Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đối với giáo viên

Đối với giáo viên

Tải bản đầy đủ - 0trang

hoạt động học của học sinh để giúp cho quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh

hiệu quả hơn.

Thêm vào đó, hầu hết giáo viên đã quen hoặc là đã có giáo án sẵn cho các tiết

dạy Reading, Speaking, Listening, Writing, Language focus theo từng bài (Unit)

như trong sách giáo khoa và phân phối chương trình. Vì vậy, một số giáo viên

ngại phải gom bài, gom tiết, soạn lại giáo án và thay đổi phân phối chương trình.

2. Đối với học sinh.

Việc tiếp nhận kiến thức theo từng chuyên đề dạy học khơng còn là điều mới mẻ

với học sinh. Hầu hết học sinh học ở trong các sách luyện thi, ở những bài giảng

của các trung tâm luyện thi online hoặc là các buổi học bồi dưỡng kiến thức ở

trường. Chủ yếu là học theo kiểu thầy nói- trò nghe, thầy giảng- trò hiểu, thầy

giao bài tập- trò thực hiện cá nhân. Thông thường, ở những trường hợp này, học

sinh nhận được một khối lượng kiến thức lớn của chuyên đề từ cơ bản đến nâng

cao, các dạng bài tập cũng rất đa dạng, tuy nhiên 99% là để phục vụ cho các bài

kiểm tra và các kì thi.

Năm học trước, theo phương pháp dạy thông thường, phần Language focus của

bài 9 (Unit 9) được dạy vào tiết 57 và phần Language focus của bài 10 (Unit

10)- Tiếng Anh 11- hệ 7 năm được dạy vào tiết 64 theo phân phối chương trình

hiện hành, 2 tiết này cùng dạy về “Relative clauses”. Kết quả đạt được qua bài

kiểm tra 30 phút như sau:

Tổng số hs

120



Giỏi

(X ≥ 8)

SL

Tỷ lệ

10

8,3%



Khá

(6,5≤ X < 8)

SL

Tỷ lệ

25 17,86%



TB

(5 ≤ X < 6,5)

SL

Tỷ lệ

66

55%



Yếu

(X < 5)

SL Tỷ lệ

19 15,8%



(Ghi chú: Học sinh: hs, Số lượng: SL, X:số điểm học sinh đạt được)

Với một chuyên đề ngữ pháp quen thuộc, thì kết quả trên vẫn chưa khả quan. Do

đó, vào năm học 2018- 2019, tơi đã ứng dụng phương pháp chuyên đề dạy học ở

một số tiết, bài, kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác để làm tăng

hiệu quả của việc dạy và học tiếng Anh.

II.3. NỘI DUNG

II.3.1. QUI TRÌNH XÂY DỰNG CHUYÊN ĐỀ DẠY HỌC:

Mỗi chuyên đề dạy học phải giải quyết trọn vẹn một vấn đề học tập. Vì vậy, việc

xây dựng mỗi chuyên đề dạy học cần thực hiện theo quy trình như sau:

1. Xác định vấn đề :

Xác định các nội dung kiến thức liên quan với nhau được thể hiện ở một số

bài/tiết hiện hành, từ đó xây dựng thành một vấn đề chung để tạo thành một

chuyên đề dạy học đơn môn. Tùy nội dung kiến thức; điều kiện thực tế của nhà

5



trường; năng lực của giáo viên và học sinh, có thể xác định một trong các mức

độ sau:

Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề. Học sinh thực

hiện cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên. Giáo viên đánh giá

kết quả làm việc của học sinh.

Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết vấn

đề. Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của giáo viên khi

cần. Giáo viên và học sinh cùng đánh giá.

Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề. Học sinh

phát hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết, giải pháp và lựa

chọn giải pháp. Học sinh thực hiện giải pháp để giải quyết vấn đề. Giáo viên và

học sinh cùng đánh giá.

Mức 4: Học sinh tự phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình

hoặc cộng đồng, lựa chọn vấn đề cần giải quyết. Học sinh giải quyết vấn đề, tự

đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của giáo viên khi kết thúc.

