Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Lợi thế của phương thức thanh toán BPO so với các phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (L/C) và Ghi sổ (O/A)

Lợi thế của phương thức thanh toán BPO so với các phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (L/C) và Ghi sổ (O/A)

Tải bản đầy đủ - 0trang

-



Ngược lại, trong thanh toán bằng phương thức BPO, một Dữ liệu số cơ sở đã được



thiết lập có thể có nhiều Ngân hàng tham gia phát hành BPO cam kết thanh toán cho một Dữ

liệu số cơ sở đã được thiết lập đã phá vỡ thế độc quyền trong thanh tốn Tín dụng chứng từ,

nhờ đó, giảm chi phí thanh toán, dành được lãi suất vay hợp lý, dàn trải rủi ro, giảm thiểu

được rủi ro trong thanh toán…

- Trong phương thức thanh toán BPO, người bán giao hàng xong gửi trực tiếp chứng

từ hàng hóa cho người mua, không phải chuyển giao qua trung gian như phương thức thanh

tốn Tín dụng chứng từ hoặc Nhờ thu kèm chứng từ, cho nên tạo lợi thế cho người mua có

điều kiện nhận hàng thuận lợi không phải thông qua trung gian.

-



Đặc trưng của phương thức thanh toán Ghi sổ là thanh tốn sau khi nhận xong



hàng hóa một số ngày nhất định, cho nên hầu hết các chứng từ vận tải đều ghi là giao hàng

trực tiếp theo lệnh của người mua, cho nên người mua đã dành được quyền định đoạt sở hữu

hàng hóa ngay sau khi người bán gửi chứng từ vận tải cho người mua. Đây là một lợi thế mà

bất cứ người mua hàng nào cũng muốn dành lấy. Dùng BPO người mua sẽ dành được lợi thế

này.

- Rút ngắn được độ trễ trong thanh toán so với thanh toán bằng L/C hoặc Ghi sổ, cho

nên tốc độ thanh toán nhanh hơn, giúp cho người bán giảm thiểu chi phí đọng vốn lưu động

trên đường đi.

- Kế thừa được đặc tính an tồn của phương thức thanh tốn Tín dụng chứng từ và

“độ mở” của phương thức thanh toán Ghi sổ, BPO đã gắn kết thanh tốn với tín dụng tạo

thành các chuỗi thanh tốn theo từng định kỳ 15, 30, 45, 60, 90 ngày... với chuỗi cung ứng

tín dụng trước khi giao hàng, sản xuất, tồn kho, sau khi giao hàng, chứng từ trên đường đi…

- Các phương thức thanh toán truyền thống, đặc biệt là L/C có đặc điểm là chi phí cao

do quy trình xử lý thủ cơng, thơng tin khơng rõ ràng, đồng thời các ngân hàng phải chịu áp

lực về tính thanh khoản cao. Ngược lại, với phương thức thanh toán BPO, nhờ quy trình xử

lý được tự động hóa nên chi phí xử lý được cắt giảm tối đa, tạo điều kiện cho các ngân hàng

đưa ra mức phí cạnh tranh cho khách hàng của mình khi thực hiện giao dịch.

- Quy trình so khớp dữ liệu là đặc điểm mang lại những lợi ích thực tế lớn nhất.

Khơng phải kiểm tra chứng từ bằng tay và khơng có khái niệm sai sót hay tranh cãi trong

kiểm tra chứng từ bởi việc so khớp dữ liệu số điện tử được thực hiện tự động hồn tồn,

khơng có sự can thiệp mang tính chủ quan của con người vào quy trình so khớp. Tồn bộ quy

10



trình thanh tốn được tự động hóa sẽ nhanh hơn, rẻ hơn thư tín dụng. Điều này cũng có nghĩa

là các tranh chấp hay việc chậm thanh toán sẽ giảm đi đáng kể.

