Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật mácxít.

Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật mácxít.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Tiểu luận Chuyên đề Phương pháp nghiên cứu khoa học

Triết học mácxít là một trong ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác. V.I.Lênin

khẳng định rằng, “triết học Mác là một chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị” [Nxb

Tiến bộ Mátxcơva (1980), V.I.Lênin toàn tập, t.23, tr.54]. Tuy nhiên, khác với chủ

nghĩa duy vật của thế kỷ XVIII mà những thiếu sót chủ yếu nhất của nó là máy

móc, siêu hình, khơng biết áp dụng phép biện chứng vào quá trình nhận thức và

duy tâm khi xem xét các hiện tượng xã hội, chủ nghĩa duy vật của Các Mác và Ph.

Ăngghen đã khắc phục tất cả những thiếu sót ấy, phát triển triết học duy vật lên

trình độ cao hơn, đã “hoàn thành cái lâu đài triết học duy vật cho đến tận

đỉnh”[Nxb Tiến bộ Mátxcơva (1980), V.I.Lênin tồn tập, t.23, tr.298] bằng cách kế

thừa có phê phán những gì là tinh túy, là quý giá, là thành quả của triết học cổ điển

Đức, trước hết là triết học Hêghen. Thành quả q giá đó chính là “phép biện

chứng, tức là học thuyết về sự phát triển dưới hình thức hồn bị nhất, sâu sắc nhất

và khơng phiến diện”[Nxb Tiến bộ Mátxcơva (1980), V.I.Lênin toàn tập, t.23,

tr.53], “là học thuyết toàn diện nhất, phong phú nhất, sâu sắc nhất về sự phát

triển”[Nxb Tiến bộ Mátxcơva (1980), V.I.Lênin toàn tập, t.26, tr.63].

Tuy nhiên, phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng duy tâm vì điểm

xuất phát của nó là ý niệm, cho nên khơng thể dùng nó một cách nguyên xi được

mà cần phải cải tạo nó, phải giải thích nó trên lập trường duy vật. Dựa vào những

thành tựu của khoa học tự nhiên mà Ph. Ăngghen gọi là ba phát minh vĩ đại của thế

kỷ XIX và của thực tiễn xã hội cho đến giữa thế kỷ XIX, Các Mác và Ph.Ăngghen

đã xây dựng nên phép biện chứng duy vật. Trong triết học Mác, phép biện chứng

không tách rời chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy vật trở thành chủ nghĩa duy vật

biện chứng, còn phép biện chứng trở thành phép biện chứng duy vật, như V.I.Lênin

nói, chúng trở thành một khối thép duy nhất mà trong đó, người ta khơng thể bỏ

một tiền đề cơ bản nào, một phần cốt yếu nào, mà không xa rời chân lý khách quan.

Cho nên, sẽ là sai lầm nếu nghĩ rằng, trong triết học Mác chỉ có chủ nghĩa duy vật

mới là lý luận, còn phép biện chứng chỉ là phương pháp. Cần khẳng định rằng, cả

Học viên: Trương Ngọc Dũng – Cao học Văn hoá học - Khoá 2011



Trang 7



Tiểu luận Chuyên đề Phương pháp nghiên cứu khoa học

chủ nghĩa duy vật lẫn phép biện chứng đều đóng vai trò là lý luận vì khơng có các

ngun lý của chủ nghĩa duy vật, mà tất cả các nguyên lý của phép biện chứng

trước hết đều là sự phản ánh khái quát quá trình vận động và phát triển của hiện

thực. V.I.Lênin gọi phép biện chứng là học thuyết về sự phát triển, tức là lý luận về

sự phát triển chính là vì lý do đó.

Lý luận về sự phát triển hay phép biện chứng ấy bao gồm:

Thứ nhất, các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật được giải thích một cách biện

chứng.

Chủ nghĩa duy vật khẳng định rằng, “trong thế giới, khơng có cái gì ngồi

vật chất đang vận động và vật chất đang vận động không thể vận động ở đâu khác

ngồi khơng gian và thời gian”[Nxb Tiến bộ Mátxcơva (1980), V.I.Lênin toàn tập,

t.18, tr.209]; rằng, ý thức là sản phẩm của bộ óc con người, là hình ảnh chủ quan

của thế giới khách quan, là sự phản ánh tự giác ít nhiều tích cực của các sự vật và

quá trình hiện thực của thế giới vật chất.