2. Xây dựng nội dung chuyên đề:

Căn cứ vào tiến trình sư phạm của phương pháp dạy học tích cực được sử dụng

để tổ chức hoạt động học cho học sinh, từ tình huống xuất phát đã xây dựng, dự

kiến các nhiệm vụ học tập cụ thể tiếp theo tương ứng với các hoạt động học của

học sinh, từ đó xác định các nội dung cần thiết để cấu thành chuyên đề.

Nội dung chuyên đề bao gồm:



TÊN CHUYÊN ĐỀ:______________

 Nội dung kiến thức:

Các tiết, mục, bài nào trong SGK có cùng nội dung giảng dạy

VD: Language focus, Unit 1+ Unit 2 (SGK tiếng Anh 10)

 Thời lượng: bao nhiêu tiết

 Tiết theo PPCT: (Có PPCT kèm theo) nếu đưa vào chương trình chính

khóa

 Nội dung kiến thức: Xác định rõ mỗi tiết dạy những đơn vị kiến thức nào

 Thời gian: Tuần/tháng…, HK 1

 Người thực hiện:

3. Xác định chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ theo chương trình hiện hành và

các hoạt động học dự kiến sẽ tổ chức cho học sinh theo phương pháp dạy học

tích cực, từ đó xác định các năng lực và phẩm chất có thể hình thành cho học

sinh trong chun đề sẽ xây dựng.

* Các năng lực cần hình thành và phát triển:

- Tự học sáng tạo, phát triển và giải quyết vấn đề

- Giao tiếp và hợp tác

- Sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông

6



4. Xác định các phương pháp và phương tiện dạy học.

Tùy theo nội dung kiến thức, kỹ năng của mỗi chủ đề, giáo viên xác định các

phương pháp dạy học phù hợp, có hiệu quả và tiết kiệm thời gian như:

- phương pháp đàm thoại

- phương pháp thảo luận nhóm

- phương pháp dạy học theo dự án

- phương pháp sơ đồ tư duy

...

Đối với phương tiện dạy học, giáo viên cần linh hoạt trong việc sử dụng phương

tiện sao cho phù hợp với nội dung, mục tiêu, đối tượng, phương pháp sư phạm.

Một số phương tiện dạy học như: Tranh ảnh, sơ đồ tư duy, áp phích, biểu đồ,

bảng vẽ, âm nhạc, phim thuyết minh...

5. Xác định và mô tả mức độ yêu cầu (nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp,

vận dụng cao) của mỗi loại câu hỏi/bài tập có thể sử dụng để kiểm tra, đánh giá

năng lực và phẩm chất của học sinh trong dạy học

6. Biên soạn các câu hỏi/bài tập cụ thể theo các mức độ yêu cầu đã mô tả để sử

dụng trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học và kiểm tra, đánh giá, luyện

tập theo chuyên đề đã xây dựng.

7. Thiết kế tiến trình dạy học chuyên đề thành các hoạt động học được tổ chức

cho học sinh có thể thực hiện ở trên lớp và ở nhà, mỗi tiết học trên lớp có thể chỉ

thực hiện một số hoạt động trong tiến trình sư phạm của phương pháp và kĩ

thuật dạy học được sử dụng. Trong chuỗi hoạt động học, đặc biệt quan tâm xây

dựng tình huống xuất phát.

II.3.2. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIÚP LÀM TĂNG HIỆU QUẢ CÁC

TIẾT DẠY CHUYÊN ĐỀ DẠY HỌC.

Như đã nói ở trên, chuyên đề dạy học, hay dạy học theo chủ đề là sự tích hợp

kiến thức. Như vậy, thay vì học cùng một nội dung ngữ pháp ở những bài (unit)

khác nhau, cách xa nhau, thì giờ đây học sinh sẽ được học liền mạch. Phương

pháp này sẽ giúp cho giáo viên và học sinh tiết kiệm được thời gian cho những

hoạt động lặp lại, thực hiện thêm những nhiệm vụ hoạt động mới, lĩnh hội được

nhiều kiến thức hơn và có cơ hội ứng dụng vào thực tiễn nhiều hơn.

Tuy nhiên, khi dạy và học theo chuyên đề dạy học, khối lượng kiến thức cần

lĩnh hội khá nhiều, do đó giáo viên cần xác định những phương pháp giảng dạy

phù hợp và hướng tới những phương pháp giảng dạy tích cực, giúp cho giờ học

trở nên sinh động, hấp dẫn, tạo cơ hội cho người học được làm việc một cách

chủ động, sáng tạo.