- Gia tăng tốc độ luân chuyển tiền mặt và khả năng thanh toán cho người bán so với

phương thức Ghi sổ. Việc bán hàng bằng phương thức Ghi sổ làm phát sinh các khoản phải

thu thường xuyên và liên tục. Chính các khoản phải thu này làm chậm đi vòng quay vốn và

ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình tái sản xuất kinh doanh và khả năng thanh toán nợ của

doanh nghiệp. Phương thức thanh tốn BPO với quy trình giao dịch được tự động hóa giúp

cho các doanh nghiệp gia tăng vòng quay vốn và gia tăng khối lượng giao dịch. Nguồn vốn

kinh doanh không bị ứ đọng trong các khoản phải thu chờ thanh tốn. Người bán có cơ hội

sử dụng BPO làm đảm bảo cho khác khoản tài trợ về tài chính linh hoạt trước và sau khi giao

hàng (so với phương thức ghi sổ nhà xuất khẩu ít có cơ hội được tài trợ).

- Với phương thức này, ngân hàng chịu trách nhiệm cho tất cả các sai sót có thể phát

sinh ở mọi giai đoạn của BPO, người mua khơng thể từ chối nghĩa vụ thanh tốn với lý do

liên quan đến chất lượng hàng hóa và người bán được ngân hàng cam kết thanh tốn, do đó,

làm giảm rủi ro so với phương thức Ghi sổ.

- Người nhập khẩu dành được quyền định đoạt chứng từ vận tải (B/L, AWB, RWB..)

sớm hơn so với L/C, do đường đi của chứng từ thương mại theo chiều giây cung BPO so với

chiều cánh cung L/C, nhờ đó, đạt được 3 lợi thế: có thể nhận hàng hóa sớm hơn; có thể

chuyển nhượng các chứng từ về quyền sở hữu để thu hồi vốn sớm hơn; có thể thế thấp chứng

từ vay tiền ngân hàng khi hàng chưa về cảng nhận phục vụ cho lợi ích kinh doanh thời cơ.

- Tốc độ thanh toán cho người xuất khẩu nhanh hơn nhiều lần so với thanh tốn bằng

L/C, nhờ đó, người xuất khẩu giảm được chi phí vay ngân hàng chứng từ đang trên đường đi

hoặc chiết khấu bộ chứng từ thương mại.

- Trong phương thức thanh toán bằng L/C, cam kết thanh tốn của ngân hàng phát hành

L/C hình thành trên cơ sở đơn tuyến, có nghĩa là ngân hàng chỉ căn cứ vào tuyến truyền tin

duy nhất từ Đơn yêu cầu phát hành L/C của người nhập khẩu để phát hành một L/C cam kết

trả tiền cho người xuất khẩu (người thụ hưởng), ngược lại, trong phương thức thanh toán

bằng BPO, ngân hàng phát hành một BPO cam kết trả tiền cho Ngân hàng tiếp nhận BPO

(Ngân hàng thụ hưởng) dựa trên Dữ liệu số cơ sở đã được thiết lập (Established Baseline),

mà việc thiết lập Dữ liệu số cơ sở này được hình thành từ nhiều tuyến truyền tin các dữ liệu

thương mại cơ sở từ người mua, người bán và các ngân hàng tham gia. Về lý thuyết cũng

11



như trong thực tiễn, cam kết đa tuyến bao giờ cũng có độ tin cậy đậm đặc hơn cam kết đơn

tuyến.

- Giảm thiểu rủi ro trong thanh toán là một trong những mục tiêu mà các bên đều quan

tâm. Cụ thể là: Kiểm tra bộ dữ liệu thương mại đã được số hóa bằng máy của Hệ ứng dụng

so khớp giao dịch (TMA) đã loại bỏ được sự chủ quan trong kiểm tra chứng từ văn bản bằng

tay, do đó tránh được các tranh chấp tốn kém khơng cần thiết. Đồng thời cam kết thanh toán

đa tuyến đã đảm bảo ngay trong lòng của nó sự chính xác thích hợp vì quyền lợi của các bên

liên quan.

