Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



kinh tế theo phạm vi chi phí liên hợp nhỏ hơn tổng các chi phí riêng lẻ nên SC lớn hơn

0. SC càng lớn tính kinh tế theo phạm vi càng lớn. Theo đó:

SC > 0: chi phí sản xuất của cơng ty hợp nhất nhỏ hơn tổng chi phí sản xuất của

các công ty riêng lẻ, doanh nghiệp tiến hành hợp nhất mở rộng quy mô.

SC < 0: chi phí sản xuất của cơng ty hợp nhất lớn hơn tổng chi phí sản xuất của

các cơng ty riêng lẻ, doanh nghiệp khơng nên hợp nhất.

Tính kinh tế theo phạm vi được sử dụng trong việc phân tích chi phí tiết kiệm của

cơng ty thâu tóm sau giao dịch M&A. Thơng thường tiết kiệm chi phí đạt được từ giảm

biên chế, giảm các tiện ích phục vụ cơng việc hoặc các chi phí liên quan khơng cần

thiết khác khi hai bên đã sáp nhập. Vì vậy các doanh nghiệp muốn thực hiện sáp nhập,

mở rộng quy mô nên xem xét đến tính hiệu quả theo quy mơ để có thể đưa ra quyết

định.

2.1.2.



Lý thuyết về sự cộng hưởng trong hoạt động M&A



Theo lý thuyết về Định giá đầu tư (Aswath Damodaran, 2012) lý do giải thích cho

sự trả thêm đối với các thương vụ mua lại chính là khả năng cộng hưởng, tức giá trị

tăng thêm tiềm năng từ việc kết hợp hai công ty với nhau.

Sáp nhập doanh nghiệp (DN) là việc một hoặc một số DN chuyển toàn bộ tài sản,

quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một DN khác đồng thời chấm dứt

sự tồn tại của DN bị sáp nhập. Sáp nhập DN sẽ tạo ra tiềm lực mạnh hơn so với từng

DN riêng lẻ tồn tại và lượng giá trị mang lại cũng sẽ lớn hơn. Giá trị cộng hưởng là giá

trị tăng thêm do việc sáp nhập hai DN mang lại đồng thời cũng tạo ra những cơ hội mà

nếu các DN này đứng riêng lẻ sẽ khơng có được.

Cách xác định giá trị cộng hưởng: giả sử có hai DN A và B sáp nhập với nhau,

giá trị mới tạo ra là:

V(AB) > V(A) + V(B)



7



Trong đó, V(AB)



= Giá trị của công ty hợp nhất từ A và B (giá trị cộng



hưởng)

V(A)



= Giá trị của công ty A khi hoạt động độc lập



V(B)



= Giá trị của công ty B khi hoạt động độc lập



DN đi mua hoặc DN bán hoặc cả hai đều có khả năng hưởng giá trị tăng thêm

này. Thơng thường thì DN mua sẽ phải trả mức giá cao hơn giá trị thực của bên bán,

nghĩa là bên bán được nhận một phần chênh lệch giá trị (giá trị tăng thêm so với giá trị

thực). Tuy nhiên, bên mua chấp nhận trả một mức giá mua nào đó cũng phải trên cơ sở

cân nhắc những lợi ích được hưởng.

Nói một cách khác, trong điều kiện lý tưởng, bên mua sẽ chỉ mua và nhận sáp

nhập khi giá mua thoả mãn phương trình sau:

Chênh lệch giữa giá mua và giá trị thực < Giá trị cộng hưởng

Giá trị cộng hưởng là giá trị tăng thêm do việc sáp nhập hai DN mang lại đồng

thời tạo ra những cơ hội mà nếu các DN này đứng riêng lẻ sẽ khơng có được. Đó là sự

vượt trội ra ngồi những kỳ vọng của thị trường khi hai DN chưa sáp nhập (thể hiện

trong giá trị thực của mỗi DN) tức là có chênh lệch giá trị so với giá trị thực. Để xác

định giá trị cộng hưởng, điểm mấu chốt là phải xác định được nguồn tạo ra giá trị cộng

hưởng.

Theo Robert G. Eccles, Kersten L. Lanes và Thomas C. Wilson (1999), bên mua

thường xác định giá trị cộng hưởng do 5 yếu tố sau mang lại: tiết kiệm chi phí, cải

thiện doanh thu, cải thiện quy trình hoạt động, lợi ích về tài chính và lợi ích về thuế.

_ Tiết kiệm chi phí: Đây là yếu tố dễ thấy nhất và dễ ước lượng trong xác định

giá trị cộng hưởng. Thơng thường tiết kiệm chi phí đạt được từ: giảm biên chế,

giảm các tiện ích phục vụ cơng việc và các chi phí liên quan khơng cần thiết



8



khác khi hai bên đã sáp nhập hoặc giảm chi phí nhờ tính kinh tế của quy mơ.

Tiết kiệm chi phí đạt được sẽ có thể rất lớn nếu như hai DN tham gia sáp nhập

làm trong cùng ngành ở cùng một nước. Có ba lưu ý liên quan đến xác định

mức tiết kiệm chi phí. Một là, khái niệm về khoản mục chi ở những cơng ty

khác nhau có thể khác. Hai là, chi phí phát sinh ở những chỗ khác nhau phụ

thuộc vào cấu trúc của mỗi công ty. Bên mua có thể nhầm tưởng mình có khả

năng tiết giảm nhiều chi phí hành chính ở các phòng ban và của tồn cơng ty

hơn thực tế do bỏ sót ở đâu đó. Ba là, liên quan đến giảm biên chế, cũng có thể

xảy ra sai sót khi tính chi phí cắt giảm từ sa thải nhân viên.