7



Sau đây, tôi xin được giới thiệu một số phương pháp dạy học tích cực, phù hợp

với các tiết chuyên đề dạy học.

1. Phương pháp tổ chức hoạt động theo nhóm nhỏ trong các tiết dạy và học

theo chuyên đề.



Phương pháp làm việc nhóm là phương pháp giảng dạy tích cực. Ở đó người dạy

học thành lập các nhóm nhỏ từ 3 đến 6 học sinh. Mỗi thành viên trong nhóm vừa

có nhiệm vụ học tập, vừa có nhiệm vụ chia sẻ và giúp đỡ các học sinh khác hoàn

thành nhiệm vụ học tập.

Thực tế, nhiều giáo viên vẫn còn e ngại phương pháp học tập theo nhóm vì

những ngun nhân sau:

Thứ nhất, lớp quá đông (40-45 học sinh mỗi lớp ở cấp THPT), khiến cho giáo

viên không thể bao quát hết được các nhóm.

Thứ hai, hoạt động nhóm gây ồn ào.

Thứ ba, khi hoạt động nhóm, chỉ có học sinh khá, giỏi hoạt động, còn những học

sinh khác chỉ ngồi nhìn, nghe.

Tuy nhiên, những điểm bất lợi trên quá nhỏ bé so với những hiệu quả mà

phương pháp hoạt động nhóm đem lại, quan trọng là cách tổ chức và quản lý của

8



giáo viên. Với kinh nghiệm của tơi, thì sau khi giao nhiệm vụ học tập và thời

gian thực hiện, tôi sẽ báo trước cho các nhóm là sẽ khơng gọi những học sinh

giỏi mà chỉ gọi những bạn yếu, trung bình, khá. Mỗi nhóm gọi 1 học sinh, nhóm

nào có học sinh trả lời tốt nhất thì cả nhóm sẽ được điểm cộng hoặc phần

thưởng. Bằng cách này, tôi đã kích thích được tính cạnh tranh ở mỗi nhóm và

mỗi học sinh được gọi lên bảng, giúp cho các bạn có động lực học tập hơn.

Quy trình các bước trong dạy học hợp tác nhóm :

Bước 1: Chia nhóm

Số lượng thành viên trong mỗi nhóm phụ thuộc vào :

+ Nhiệm vụ bài học cũng như các thiết bị phục vụ cho hoạt động nhóm.

+ Thời gian hoạt động nhóm nhỏ: Thời gian ít nhóm nhỏ sẽ có hiệu quả hơn

nhóm lớn vì trong nhóm nhỏ trách nhiệm của cá nhân cao hơn, mất ít thời gian

khi di chuyển.( Theo kinh nghiệm của các chun gia phương pháp dạy học thì

nhóm nhỏ có từ 2 dến 6 học sinh là hiệu quả nhất ).

Học sinh phải chủ động hình thành nhóm học tập khẩn trương theo sự phân chia

của giáo viên.

Bước 2: Giao nhiệm vụ

Nhiệm vụ của từng nhóm phải được giao cụ thể. Xác định rõ mục tiêu về kiến

thức và kỹ năng mà các nhóm cần đạt được.

Quy định thời gian làm việc nhóm.

Giáo viên dự tính thời gian hoạt động nhóm cho thích hợp, đủ để học sinh di

chuyển và thảo luận.

Yêu cầu về cách thức làm việc theo nhóm.

Yêu cầu về cách thể hiện kết quả: viết,vẽ sắm vai…

Giáo viên có thể hỏi học sinh đã hiểu rõ nhiệm vụ của mình chưa.

Về phía học sinh:

+ Sau khi nhận nhiệm vụ, các học sinh cần tích cực chủ động nghiên cứu, tìm tói

để lập dàn ý trả lời.

+ Phải xác định nội dung trả lời, dựa vào thông tin nào trong SGK, hay các

phương tiện khác: tranh ảnh, tài liệu bổ sung…

Bước 3: Làm việc trong nhóm

Giáo viên phân cơng cơng việc cho từng thành viên, nhóm đầy đủ thường có các

vai:

Người giữ thời gian có nhiệm vụ báo cáo cho cả nhóm biết bao nhiêu thời gian

đã trôi qua, để điều chỉnh thời gian cho hợp lý với nhiệm vụ được giao.