Trong số các lợi thế trên đây, quy trình so khớp dữ liệu được tự động hóa là đặc điểm

mang lại những lợi ích thực tế lớn nhất. Trong BPO, các ngân hàng khơng phải kiểm tra

chứng từ bằng tay và khơng có khái niệm chứng từ sai sót bởi việc so khớp dữ liệu điện tử

khớp hay không khớp được hệ thống xác định rõ ràng, do đó, khơng có sự can thiệp mang

tính chủ quan của con người vào quy trình so khớp. Tồn bộ quy trình thanh tốn được tự

động hóa khiến phương thức BPO sẽ nhanh hơn, rẻ hơn phương thức thư tín dụng. Điều này

cũng có nghĩa là các tranh chấp hay chậm thanh toán sẽ giảm đi đáng kể.

6. Điều kiện để áp dụng BPO tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

6.1.



Điều kiện về vốn

Các ngân hàng muốn sử dụng BPO thì trước hết, phải đăng ký sử dụng Ứng dụng so



khớp giao dịch (Transaction Matching Application – TMA) với SWIFT. Như vậy, điều kiện

đầu tiên đặt ra cho các ngân hàng khi muốn áp dụng BPO là phải có một khoản vốn đầu tư

lớn cho việc đăng ký tham gia SWIFT TSU. Hiện tại, SWIFT đang hỗ trợ các ngân hàng

đăng ký online qua trang web www.swift.com, phí đăng ký tùy theo ngân hàng, một khi đã

đăng ký TMA, SWIFT sẽ hỗ trợ ngân hàng triển khai áp dụng phương thức BPO trong hoạt

động. Các ngân hàng đăng ký thành công sẽ được cấp mã khách hàng (tương tự mã BIC của

SWIFT Code).

Đây là điều kiện đầu tiên và tiên quyết các NHTM cần phải đáp ứng để đưa phương

thức thanh toán BPO vào triển khai áp dụng tại Việt Nam. Phương thức thanh toán BPO

được thực hiện thông qua Ứng dụng so khớp giao dịch (TMA) của SWIFT, cụ thể các ngân

hàng sẽ tương tác với nhau thông qua mạng lưới Mẫu tin tiêu chuẩn ISO 20022 do SWIFT

cung cấp. Mạng lưới Mẫu tin tiêu chuẩn này không chỉ thu hẹp ở phạm vi các ngân hàng, mà

còn cho phép các doanh nghiệp truy cập để trao đổi thông tin với các ngân hàng phục vụ họ

12



nhằm theo dõi và thực hiện các giao dịch xuyên suốt. Như vậy, yêu cầu đầu tiên đặt ra cho

các NHTM Việt Nam khi muốn cung cấp phương thức thanh tốn BPO là phải có một khoản

vốn đầu tư lớn để đăng ký sử dụng TMA/TSU với SWIFT và xây dựng mạng lưới thông tin

để đáp ứng yêu cầu của giao dịch. Ngoài ra, sự chênh lệch về trình độ cơng nghệ thơng tin

của các NHTM Việt Nam so với các ngân hàng ở các quốc gia phát triển trên thế giới cũng là

một rào cản trong việc sử dụng BPO và có thể làm chi phí đầu tư ban đầu tăng cao hơn nữa.

6.2. Điều kiện về công nghệ thông tin

Dữ liệu được sử dụng trong TMA là các dữ liệu điện tử được chuẩn hóa theo tiêu

chuẩn ISO 20022 do SWIFT cung cấp. Như vậy, để áp dụng thành cơng phương thức thanh

tốn BPO, các ngân hàng cần phát triển các chương trình, phần mềm, hệ thống nhằm chuyển

đổi dữ liệu từ các định dạng thông thường (Word, Excel, PDF) sang dữ liệu theo tiêu chuẩn

một cách nhanh chóng.

