Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Vai trò phương pháp luận của phép biện chứng duy vật với tư cách là phương pháp luận phổ biến.

Vai trò phương pháp luận của phép biện chứng duy vật với tư cách là phương pháp luận phổ biến.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Tiểu luận Chuyên đề Phương pháp nghiên cứu khoa học

Những tất cả vấn đề là loại trừ bằng cách nào?

Có người nghĩa rằng, chúng ta có quyền trong tay và vì chỉ cần sử dụng

quyền lực đó ra lệnh cấm là được.

Thực ra vấn đề khơng hồn tồn đơn giản như vậy.

Tôn giáo, như chúng ta biết, là một trong những hình thái ý thức xã hội. Sự

xuất hiện và tồn tại của nó có những nguyên nhân khách quan nhất đinh. Trong

những thời kỳ đầu của lịch sử, sự thống trị của những sức mạnh thiên nhiên bên

ngồi có ý nghĩa quyết định đối với sự ra đời và tồn tại của tơn giáo. Đến khi xã hội

có giai cấp xuất hiện, thì ngồi những sức mạnh thiên nhiên đó ra còn có cả những

sức mạnh xã hội nữa. Những sức mạnh xã hội ấy cũng chi phối cuộc sống con

người một cách huyền bí, khó hiểu y hệt những sức mạnh thiên nhiên vậy. Trong

những xã hội có giai cấp thì chính áp bức xã hội là nguồn gốc chủ yếu của tôn giáo.

Cho nên, muốn đấu tranh chống tôn giáo phải đấu tranh chống những nguyên nhân

vật chất đã sản sinh ra tơn giáo. Nói cách khác, theo các nhà kinh điển của Chủ

nghĩa Mác, muốn loại trừ tơn giáo ra khỏi đời sống xã hội thì phải loại trừ mọi chế

độ người bóc lột người chứ khơng phải chỉ dùng biện pháp cấm đốn mà được.

Chính vì vậy, một mặt, chúng ta chủ trương tự do tín người, xem đó là quyền riêng

của mỗi người, nhưng mặt khác, chúng ta tiến hành cuộc cách mạng xã hội nhằm

xây dựng một chế độ xã hội khơng có chế độ người bóc lột người. Và bằng cách

đó, loại trừ nguồn gốc xã hội sâu xa đã sản sinh ra tơn giáo làm cho tơn giáo tự nó

phải tiêu vong đi. Đó là một đường lối khoa học và đường lối đó chỉ có thể có được

trên cơ ở lập trường duy vật.

Như vậy, xuất phát từ những lập trường triết học khác nhau, chúng ta đã đi

đến những cách giải quyết vấn đề khác nhau và do đó, việc chấp nhận hay không

chấp nhận một lập trường triết học nhất định sẽ không chỉ đơn thuần là sự chấp

nhận hay không chấp nhận một thế giới quan nhất định, một cách lý giải nhất định

về thế giới, mà còn là sự chấp nhận hay khơng chấp nhận một cơ sở phương pháp

Học viên: Trương Ngọc Dũng – Cao học Văn hoá học - Khoá 2011



Trang 14



Tiểu luận Chuyên đề Phương pháp nghiên cứu khoa học

luận nhất định cho hành động. Trong trường hợp ở đây, xuất phát từ lập trường duy

vật, coi vật chất là cái có trước và quyết định ý thức, chúng ta đi tìm những nguyên

nhân vật chất đã sản sinh ra tôn giáo và tìm cách loại trừ chúng để loại trừ tơn giáo

ra khỏi đời sống xã hội. Còn những ai xuất phát từ lập trường duy tâm, dù tự giác

hay không tự phát, coi ý thức là cái gì đó có trước và quyết định vật chất sẽ tìm

cách loại trừ tơn giáo chỉ bằng sức mạnh của ý chí, bằng cách cấm đoán. Rõ ràng

cách giải quyết thứ hai này sẽ khơng dẫn đến kết quả được.