Thư ký có nhiệm vụ ghi chép hết những câu trả lời hoặc ghi vắn tắt hết ý chính

những cuộc thảo luận. Trước khi ghi thư ký phải đảm bảo rằng tất cả các thành

viên trong nhóm đều đã đồng ý.

Người động viên có nhiệm vụ khuyến khích và nhắc nhở tất cả các thành viên

trong nhóm tham gia đóng góp ý kiến cho buổi thảo luận, có thể hỏi họ đang

9



nghĩ gì, thậm chí nhắc nhở một cách khéo léo “Chúng tôi chưa được nghe ý kiến

của bạn”.

Người kiểm tra phải đảm bảo rằng tất cả các thành viên đã hiểu và đồng ý với

những vấn đề mà cả nhóm đang bàn bạc. Phài lưu ý là không được phép bỏ qua

những dấu hiệu, ngôn ngữ mà mọi người dễ bị nhầm lẫn hoặc có thắc mắc, có

thể u cầu ai đó giải thích rõ ý kiến của họ.

Người tóm tắt có nhiệm vụ tóm lược những gì đang được thảo luận, phải đảm

bảo rằng các thành viên đều đồng ý với các ý kiến đã nhất trí.

Người báo cáo có nhiệm vụ thơng báo hay truyền đạt lại cho toàn lớp kết quả

làm việc của nhóm. Họ có thể thay mặt nhóm giải thích, làm rõ những câu hỏi

của mọi người về cơng việc mà họ đã làm.

Người đảm bảo những công việc về động não, họ có nhiệm vụ nhắc nhở các

thành viên không được thảo luận trong khi các thành viên đang suy nghĩ.

Người quan sát nhận xét hoạt động nhóm, có trách nhiệm quan sát mọi hành vi

của các thành viên trong nhóm.

Bước 4: Báo cáo kết quả

Đại diện các nhóm trình bài kết quả. Cách trình bày phổ biến nhất là các nhóm

viết hoặc minh họa bằng hình vẽ kết quả của nhóm trên giấy khổ rộng hoặc trên

giấy trong và dùng máy chiếu. ( Over head)

Các nhóm có thể lựa chọn cách trình bày sau đây thay cho thuyết trình:

+ Phương pháp thị trường

Các nhóm trình bày trên giấy khổ rộng, bảng ghim và trưng bày trong phòng

học. Lớp học giống như một thị trường thông tin, các học viên sẽ đi xem xét kết

quả của từng nhóm, nghe họ giải thích và có thể đặt câu hỏi để họ trả lời, làm rõ.

Giáo viên có thể đóng góp ý kiến của mình vào kết quả làm việc của từng nhóm.

+ Phương pháp triển lãm

Các nhóm vẫn lần lượt trình bày kết quả nhưng tiếp sau đó các học sinh tự do đi

lại, quan sát kết quả của nhóm khác và có thể thảo luận với các thành viên của

nhóm giống như các nghệ sỹ trong buổi triển lãm.

Bước 5: Giáo viên tổng kết, bổ sung.

Học sinh có thể tự tổng kết hoặc giáo viên tổng kết và đưa vào thông tin phản

hồi để rút ra kiên thức.

2. Phương pháp sơ đồ tư duy

Sơ đồ tư duy là một hình thức ghi chép đầy màu sắc, hình ảnh để mở rộng và

đào sâu các ý tưởng. Sử dụng phương pháp này sẽ giúp học sinh ghi nhớ kiến

thức một cách logic, ngắn gọn và nhìn thấy được bức tranh tổng thể của chủ đề

mình vừa học sau 2 hoặc 3 tiết.

Phương pháp này được dùng để hệ thống hóa những chun đề ngữ pháp, ví dụ

như câu điều kiện, so sánh..., củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, hoặc cho các

báo cáo nhóm.