ISO 20022 là một bộ tiêu chuẩn được ISO phát triển nhằm sử dụng trong ngành công

nghiệp tài chính. Cách tiếp cận mơ hình hóa kinh doanh của nó cho phép người dùng và nhà

phát triển thể hiện các quy trình kinh doanh tài chính và các giao dịch cơ bản trong một ký

hiệu chính thức nhưng khơng phụ thuộc cú pháp. Chúng có thể được chuyển đổi thành các

thông điệp vật lý theo cú pháp mong muốn.

Trọng tâm đầu tiên của ISO 20022 là liên lạc tài chính quốc tế (qua biên giới) giữa các

tổ chức tài chính, khách hàng của họ và các cơ sở hạ tầng thị trường trong nước hoặc quốc tế

liên quan đến việc xử lý các giao dịch tài chính.

Hầu hết các tổ chức tài chính muốn sắp xếp cơ sở hạ tầng thơng tin liên lạc và các chi

phí liên quan bằng cách chọn một "ngôn ngữ" chung cho tất cả các giao dịch tài chính, bất kể

lĩnh vực kinh doanh, mạng lưới truyền thông và đối tác (các định chế tài chính, khách hàng,

nhà cung cấp và cơ sở hạ tầng thị trường).

Tiêu chuẩn ISO 20022 mô tả phương pháp phát triển, quá trình đăng ký và tổ chức

kho trung tâm tài chính có chứa các thơng báo ISO 20022 và các thành phần của chúng. Tiêu

chuẩn này bao gồm tám phần:

Phần 1: Siêu mơ hình (Metamodel)

Phần 2: Ngơn ngữ mơ hình hóa thống nhất UML (Unified Modeling Language)

Phần 3: Mơ hình hố

Phần 4: Tạo lược đồ Ngơn ngữ đánh dấu mở rộng XML (Schema XML)

13



Phần 5: Kỹ thuật ngược dòng

Phần 6: Đặc điểm vận chuyển tin nhắn

Phần 7: Đăng ký

Phần 8: Thế hệ ASN.1

Mục đích của một Lược đồ XML là xác định các khối xây dựng pháp lý của một tài

liệu XML:





Các phần tử và thuộc tính có thể xuất hiện trong một tài liệu







Số lượng các phần tử con (và thứ tự)







Các loại dữ liệu cho các phần tử và thuộc tính







Giá trị mặc định và cố định cho các phần tử và thuộc tính



XML Schema là một cơng cụ truyền dữ liệu an tồn. Khi gửi dữ liệu từ người gửi tới

người nhận, điều quan trọng là cả hai phần đều có cùng "kỳ vọng" về nội dung. Với XML

Schemas, người gửi có thể mơ tả dữ liệu theo cách mà người nhận sẽ hiểu. Một ngày như:

"03-11-2004", ở một số quốc gia, sẽ được giải thích là ngày 3 tháng 11 và ở các nước khác là

ngày 11 tháng 3. Tuy nhiên, một phần tử XML với kiểu dữ liệu như sau:
"date"> 2004-03-11 đảm bảo sự hiểu biết lẫn nhau về nội dung, bởi vì kiểu dữ liệu

XML "date" yêu cầu định dạng "YYYY-MM-DD".

ISO 20022 được sử dụng rộng rãi trong các dịch vụ tài chính. Các tổ chức tham gia

ISO 20022 bao gồm: ISDA, ISITC, Omgeo, SWIFT và Visa.

Các Quy tắc thống nhất đối với Nghĩa vụ thanh toán Ngân hàng của ICC (Uniform

Rules for Bank Payment Obligations – URBPO 1.0 ICC 2013) thừa nhận trên thực tế các

trao đổi thông tin giữa các Ngân hàng tham gia (Involved Banks) và Hệ ứng dụng So khớp

giao dịch là phù hợp với các tiêu chuẩn ISO 20022 và bất cứ các TMA nào được sử dụng để

kết nối với URBPO có thể xử lý ở mức tối thiểu các Mẫu tin.

