ngôn ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm pháp

luật phải chính xác ,phổ thơng và cách diễn đạt phải rõ ràng,dễ hiểu?

A. Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức.

B. Tính quyền lực, bắt buộc chung.

C. Tính quy phạm phổ biến.

D. Tính nhân văn ,cao cả.

Câu 5. Đặc trưng nào sau đây phân biệt sự khác nhau giữa đạo đức và pháp luật?

A. Tính quy phạm phổ biến.

B. Tính quyền lực, bắt buộc chung.

C. Tính xác định chặt chẽ về hình thức.

D. Tính thực tiễn xã hội.

Câu 6. Pháp luật vừa mang bản chất của giai cấp vừa mang bản chất của

A. xã hội.



B. kinh tế.



C.văn hóa.



D.chính trị.



Câu 7. Pháp luật nước ta mang bản chất của giai cấp nào?

A. cơng nhân.



B.nơng dân.



C.tầng lớp trí thức.



D.cầm quyền.



Câu 8. Pháp luật mang bản chất xã hội vì pháp luật bắt nguồn từ

A. xã hội.



B.chính trị.



C.kinh tế.



D.đạo đức.



Câu 9. Các quy phạm pháp luật bắt nguồn từ thực tiễn

A.đời sống xã hội

C.phát triển kinh tế .



B.đời sống của nhân dân

D.phát triển của xã hội.



Câu 10:Pháp luật do Nhà nước ta xây dựng và ban hành thể hiện ý chí,nhu cầu và lợi ích

của:

A.Đa số nhân dân. B.Tất cả mọi người. C.Đảng Cộng sản. D.Giai cấp công nhân.



16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b.Những đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực là:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×