Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Các nghiên cứu về tỷ suất sinh lợi cổ phiếu phát hành lần đầu ra công chúng so với tỷ suất sinh lợi thị trƣờng trong ngắn hạn

1 Các nghiên cứu về tỷ suất sinh lợi cổ phiếu phát hành lần đầu ra công chúng so với tỷ suất sinh lợi thị trƣờng trong ngắn hạn

Tải bản đầy đủ - 0trang

-7-



(1)



Định giá thấp đã tạo nên tỷ suất sinh lợi cao hơn tỷ suất sinh lợi thị



trƣờng trong ngắn hạn.

Kevin Rock (1986) đã xây dựng mơ hình về định giá thấp của các công ty phát

hành lần đầu ra công chúng và kết luận rằng các công ty thường định giá thấp là

do một sớ ngun nhân, trong đó ngun nhân chính là tính khơng chắc chắn về

giá trị của cổ phiếu được chào bán. Tính khơng chắc chắn sẽ ngày càng gia tăng

do sự bất cân xứng thông tin giữa ―nhà đầu tư có hiểu biết‖ và―nhà đầu tư thiếu

thơng tin‖. Do đó, để thu hút sự tham gia của ―nhà đầu tư thiếu thơng tin‖ thì tổ

chức phát hành thường định giá thấp. Bên cạnh đó, Ogden et al (2003) cho rằng

nguyên nhân khác của việc định giá thấp là giảm rủi ro tranh chấp đối với các tổ

chức bảo lãnh phát hành. Một số ý kiến khác trong đó có Allen and Faulhaber

(1989), Grinblatt and Hwang (1989) và Welch (1989) cho rằng cáccông ty tự

nguyện trong việc bán giá thấp cổ phiếu của họ như một cách phát đi tính hiệu về

định giá thấp. Điều này sẽ tạo sự thu hút các nhà đầu tư, bên cạnh sự cộng tác của

các chuyên gia phân tích sẽ tạo nên thơng tin tích cực khi giao dịch trên thị

trường thứ cấp.

Tại Việt Nam, Gavriel Ayi Ayayi (2011) thực hiện nghiên cứu ―Định giá thấp và

tỷ suất sinh lợi cổ phiếu so với tỷ suất sinh lợi thị trường trong dài hạn của việc

đấu giá lần đầu ra công chúng IPO: trường hợp của Việt Nam‖. Tổng số mẫu

nghiên cứu gồm 206 công ty thực hiện đấu giá từ tháng 2/2005 đến tháng 6/2007.

Phương pháp chính sử dụng định giá là DCF để tránh trường hợp các công ty nhà

nước có lợi nhuận âm hoặc khơng có lợi nhuận. Gavriel Ayi Ayayi đã rút ra một

số kết luận sau: Thứ nhất, các cuộc IPO ở Việt Nam bị chi phối bởi các doanh

nghiệp có vớn hóa lớn (các cơng ty nhà nước) chiếm 98.5% tổng số IPO và họ cố

gắng chọn thời điểm thích hợp nhất cho việc IPO của họ. Thứ hai, có sự khác biêt

trong hệ thớng đấu giá của các công ty ở Việt Nam và tạo ra tỷ suất sinh lợi từ khi

đấu giá đến khi niêm yết thay đổi bất thường (từ -93.63% đến 1,182.68%). Thứ

ba, trung bình tỷ suất sinh lợi trong ngày đầu tiên giao dịch khá thấp 0.58%.