Khi sử dụng phương thức BPO, tiêu chuẩn ISO 2002 TSTM được sử dụng cho các mã

định danh các bộ dữ liệu thương mại, vận tải, bảo hiểm, chứng nhận và các chứng nhận khác

sẽ được Ngân hàng tham gia xuất trình qua TMA yêu cầu so khớp với Dữ liệu số cơ sở đã

được thiết lập tìm kiếm sự phù hợp, để được ngân hàng tham gia thực hiện nghĩa vụ thanh

tốn nếu xuất trình phù hợp.

Đã có 50 mẫu tin chính thức đã đăng ký chính thức ISO 20022 TSMT tham gia trao

đổi mẫu tin giữa các ngân hàng, cho đến nay, trừ 2 mẫu tin tsmt.043xxx.xx và

14



tsmt.039.xxx.xx chưa được sử dụng, 19 mẫu tin trong 50 mẫu tin được quy định chính thức

trong URBPO điều 4.

6.3. Điều kiện về quy chế áp dụng

Văn bản pháp lý điều chỉnh BPO hiện nay là Các Quy tắc thống nhất đối với Nghĩa vụ

thanh toán Ngân hàng do ICC ban hành năm 2013 (Uniform Rules for Bank Payment

Obligation – viết tắt là URBPO ICC 2013). Các ngân hàng thành viên tham gia giao dịch

BPO phải tuân thủ theo URBPO và chấp nhận các quy định trong bộ quy tắc này mà khơng

cần có thêm các thỏa thuận song phương.

Tuy nhiên, URBPO chỉ điều chỉnh quyền và nghĩa vụ giữa ngân hàng thụ hưởng và

ngân hàng thực hiện thanh toán, mà không quy định mối quan hệ giữa ngân hàng thụ hưởng

và người bán. Do đó, cần có một thỏa thuận riêng biệt giữa ngân hàng thụ hưởng và người

bán quy định việc ngân hàng thụ hưởng hoàn trả số tiền của BPO cho người bán. ICC cũng

đã ban hành Hướng dẫn sử dụng phương thức thanh toán BPO và nêu rõ các vấn đề người

bán cần lưu ý trong việc ký kết các thỏa thuận liên quan đến nghĩa vụ thanh toán của ngân

hàng thụ hưởng BPO cho người bán.

Ở phạm vi quốc tế, Bộ quy tắc điều chỉnh BPO – URBPO 1.0 mới chỉ được ban hành

từ tháng 7/2013 với mục đích ràng buộc về mặt pháp lý và các tiêu chuẩn Mẫu tin điện tử

trong phương thức thanh tốn BPO. Tại Việt Nam, hiện chưa có luật hay các văn bản dưới

luật quy định riêng cho các phương thức thanh toán và tài trợ thương mại quốc tế nói chung

và cho hoạt động thanh tốn bằng BPO nói riêng. Như vậy, để các NHTM Việt Nam có thể

triển khai áp dụng nghiệp vụ BPO tại Việt Nam, về mặt vĩ mơ thì đòi hỏi phải có những quy

định cụ thể về thủ tục, điều kiện, hình thức BPO,.. cũng như những điều kiện và hạn chế đối

với việc tạo lập và giao dịch BPO trên thị trường Việt Nam. Về mặt vi mô, các NHTM Việt

Nam cần triển khai xây dựng quy trình thực hiện nghiệp vụ BPO tại ngân hàng, cũng như

quy định chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận phòng, ban trong các bước thực hiện giao

dịch BPO.

6.4.



Điều kiện về nhân lực

Việc kiểm tra đối chiếu chứng từ trong phương thức thanh toán BPO sẽ được thực



hiện bởi máy móc điện tử thay vì thủ cơng bằng sức người như trong các phương thức thanh

tốn khác, gia tăng độ chính xác cho giao dịch cũng như tiết kiệm sức lao động con người.