Thí dụ trên đây cho thấy rằng, triết học khơng phải là một cái gì q xa xơi,

viễn vơng, ngược lại, nó gắn bó hết sức mật thiết với đời sống, với thực tiễn, là cái

định hướng, cái chỉ đạo cho chúng ta trong hành động. Xuất phát từ một lập trường

triết học đúng đắn, cụ thể là xuất phát từ những quan điểm của chủ nghĩa duy vật

biện chứng, chúng ta có thể có được những cách giải quyết đúng đắn các vấn đề do

cuộc sống đặt ra. Còn ngược lại, xuất phát từ một lập trường triết học sai lầm,

chúng ta không thể tránh khỏi hành động sai lầm. Chính ở đây, thể hiện giá trị định

hương - một trong những biểu hiện cụ thể chức năng phương pháp luận của phép

biện chứng duy vật. Tiếc rằng, giá trị này hiện nay, theo chúng tôi chưa đuợc chúng

ta chú ý khai thác triệt để, có lẽ chính vì vậy mà còn có những sự đánh giá chưa

thoả đáng về vai trò của triết học trong việc giải quyết những vấn đề của cuộc sống.

Sự đánh giá chưa thoả đáng đó thể hiện trước hết ở thái độ coi thường vai trò

của triết học. Những người giữa thái độ này cho rằng triết học nghiên cứu và giải

quyết những vấn đề quá chung nên những kết quả nghiên cứu của nó chẳng có tác

dụng thiết thực gì hết. Cái khó theo họ là phải giải quyết những vấn đề cụ thể do

thực tiễn đất nước đang đặt ra thì chỉ có cách là lao mình vào hoạt động thực tiễn

và từ trong thực tiễn mà tìm ra câu trả lời chứ khơng thể trơng chờ gì được vào triết

học cả.

Ý kiến trên đây,trong chừng mưc nhất định ,có căn cứ của nó,vì trong nhiều

truờng hợp khi giải quyết những vấn đề cụ thể,các cán bộ làm công việc thực tiển

Học viên: Trương Ngọc Dũng – Cao học Văn hoá học - Khoá 2011



Trang 15



Tiểu luận Chuyên đề Phương pháp nghiên cứu khoa học

không thể tìm thấy ơ các cán bộ làm cơng tác triết học một câu trả lời cụ thể. Nói

như thế khơng có nghĩa là những nghiên cứu triết học hồn tồn khơng có tác dụng

thiết thực gì trong việc giải quyết những vấn đề cụ thể của cuộc sống. Vì sao vậy?

Vì để giải quyết những vấn đề cụ thể của cuộc sống một cách có hiệu quả, khơng

một ai có thể lãng tránh việc giải quyết những vấn đề chung liên quan đến các vấn

đề cụ thể đó. Nếu khơng giải quyết những vấn đề chung sẽ không tránh khỏi sẽ sa

vào tình trạng mò mẫm, tuỳ tiện. Khi phê phán những người xem thường việc giải

quyết những vấn đề “chung” hay là những vấn đề có “tính chất lý luận” tức là

những vấn đề khơng có liên hệ trực tiếp với một nhiệm vụ thực tế nhất định nào đó

đề ra trước Đảng vào thời điểm đang xét, V.I.Lênin viết rằng, những người đó đã

“lãng tránh những vấn đề chung rộng lớn”. “Họ đã quên mất rằng xét cho cùng,

chính sách rộng lớn – có tính ngun tắc chính là chính sách duy nhất thực sự thực

tế. Họ đã quên rằng người nào bắt tay vào những vấn đề riêng trước khi giải quyết

những vấn chung, thì kẻ đó, trên những bước đi sẽ không sao tránh khỏi vấp phải

những vấn đề chung đó một cách khơng tự giác. Mà dù có vấp phải những vấn đề

đó trong trường hợp riêng, thì có nghĩa là đưa chính sách của mình đến chỗ có

những sự dao động tồi tệ nhất và mất hắn tính quy tắc”. (Chúng tơi nhấn mạnh

chính mình). Vì vậy, sẽ là sai lầm nếu nghĩ rằng có thể giải quyết một cách có hiệu

quả những vấn đề riêng mà không cần giải quyết những vấn đề chung. Nói cách

khác, những vấn đề chung và những vấn đề riêng gắn bó hết sức chặt chẽ với nhau,

chặt chẽ tới mức không thể giải quyết những vấn đề thuộc loại này một cách có

hiệu quả nếu khơng tính đến kết quả giải quyết những vấn đề thuộc loại kia và

ngược lại.