-8-



(2)



Sự lạc quan quá mức của thị trƣờng là nguyên nhân gây ra tỷ suất



sinh lợi cao hơn so với thị trƣờng trong ngắ n ha ̣n

Purnanandam and Swaminathan (2004) trong nghiên cứu ―Phát hành lần đầu ra

cơng chúng IPO có thực sự được định giá thấp?‖ sử dụng các phương pháp định

giá là phương pháp bội số như PS, PE, P/EBITDA. Kết quả thống kê cơ bản cho

thấy IPO có xu hướng đem lại lợi nhuận trong 5 ngày giao dịch đầu tiên, tuy

nhiên giá trị trung vị cho thấy các công ty IPO định giá cao khi sử dụng phương

pháp bội số so sánh với các doanh nghiêp cùng ngành khoản 14%-50% phụ thuộc

vào phương pháp định giá được sử dụng. Những kết quả trên cho thấy các nhà

đầu tư thường quá lạc quan trong việc dự báo tăng trưởng và ít chú ý đến lợi

nhuận hiện tại trong giá trị của các công ty IPO. Cùng nghiên cứu đề tài như

Purnanandam and Swaminathan, Steven X. Zheng (2007) lại cho thấy trong ngắn

hạn các công ty định giá thấp với mong muốn tỷ suất sinh lợi cao hơn so với thị

trường. Tuy nhiên trong dài hạn các cơng ty IPO khơng có tỷ suất sinh lợi cao

hơn tỷ suất sinh lợi thị trường trong 5 năm sau khi IPO.

(3)



Nguồn cung hạn chế trong ngày giao dịch đầu tiên là nguyên nhân tạo



ra tỷ suất sinh lợi cao hơn so với tỷ suất sinh lợi thị trƣờng trong ngắ n ha ̣n

Zheng (2007) cho thấy nguồn cung giới hạn - được đo lường qua tỷ lệ số lượng

cổ phiếu tự do lưu hành (free float) chia cho số lượng cổ phiếu được phát hành

lần đầu, là nguyên nhân tạo ra tỷ suất sinh lợi cao hơn so với thị trường. Trong đó

nguồn cung hạn chế là do quy định về hạn chế tự do chuyển nhượng của cổ đông

nội bộ, cổ đông sáng lập, cổ đơng lớn trong vòng 180 ngày (6 tháng) kể từ ngày

chào bán. Bên cạnh đó, theo Ogden et al (2003) cho thấy trung vị (median) tỷ lệ

cổ phiếu bị hạn chế chuyển nhượng 6 tháng trong thời gian nghiên cứu 19912000 là 65%. Đồng thời, trong ngày giao dịch đầu tiên cổ phiếu không được thực

hiện các giao dịch bán khống (short sell). Với số lượng đặt mua quá mức khiến

những nhà đầu tư muốn mua chứng khoán trong đợt phát hành lần đầu ra công

chúng phải trả giá cao hơn so với giá chào bán. Một công ty IPO có khới lượng



-9-



đặt mua q mức sẽ dẫn đến giá tăng cao trong ngắn hạn trong ngày giao dịch đầu

tiên sau khi niêm yết (Ellis 2005 and Zheng 2007).

(4)



Nhu cầu cao và khối lƣợng giao dịch cũng là nguyên nhân đẩy giá cổ



phiếu trong ngày giao dịch đầu tiên tăng và dẫn đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu

IPO cao hơn so với tỷ suất sinh lợi thị trƣờng trong ngắ n ha ̣n

Theo Aggarwal (2003) tìm thấy khới lượng giao dịch trong ngày giao dịch đầu

tiên cao đột biến với mức trung bình chiếm 70% tổng sớ cổ phiếu được chào bán

IPO. Bên cạnh đó, Geczy et al (2002), Ellis (2006) cho rằng những nhà đầu tư tìm

kiếm lợi nhuận từ biến động giá cổ phiếu sẽ là những người góp phần gia tăng

khới lượng giao dịch. Ellis (2006) trong bài nghiên cứu ―Ai là người giao dịch

trong đợt phát hành lần đầu ra cơng chúng IPO? Góc nhìn từ ngày giao dịch đầu

tiên‖ cho thấy những nhà đầu tư kiếm lợi nhuận bằng việc mua đi bán lại

(Flippers) và các nhà đầu tư thường nhận cổ phiếu từ đợt phát hành lần đầu ra

công chúng và bán lại chúng trong một vài ngày sau đó cũng tạo nên ảnh hưởng

đến khối lượng giao dịch ngày đầu tiên. Cuối cùng ở tổ chức vi mô hơn, những

người mua bán (dealer) thường sắp xếp lượng hàng tồn kho từ đợt IPO để chơi

một trò chơi của người tạo lập thị trường (market maker) đới với chứng khốn

mới niêm yết, tạo nên khới lượng giao dịch lớn. Theo Ellis, có đến 25% khới

lượng giao dịch trung bình trong ngày giao dịch đầu tiên được giao dịch bởi

những nhà mua bán quốc tế (interdealer).