Do BPO được vận hành trên Hệ ứng dụng TMA trong hệ thống TSU, ứng dụng so khớp của

15



SWIFT nên ngân hàng muốn đưa phương thức BPO vào áp dụng thì người sử dụng phải có

kiến thức sâu về BPO cũng như hiểu rõ cách thức vận hành Hệ ứng dụng TMA.

Trong nghiệp vụ thanh toán quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam hiện chỉ quen với các

phương thức truyền thống là L/C, chuyển tiền, nhờ thu, bảo lãnh... Để chuyển sang một

phương thức thanh tốn hồn tồn mới cần phải mất rất nhiều thời gian để các doanh nghiệp

nhận ra tính ưu việt của sản phẩm và thay đổi thói quen thanh tốn của mình. Đây thực sự là

một thách thức cho các NHTM Việt Nam khi đưa sản phẩm BPO vào triển khai áp dụng.

Vì vậy, đối với các chuyên viên ngân hàng, những người chịu trách nhiệm thực hiện

các công việc liên quan đến việc xúc tiến, phát triển các sản phẩm thanh toán và tài trợ

thương mại quốc tế, từ khâu tiếp xúc khách hàng, tư vấn khách hàng sử dụng dịch vụ và thực

hiện các quy trình tác nghiệp sau đó, yêu cầu là phải hiểu biết và am tường về nghiệp vụ mà

mình phụ trách. Như vậy, điều kiện cần thiết để đưa phương thức thanh toán BPO vào triển

khai áp dụng là các NHTM Việt Nam cần đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, nắm rõ sản

phẩm cũng như cách thức giao dịch, rủi ro đi kèm để có thể tư vấn khách hàng cũng như vận

hành sản phẩm mới.

6.5. Điều kiện về khách hàng

Trong phương thức thanh toán BPO, ngân hàng phát hành BPO thay cho người mua

cam kết thanh toán cho ngân hàng tiếp nhận (Recipient Bank) - ngân hàng của người bán sau

khi so khớp thành công các Bộ dữ liệu thương mại số với Dữ liệu số cơ sở đã được thiết lập

(Established Baseline). Do đó, các NHTM Việt Nam cần thẩm định thơng tin khách hàng

chính xác nhằm đánh giá uy tín, tình hình tài chính và khả năng thanh toán của doanh nghiệp

để xem xét việc phát hành BPO theo yêu cầu của khách hàng nhằm hạn chế rủi ro cho mình.

Vì URBPO 1.0 khơng điều chỉnh trách nhiệm và nghĩa vụ giữa khách hàng và ngân hàng nên

rủi ro xảy ra cho ngân hàng phát hành BPO là rất lớn nếu ngân hàng khơng có những văn

bản, hợp đồng ràng buộc giữa ngân hàng với doanh nghiệp mà mình phục vụ. Bên cạnh đó,

các cơng ty trên thế giới sử dụng phương thức thanh toán BPO phần lớn là các tập đồn đa

quốc gia, có nhiều cơng ty con, chi nhánh, trụ sở ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ. Đó là

các tập đồn thương mại có quy mơ lớn và lịch sử lâu đời, có uy tín tín dụng tốt để đảm bảo

cho ngân hàng phát hành BPO tránh rủi ro tín dụng hoặc rủi ro vỡ nợ. Ở Việt Nam, những

cơng ty, tập đồn có quy mơ như thế chiếm số lượng rất nhỏ, mà chủ yếu hoạt động vẫn là

các công ty vừa và nhỏ, các công ty start-up. Điều này đồng nghĩa với việc số lượng khách

16



hàng và nhu cầu dành cho dịch vụ thanh tốn BPO là khơng lớn, và nó là một trở ngại, thách

thức khách quan mang tính thị trường cho các NHTM Việt Nam khi muốn đưa phương thức

thanh toán BPO vào triển khai, áp dụng.