Như vậy, trong quan hệ giữa vật chất và ý thức, vật chất là cái thứ nhất,

quyết định và tồn tại độc lập với ý thức, còn ý thức là cái thứ hai, cái bị quyết định

và tồn tại lệ thuộc vào vật chất. Tuy nhiên, khác với chủ nghĩa duy vật trước Mác,

chủ nghĩa duy vật biện chứng, một mặt, khẳng định sự phụ thuộc của ý thức vào vật

chất, coi ý thức là sự phản ánh tự giác thế giới vật chất, mặt khác, lại kiên quyết

thừa nhận tác dụng tích cực trở lại của ý thức đối với vật chất. Thông qua hoạt động

của con người, ý thức có thể đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển của thế giới vật

chất ấy.

Thứ hai, ngoài các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật, lý luận về sự phát triển

còn bao gồm các nguyên lý của phép biện chứng đã được giải thích trên lập trường

duy vật. Theo các nguyên lý đó:

a. Mỗi kết cấu vật chất đều có mn vàn mối liên hệ qua lại với các sự vật,

các hiện tượng, các quá trình khác của hiện thực.

Học viên: Trương Ngọc Dũng – Cao học Văn hoá học - Khoá 2011



Trang 8



Tiểu luận Chuyên đề Phương pháp nghiên cứu khoa học

b. Tất cả các sự vật cũng như sự phản ánh của chúng trong bộ óc con người

đều ở trong trạng thái biến đổi và phát triển khơng ngừng. Nguồn gốc của sự phát

triển đó là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập ngay trong lòng sự vật. Phương thức

của sự phát triển đó là sự chuyển hóa những thay đổi về lượng thành những thay

đổi về chất và ngược lại theo kiểu nhảy vọt. Còn chiều hướng của sự phát triển này

là sự vận động theo đường xốy trơn ốc chứ khơng phải theo đường thẳng. Những

nguyên lý và quy luật cơ bản trên đây của phép biện chứng, tức là của học thuyết

về sự phát triển được V.I.Lênin trình bày một cách rất cơ đọng như sau: “Sự phát

triển hình như diễn lại những giai đoạn đã qua, nhưng dưới một hình thức khác, ở

một trình độ cao hơn (“phủ định của phủ định”), “Sự phát triển có thể nói là theo

đường trơn ốc chứ không phải theo đường thẳng; - sự phát triển bằng những bước

nhảy vọt, bằng những sự đột biến, bằng những cuộc cách mạng; - “những bước

gián đoạn của sự tiến triển dần dần”; sự biến đổi lượng thành chất; - những kích

thích nội tại theo hướng phát triển, những kích thích gây ra bởi sự mâu thuẫn, bởi

sự xung đột giữa những lực lượng và giữa những xu thế khác nhau đang tác động

vào một vật thể nhất định, trong một phạm vi hiện tượng nhất định, hoặc trong nội

bộ một xã hội nhất định; sự phụ thuộc lẫn nhau và mối liên hệ chặt chẽ, mật thiết

giữa tất cả các mặt của từng hiện tượng (và lịch sử luôn luôn làm lộ ra những mặt

mới) - các mối liên hệ quy định q trình vận động có tính chất thế giới, thống nhất

và có quy luật; đó là một số đặc điểm của phép biện chứng, tức là học thuyết về sự

phát triển, có một nội dung phong phú hơn (so với học thuyết thông thường)”[Nxb

Tiến bộ Mátxcơva (1980), V.I.Lênin toàn tập, t.26, tr.65].

Thứ ba, phép biện chứng duy vật, như V.I.Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh, còn

đồng thời là lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác. Theo lý luận ấy thì nhận thức là

sự phản ánh giới tự nhiên bởi con người, nhưng đó khơng phải là sự phản ánh đơn

giản, trực tiếp, hoàn toàn, mà là một q trình nhờ đó tư duy mãi mà và không

ngừng tiến gần đến khách thể. Sự tiến gần ấy được bắt đầu từ trực quan sinh động.

Học viên: Trương Ngọc Dũng – Cao học Văn hoá học - Khoá 2011



Trang 9



Tiểu luận Chuyên đề Phương pháp nghiên cứu khoa học

V.I.Lênin viết: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu

tượng đến thực tiễn - đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự

nhận thức thực tại khách quan”[Nxb Tiến bộ Mátxcơva (1981), V.I.Lênin toàn tập,

t.29, tr.179]. Cơ sở, động lực và mục đích của tồn bộ q trình này là thực tiễn.