2.2 Các nghiên cứu về tỷ suất sinh lợi cổ phiếu phát hành lần đầu ra công

chúng so với tỷ suất sinh lợi thị trƣờng trong dài hạn

Ý kiến thứ nhất : Tỷ suất sinh lợi cổ phiếu phát hành lần đầu ra công chúng thấp

hơn tỷ suấ t sinh lợi thi ̣ trường trong dài hạn

Phần lớn các nghiên cứu của Loughran, Ritter and Rydqvist (1994), Ogden et al

(2003), Zheng (2007) đều cho rằng các cổ phiếu IPO có tỷ suất sinh lợi thấp hơn

tỷ suất sinh lợi thị trường trong dài hạn. Các nguyên nhân chủ yếu bao gồm:



-10-



(1)



Sự lạc quan quá mức và hành động thái quá của các nhà đầu tƣ.



Một vài đợt IPO thành công với việc định giá cao. Các nhà đầu tư kỳ vọng rằng

việc IPO thực hiện trước sẽ tạo lợi nhuận khi công ty thực hiện niêm yết. Nhiều

nhà đầu tư thất bại thừa nhận rằng tăng trưởng lợi nhuận trong ngắn hạn sẽ được

hòa nhập ngược lại trong dài hạn, thậm chí còn có thể bị lỗ. Hiện tượng này được

giải thích là do thị trường dần dần phản ảnh đúng với các hành động thái quá.

(2)



Vấn đề chi phí đại diện liên quan đến dòng tiền thu từ đợt IPO.



Zheng (2007) cho rằng vấn đề chi phí đại diện sẽ ảnh hưởng đến dòng tiền tăng

lên từ đợt IPO và sẽ được chuyển hóa làm IPO được định giá cao trong ngắn hạn

và tỷ suất sinh lợi cổ phiếu IPO tăng trưởng thấp hơn tỷ suất sinh lợi thị trường

(underperformance) trong dài hạn.

(3)



Sự không chắc chắn về giá trị của công ty IPO cũng ảnh hƣởng đến tỷ



suất sinh lợi của công ty.

Houge, Loughran, Suchanek and Yan (2001) tìm thấy các cơng ty có khoảng cách

giữa giá chào mua và chào bán rộng, tỷ lệ mua đi bán lại cao và niêm yết chậm

trễ có tỷ suất sinh lợi thấp hơn so với thị trường trong dài hạn. Những đặc điểm

này cho thấy sự không chắc chắn về giá trị cơng ty IPO có thể đem lại tỷ suất sinh

lợi cao hơn so với tỷ suất sinh lợi thị trường trong ngắn hạn nhưng lại có tỷ suất

sinh lợi thấp hơn tỷ suất sinh lợi thị trường trong dài hạn.

(4)



Hạn chế chuyển nhƣợng sẽ hết hiệu lực làm gia tăng nguồn cung trong



dài hạn.

Sau 180 ngày số lượng cổ phiếu bị hạn chế chuyển nhượng của cổ đông nội bộ và

cổ đông sáng lập sẽ hết hiệu lực. Theo Zheng (2007), Ogden et al (2003) tương

đương 65% cổ phiếu đang lưu hành bị hạn chế trong 6 tháng. Do đó, nguồn cung

cổ phiếu được phép giao dịch sẽ gia tăng làm giảm áp lực cầu cổ phiếu.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Các nghiên cứu về tỷ suất sinh lợi cổ phiếu phát hành lần đầu ra công chúng so với tỷ suất sinh lợi thị trƣờng trong ngắn hạn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×