10



2.1. Sơ đồ tư duy: Câu điều kiện



2.2. Sơ đồ tư duy: Các thì tương lai

3. Phương pháp mảnh ghép

Là hình thức học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các

nhóm nhằm giải quyết một nhiệm vụ phức hợp (có nhiều chủ đề). Phương pháp

này kích thích sự tham gia tích cực của học sinh, nâng cao vai trò của cá nhân

trong q trình hợp tác để hồn thành cơng việc.

a. Cách tiến hành kĩ thuật "Các mảnh ghép"

VỊNG 1: Nhóm chuyên gia



11



Giáo viên chia lớp thành từng nhóm từ 4 đến 6 người. Mỗi nhóm được giao một

nhiệm vụ riêng biệt. Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, suy

nghĩ về câu hỏi, chủ đề và ghi lại những ý kiến của mình

Khi thảo luận nhóm phải đảm bảo mỗi thành viên trong từng nhóm đều trả lời

được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao và có khả năng trình bày lại

câu trả lời của nhóm ở vòng 2.



Kỹ thuật "Các mảnh ghép"

VỊNG 2: Nhóm các mảnh ghép

Hình thành các nhóm mới, mỗi nhóm bao gồm nhiều thành viên từ nhiều nhóm.

Các câu trả lời và thơng tin của vòng 1 được các thành viên trong nhóm mới

chia sẻ đầy đủ với nhau. Khi mọi thành viên trong nhóm mới đều hiểu được tất

cả nội dung ở vòng 1 thì nhiệm vụ mới sẽ được giao cho các nhóm để giải quyết

Các nhóm mới thực hiện nhiệm vụ, trình bày và chia sẻ kết quả.

4. Phương pháp dạy bằng trò chơi sư phạm

Đây là một trong những phương pháp giảng dạy giúp tạo khơng khí lớp học

thêm sinh động, hiệu quả. Khi áp dụng, phương pháp này sẽ tạo ra niềm vui và

phát huy được tính sáng tạo của người học.

Trò chơi sư phạm là những hoạt động bổ trợ cho giờ giảng, nhằm tạo bầu khơng

khí vui vẻ, thoải mái trong lớp học, khiến người học có khả năng bắt đầu hoặc

tiếp thu bài giảng với hiệu quả cao. Qua đó, việc học sẽ trở nên chủ động, tích

cực, tự giác, giúp cho người học nhớ bài giảng lâu hơn.

Đối với tất cả giáo viên tiếng Anh ở các cấp, thì việc sử dụng trò chơi ngơn ngữ

trong các tiết dạy đã trở nên rất quen thuộc. Sau đây, tôi xin giới thiệu một số trò

chơi ngơn ngữ có thể dùng trong các tiết học các kỹ năng nói chung, cũng như

trong các tiết dạy chuyên đề dạy học:



Lucky number



Chain game



Nought and Cross



Slap the board



Board Race



Jumbled sentences

12



5. Phương pháp tia chớp

Phương pháp tia chớp, hay còn gọi là phương pháp phỏng vấn nhanh, là phương

pháp giúp mở đầu bài giảng hay thu thập thơng tin nhanh từ phía người học một

cách hiệu quả. Phương pháp này được thực hiện như sau:

a. Sắp xếp lớp theo hình thức phù hợp

b. Giáo viên đặt câu hỏi:

Câu hỏi phải hấp dẫn, ngắn gọn, gây được sự chú ý. Dùng micro hoặc dụng cụ

giả làm micro đưa đến từng học sinh được hỏi.

c. Người học trả lời:

Câu trả lời phải ngắn gọn, logic, to rõ ràng.

d. Giáo viên tổng kết nhanh và định hướng vào bài học.

II.3.3. GIÁO ÁN CHUYÊN ĐỀ DẠY HỌC THAM KHẢO

TÊN CHUYÊN ĐỀ: Relative pronouns and Types of relative clauses

- Nội dung: Unit 9 + Unit 10, SGK Tiếng Anh 11, hệ 7 năm (Language Focus)

- Thời lượng: 02 tiết

- Tiết theo PPCT: Tiết 57, 58 (Nếu dạy thể nghiệm ngoài chương trình thì khơng

cần đưa vào PPCT)

- Thời gian thực hiện: Tháng 3/2017

- Người thực hiện: ….