Thực tiễn đó cũng đồng thời là tiêu chuẩn của chân lý.

Nội dung của phép biện chứng duy vật không phải chỉ được thể hiện trong

những nguyên lý và quy luật trên đây, mà còn được thể hiện trong hàng loạt quy

luật về các mối quan hệ qua lại biện chứng giữa cái chung và cái riêng, nguyên

nhân và kết quả, tất nhiên và ngẫu nhiên, nội dung và hình thức, hiện tượng và bản

chất, khả năng và hiện thực....Tuy nhiên, những nguyên lý và quy luật kể trên là

những nguyên lý và quy luật cơ bản nhất.

2. Các nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của phép biện chứng duy vật.

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển của Phép

biện chứng duy vật là cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc lịch sử cụ thể và nguyên tắc phát triển.

2.1. Nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và thực tiễn.

Vì các mối liên hệ là sự tác động qua lại, chuyển hoá, quy định lẫn nhau giữa

các sự vật, hiện tượng và các mối liên hệ mang tính khách quan, mang tính phổ

biến nên trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiến con người phải tơn trọng

quan điểm tồn diện, phải tránh cách xem xét phiến diện.

Quan điểm tồn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật trong mối liên hệ

qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự

tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác, kể cả mối liên hệ trực tiếp và

mối liên hệ gián tiếp. Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật.

Đồng thời, quan điểm tồn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt từng mối

liên hệ, phải biết chú ý tới mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ

chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên, và lưu ý đến sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mối

Học viên: Trương Ngọc Dũng – Cao học Văn hoá học - Khoá 2011



Trang 10



Tiểu luận Chuyên đề Phương pháp nghiên cứu khoa học

liên hệ để hiểu rõ bản chất của sự vật và có phương pháp tác động phù hợp nhằm

đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của bản thân.

Trong hoạt động thực tế, theo quan điểm tồn diện, khi tác động vào sự vật,

chúng ta khơng những phải chú ý tới những mối liên hệ nội tại của nó mà còn phải

chú ý tới những mối liên hệ của sự vật ấy với các sự vật khác. Đồng thời, chúng ta

phải biết sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau để tác động

nhằm đem lại hiệu quả cao nhất. Để thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã

hội công bằng, dân chủ, văn minh", một mặt, chúng ta phải phát huy nội lực của đất

nước ta; mặt khác, phải biết tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách do xu hướng quốc

tế hóa mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và tồn cầu hóa kinh tế đưa lại.

Vì các mối liên hệ có tính da dạng, phong phú - sự vật, hiện tượng khác nhau,

không gian, thời gian khác nhau các mối liên hệ biểu hiện khác nhau nên trong hoạt

động nhận thức và hoạt động thực tiễn con người phải tôn trọng quan điểm lịch sử cụ thể.

Theo Lênin: “Quan điểm tồn diện đòi hỏi chúng ta khi phân tích sự vật phải

đặt nó trong mối liên hệ với sự vật và hiện tượng khác, phải xem xét tất cả các mặt,

các yếu tố, kể các cả mắc khâu trung gian, gián tiếp của chúng. Mặc dù trên thực

tế chúng ta khơng thể làm được điều đó một cách hồn tồn đầy đủ, chính xác

nhưng sự cần thiết phải xét tất cả mọi mặt sẽ đề phòng cho chúng ta khỏi phạm

phải sai lầm và sự cứng nhắc”.

2.2. Quan điểm lịch sử - cụ thể.

Quan điểm lịch sử - cụ thể đòi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật và tác

động vào sự vật phải chú ý điều kiện, hồn cảnh lịch sử - cụ thể, mơi trường cụ thể

trong đó sự vật sinh ra, tồn tại và phát triển. Thực tế cho thấy rằng, một luận điểm

nào đó là luận điểm khoa học trong điều kiện này, nhưng sẽ không là luận điểm

khoa học trong điều kiện khác. Vì vậy để xác định đúng đường lối, chủ trương của

từng giai đoạn cách mạng, của từng thời kỳ xây dựng đất nước, bao giờ Đảng ta

Học viên: Trương Ngọc Dũng – Cao học Văn hoá học - Khoá 2011



Trang 11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật mácxít.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×