Chẳng hạn, một trong những vấn đề mà chúng tư sản rất quan tâm là vấn đề

xác định cho đúng những khả năng hiện có và tiềm năng của đất nước. Do không

đánh giá đúng các khả năng ấy nên trong việc đề ra phương hướng và nhiệm vụ của

kế hoạch phát triển kinh tế trước đổi mới chúng ta đã phạm chủ quan, nóng vội, đề

Học viên: Trương Ngọc Dũng – Cao học Văn hoá học - Khoá 2011



Trang 16



Tiểu luận Chuyên đề Phương pháp nghiên cứu khoa học

ra những nhiệm vụ và chỉ tiêu của kế hoạch nhà nước quá cao, đồng thời lại cũng

bảo thủ và trì trệ trong việc đánh giá và vận dụng các khả năng nhiều mặt khác.

Vì vậy, một vấn đề rất lớn đặt ra là phải xác định đúng các khả năng và phải

khai thác mọi khả năng hiện có và tiềm tàng, đồng thời phải bồi dưỡng cho cán bộ,

đảng viên ... biết phát hiện và khai thác những tiềm năng của đất nước.

Nhưng muốn đi vào giai quyết vấn đề này có căn cứ khoa học, thì khơng thể

nào không giải quyết những vấn đề như: thế nào là khả năng, phân biệt thế nào khả

năng với hiện thực, với mục đích chủ quan với ước vọng của con người? đặc biệt là

phải làm thế nào để phát hiện được và cho đúng khả năng? Riêng việc giải đáp cho

câu hỏi cuối cùng này đòi hỏi phải làm sáng tỏ hàng loạt vấn đề như: cần tìm khả

năng ở đâu? Căn cứ vào những biểu hiện nào để phát hiện khả năng? Cái gì làm

này sinh khả năng: cấu trúc sự vật, điều kiện bên ngoài, các quy luật đang tác động

trong quá trình phát triển của sự vật hay những mâu thuẫn ngay trong bản thân nó?

Vai trò của nhân tố chủ quan ở đây ra sao?...

Rõ ràng đây là những vấn đề phương pháp luận chung, trước là những vấn đề

của triết học. Và bằng việc làm sáng tỏ những vấn đề ấy các cán bộ triết học sẽ góp

phần tích cực của mình vào việc giải quyết những vấn đề cấp bách của cuộc sống.

Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu từ đó lại đi đến tuyệt đối hố vai trò của triết

học, nghĩa rằng chỉ cần nắm được triết học thì lập tức sẽ giải quyết được tất cả

những vấn đề cụ thể của thực tiễn. Có nơi, có lúc vì q nhấn mạnh vai trò của triết

học nên đã gây ra ở một số người ảo tưởng cho rằng, triết học là cái chìa khố vạn

năng, chỉ cần nắm được nó là sẽ tự khắc giải quyết đuợc mọi vấn đề cụ thể. Nhiều

khi chính chúng ta, những cán bộ triết học, cũng mắc sai lầm này khi muốn tự mình

xơng vào giải quyết những vấn đề thực tiễn cụ thể chỉ với tri thức triết học chung,

chỉ với những kiến thức về các quy luật và các mối quan hệ chung nhất của tự

nhiên, xã hội và tư duy mà không nắm đuợc những tri thức cụ thể.



Học viên: Trương Ngọc Dũng – Cao học Văn hoá học - Khoá 2011



Trang 17



Tiểu luận Chuyên đề Phương pháp nghiên cứu khoa học

Nhà vật lý học nổi tiếng Liên Xô – V.L.Kapixa – đã có một sự so sánh rất

đáng chú ý. “Việc áp dụng phép biện chứng vào lĩnh vực các khoa học tự nhiên đòi

hỏi phải có một sự hiểu biết cực kỳ sâu sắc các tài liệu thực nghiệm và sự khái qt

hố chung về mặt lý luận. Thiếu điều đó thì phép biện chứng tự bản thân nó vẫn

khơng thể đưa lại lời giải đáp cho vấn đề. Phép biện chứng như cây vĩ cầm của

Xtradivariux - một cây vĩ cầm hoàn hảo nhất trong tất cả các cây vĩ cầm, nhưng để

sử dụng được nó thì phải biết âm nhạc và phải làm nhạc cơng. Thiếu điều đó thì cây

vĩ cầm này cũng chỉ phát ra những âm thanh sai lệch như những cây vĩ cầm thông

thường mà thôi”. Nhận xét trên đây cũng chỉ đúng cho trường hợp vận dụng phép

biện chứng vào các ngành khoa học tự nhiên, mà cũng đúng cho tất cả các trường

hợp vận dụng phép biện chứng vào hoạt động nhận thức cũng như hoạt động cải tạo

thực tiễn.