Tiết 1 (Tiết 57 theo PPCT):

+ Giới thiệu về các đại từ quan hệ và trạng từ quan hệ. : chức năng, cách sử

dụng; phương pháp làm bài tập điền đại từ quan hệ.

+ Giới thiệu về mệnh đề quan hệ xác định và mệnh đề quan hệ không xác định.

+ Làm bài tập 3 + 4 - Unit 9 (SGK –tr 110) (bài tập 1+2 giao về nhà)

+ Làm bài tập 1– Unit 10 (SGK –tr 122)

Tiết 2 (Tiết 57 theo PPCT)::

+ Giới thiệu về đại từ quan hệ đi với giới từ

+ Bài tập 2 Unit 10 (SGK –tr 122)

+ Bài tập 3 Unit 10 (SGK –tr 123 giao về nhà)

+ Bài tập thêm (mở rộng- cũng cố các điểm ngữ pháp)



13



RELATIVE PRONOUNS AND TYPES OF RELATIVE CLAUSE

(Language Focus: Unit 9+10)

1. Objectives

Knowledge :

- Introduce the use of Relative pronouns, the concept of Defining relative

clauses and Non-defining relative clauses

Educational aim: By the end of the lesson, students will be able to:

- learn about relative pronouns as well as relative pronouns with prepositions

- distinguish the Defining relative clauses and Non-defining relative clauses

- understand the use of Relative pronouns with prepositions

- practice many types of the exercises about relative clause.

Skills: Improve students’ writing skills

2. Teaching aids:TV screen, textbook........

3. Method: Integrated, mainly communicative.

4. Procedure:

4.1. Stabilization: (2 mins)

- Greets the class and checks the attendance.

- Has a short talk with the class.

4.2. Checking previous knowledge (during the lesson)

4.3. Lesson presentation

PERIOD 57:



Teacher’s activities

Students’ activities

I. WARM-UP (5 mins): Brainstorming

- Ask students to remember and provide - discuss with friends and speak

relative pronouns they know.

alound answers



Relative

pronouns



II. NEW LESSON (35 mins)

1. Presentation: (15 mins)

1.1. Relative pronouns:

- Ask Ss to list the relative pronouns and give - Review the relative pronouns

out their uses.

that they have learnt.

- Give feedback and show the table on Tv

screen.

- Listen and study examples.

14



Subject Object

Possessive

Who

Who/

Whose

For

whom

person

That

That

Which Which

whose/ of

For

which

things

That

That

1.2. Defining relative clauses and Nondefining relative clauses

a/ Presentation

Elephants who marry mice are very unusual.

Ex1: My friend John, who went to the same

school as me, has just written a best-selling

novel.

Ex2: Let's go to a country where the sun

always shines.

Ex3: Elephants, which are large and grey,

can sometimes be found in zoos

- Asks the Ss to distinguish defining relative

clauses and non-defining relative clauses.

- Give feedback.

Defining relative clauses:

Non-defining relative clauses

1. In non-defining clauses, you cannot use

‘that’ instead of who, whom or which.

2. You cannot leave out the relative pronoun,

even when it is the object of the verb in the

relative clause.

3. Non-defining clauses can be introduced by

expressions like all of, many of + relative

pronoun: Notes:

Examples: There were a lot of people at the

party, many of whom I had known for years.*

2. Practice: (20 mins)

Exercise 3-Unit 9 (page 109)Join the

sentences, using who, that, or which.

- Let students read the exercise 3.

- Have students distinguish the difference

between “that” and ‘which”.

- Guide them to find out the noun or pronoun

in the two sentences to talk about one person

or one thing. Then use the suitable relative

pronoun to replace the pronoun and put it in

the suitable position.

Example: 1. The man who answered the phone

15



- Copy down.

- Listen and give some examples.

Eg: The man who told me this

refused to give me his name.

Eg: I met someone who said he

knew you.



- Look at the examples and tell

the differences between defining

relative clauses and non-defining

relative clauses.



- Give essential information to

define or identify the person or

thing we are talking about are

always separated from the rest of

the sentence by commas.

- Listen to the teacher and take

note



- Work in pairs in 5 minutes.

- Go to the board to write the

answers.

Expected answers

2. The waitress served us who

was very impolite and impatient

3. The building which was

destroyed in the fire has now

been rebuilt.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đối với giáo viên

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×