Các điều kiện để triển khai phương thức BPO là một thách thức lớn đối với các

NHTM Việt Nam. Tuy nhiên, những lợi thế mà BPO đem lại là rất rõ ràng và yêu cầu của hội

nhập quốc tế, của cuộc cách mạng cơng nghiệp 4.0 đòi hỏi các NHTM Việt Nam phải mạnh

dạn đầu tư và phát triển các sản phẩm mới như BPO để cạnh tranh, tránh tụt hậu và phát triển

phù hợp với xu thế chung của các ngân hàng trên thế giới và khu vực.

Kết luận

Nếu các phương thức thanh toán và tài trợ như Chuyển tiền, Ghi sổ, Nhờ thu, Tín

dụng chứng từ, Bao thanh tốn tồn tại và phát triển trên cơ sở của giao dịch chứng từ văn bản

truyền thống, thì phương thức Nghĩa vụ thanh tốn ngân hàng (BPO) là sự tích hợp của hai

phương thức Tín dụng chứng từ và Ghi sổ dựa trên cơ sở của giao dịch Bộ dữ liệu thương

mại số, độc lập với hình thức giao dịch chứng từ thương mại văn bản, dù cho các Bộ dữ liệu

thương mại số được trích xuất từ các chứng từ văn bản đó. Dự đốn trong thời gian khơng

xa, Bank Payment Obligation (BPO) sẽ được áp dụng thay thế L/C thương mại. Sự khác biệt

chính ở chỗ là BPO hoạt động trong một mơi trường hồn tồn tự động, dựa vào việc so sánh

và đối chiếu các mẫu tin số hóa được chiết xuất từ các chứng từ giao hàng của người xuất

khẩu gửi cho người nhập khẩu hoàn toàn tương phản với việc kiểm tra chứng từ bằng mắt

thường của con người trên các chứng từ giao hàng bằng giấy. Khả năng xử lý Bộ dữ liệu tài

trợ thương mại và thanh toán quốc tế như cách này thể hiện một bước tiến to lớn về chất và

mang lại hiệu quả nhiều mặt, đặc biệt là hiệu quả về kinh tế trong các ngành kinh doanh

thương mại và công nghiệp tài chính ngân hàng.

Tài trợ thương mại và thanh tốn quốc tế dựa trên giao dịch bằng chứng từ bằng giấy

đã sắp qua rồi, sẽ thay vào quy trình này bằng giao dịch các dữ liệu đã được số hóa từ các

chứng từ bằng giấy nói trên là xu hướng khơng thể tránh khỏi trong thế kỷ 21 và thời đại

cách mạng cơng nghiệp 4.0 này.

Tài liệu tham khảo

1. Giáo trình “Thanh toán quốc tế”, Đại học Ngoại thương - GS TS Đinh Xuân Trình, PGS TS

Đặng Thị Nhàn, NXB Bách khoa, 2018.



17



2. Các Quy tắc thống nhất về Nghĩa vụ thanh tốn ngân hàng phiên bản 1.0 do Phòng thương

mại quốc tế tại Paris ban hành 4/2013 (Uniform Rules for Bank Payment Obligations Version

1.0 – URBPO1.0 ICC 2013).

3. Hướng dẫn sử dụng URBPO của ICC 2013 (The ICC Guide to the Uniform Rules for Bank

Payment Obligations ICC 2013).

4. Sách chuyên khảo “Phương thức thanh toán BPO thay thế L/C – Hướng dẫn áp dụng Quy tắc



thống nhất đối với nghĩa vụ thanh toán của ngân hàng URBPO 1.0 ICC” – GS, TS Đinh

Xuân Trình, NXB Lao động, 2018.



18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Lợi thế của phương thức thanh toán BPO so với các phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (L/C) và Ghi sổ (O/A)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×