Học viên: Trương Ngọc Dũng – Cao học Văn hoá học - Khoá 2011



Trang 18



Tiểu luận Chuyên đề Phương pháp nghiên cứu khoa học

KẾT LUẬN

Như vậy, để có thể giải quyết một cách có hiệu quả những vấn đề cụ thể hết

sức phức tạp và vô cùng đa dạng của cuộc sống, chúng ta cần tránh cả hai thái cực

sai lầm: hoặc là xem thường triết học và do đó sẽ sa vào những tình trạng mò mẫm,

tuỳ tiện, dễ bằng lòng với những biện pháp cụ thể nhất thời, đi đến chỗ mất phương

hướng thiếu nhìn xa trơng rộng, thiếu chủ động và sáng tạo trơng tác; hoặc là tuyệt

đối hố vai trò của triết và do đó sẽ sa vào chủ nghĩa giáo điều, áp dụng một cách

máy móc những nguyên lý, những quy luật chung mà khơng tính đến những tình

hình cụ thể do khơng nắm được tình trạng cụ thể đó trong từng trường hợp cụ thể.

Trong điều kiện hiện nay, các nguyên lý của phép biện chứng duy vật có thể

phát huy đầy đủ và tốt nhất chức năng thế giới quan và phương pháp luận của nó.

Phép biện chứng duy vật là phương pháp luận của sự nhận thức, là phương pháp

luận chung nhất đối với khoa học hiện đại. Nó chỉ ra phương thức chung nhất để

đạt đến tri thức lý luận, nó giúp cho việc xác định hướng nghiên cứu, cách đặt vấn

đề, nó chỉ ra phương thức chứng minh các luận điểm ... Với tư cách là phương pháp

luận phổ biến, phương pháp luận chung nhất, nó khơng thay thế phương pháp của

các khoa học cụ thể.



Học viên: Trương Ngọc Dũng – Cao học Văn hoá học - Khoá 2011



Trang 19



Tiểu luận Chuyên đề Phương pháp nghiên cứu khoa học

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V,

Nxb Sự thật, Hà Nội, 1982.

2. V.I.Lênin Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, t.23, tr.54.

3. V.I.Lênin Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, t.18, tr.298.

4. V.I.Lênin Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, t.26, tr.63.

5. V.I.Lênin Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, t.26.

6. GS.TS.Nguyễn Trọng Chuẩn, Phương pháp luận và vai trò của phương

pháp luận triết học trong nghiên cứu khoa học,

7. Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Giáo trình Triết học, Hà Nội, 2009.



Học viên: Trương Ngọc Dũng – Cao học Văn hoá học - Khoá 2011



Trang 20



Tiểu luận Chuyên đề Phương pháp nghiên cứu khoa học

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU.......................................................................................................1

PHẦN NỘI DUNG...................................................................................................3

I. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC..................................................................................3

II. PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀ CHỨC NĂNG PHƯƠNG PHÁP

LUẬN CỦA NÓ........................................................................................................6

1. Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật mácxít.....................................6

2. Các nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của phép biện chứng duy vật.. . .10

2.1. Nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và thực tiễn..........................................10

2.2. Quan điểm lịch sử - cụ thể................................................................................11

2.3. Quan điểm phát triển........................................................................................12

3. Vai trò phương pháp luận của phép biện chứng duy vật với tư cách là

phương pháp luận phổ biến..................................................................................13

KẾT LUẬN.............................................................................................................19

TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................20



Học viên: Trương Ngọc Dũng – Cao học Văn hoá học - Khoá 2011



Trang 21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Vai trò phương pháp luận của phép biện chứng duy vật với tư cách là phương pháp luận phổ biến.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×