_ Cải thiện doanh thu: Việc ước lượng được doanh thu tăng lên nhờ sáp nhập

khơng phải là cơng việc dễ dàng. Có một số quan điểm ủng hộ đưa nhân tố cải

thiện doanh thu (lượng tăng doanh thu) khi định giá trong khi một số thì

khơng. Bên khơng ủng hộ lập luận rằng, khi sáp nhập thì các khách hàng của

bên mua có thể phản ứng tiêu cực đối với những sản phẩm và giá của những

sản phẩm mới. Việc nhập cơ sở dữ liệu khách hàng của hai bên lại có thể dẫn

đến có quá nhiều đề nghị mua hàng đến một người bán khiến người bán gây áp

lực. Hoặc các đối thủ cạnh tranh có thể hạ giá bán để đáp trả lại một vụ mua

bán sáp nhập DN. Tuy nhiên, ngồi những hạn chế về ước lượng của nó, cải

thiện doanh thu có thể tạo ra giá trị thực. Đơi khi bên bán có thể mang đến

được những sản phẩm bổ sung hoặc có tính vượt trội cho mạng lưới phân phối

rộng khắp của bên mua. Trong trường hợp khác, các kênh phân phối của bên

bán có thể giúp tăng doanh số của các sản phẩm của bên mua. Một dạng nữa

của cải thiện doanh thu có được nhờ quy mô lớn mang lại được thêm doanh số

mà nếu để riêng lẻ sẽ không thể thu hút được lượng doanh thu này.

_ Cải thiện quy trình hoạt động: Tiết kiệm chi phí dẫn đến loại bỏ được sự

trùng lắp hoặc được chiết khấu nhờ mua với khối lượng lớn; cải thiện doanh



9



thu đạt được từ việc kết hợp các thế mạnh khác nhau của các DN. Ngược lại,

cải thiện quy trình hoạt động đạt được khi lãnh đạo các bên chuyển giao những

kinh nghiệm và kỹ năng lãnh đạo từ DN này sang DN kia. Kết quả của quá

trình này có thể dẫn đến tiết kiệm chi phí và cải thiện doanh thu. Giá trị cộng

hưởng của tiết kiệm chi phí, cải thiện doanh số và quy trình hoạt động tuy dễ

hiểu về khái niệm nhưng lại khó trong dự báo bằng con số cụ thể vì những

nguyên nhân như: áp lực về thời gian, giới hạn thông tin và tính bảo mật. Do

đó, ban lãnh đạo bên mua cần nghiên cứu kỹ các giả định trong tính tốn nhằm

đưa ra quyết định xác đáng nhất.

_ Lợi ích về tài chính: Giá trị cộng hưởng ở đây được thể hiện ở chỗ do tăng

quy mô của công ty sau sáp nhập mà tình hình tài chính có thể được cải thiện

hơn: tăng số dư tiền, tăng nguồn vốn hoạt động. Mặt khác, sáp nhập có thể

giúp bên bán có thể vay nợ với mức vay lớn hơn mà không ảnh hưởng đến xếp

hạng tín nhiệm của bên mua. Điều này dễ thấy trong ngành dịch vụ tài chính

ngân hàng vì sau sáp nhập DN này sẽ có quy mơ lớn hơn và hạn chế được rủi

ro nhiều hơn.

_ Lợi ích về thuế: Xem xét lợi ích về thuế do sáp nhập mang lại thường được

đặt ra. Tuy vậy, giá trị cộng hưởng do lợi ích về giảm thuế rất khó đánh giá

nên cần phân biệt giữa lợi ích về thuế do sáp nhập mang lại dẫn đến quyết định

sáp nhập và lợi ích về thuế khơng do sáp nhập mang lại khiến cho tổng số thuế

của DN sau sáp nhập ít nhất bằng hoặc thấp hơn thuế phải trả của hai công ty

riêng rẽ trước khi sáp nhập. Mục tiêu thuế do sáp nhập mang lại là giảm được

càng nhiều càng tốt một lần các chi phí chịu thuế có thể. Những chi phí đó bao

gồm các nghĩa vụ chuyển giao và vốn; việc thay đổi chủ sở hữu có thể đưa đến

tăng vốn hoặc giảm thuế do chuyển lỗ. Một trong những giá trị cộng hưởng

loại này mang lại thường là sự chuyển giao thương hiệu và các giá trị sở hữu



10



trí tuệ khác cho DN đang hưởng thuế thấp hơn. Nhưng phải chú ý: cơ cấu lại

các bộ phận ở trong nước để hưởng lợi về thuế; đưa thêm nợ vào những công

ty con đang phải chịu thuế cao ... những lợi ích về thuế như vậy sẽ khơng có

được ở hai DN riêng lẻ trước sáp nhập. Ngay cả khi lợi ích về thuế khơng từ

sáp nhập mang lại, các bên cũng không thể chỉ dừng ở lợi ích này mà cần xem

xét cả lợi ích thuế nhờ sáp nhập.

2.1.3.





Lý thuyết về thuế công ty đối với đầu tư



Ảnh hưởng của thuế công ty đến đầu tư

Quyết định đầu tư được quyết định bằng việc công ty thiết lập lợi ích biên và chi



phí đầu tư bằng nhau (PGS.TS Sử Đình Thành, 2009), các cơng ty ước tính tiền lời sẽ

nhận được từ đầu tư cho kỳ và chỉ đầu tư khi nào lợi ích lớn hơn chi phí. Khi có thuế

thu nhập, các cơng ty sẽ đầu tư ít hơn khi chính phủ phân phối thu nhập của họ qua

thuế cơng ty bởi vì tỷ suất tiền lời sau thuế của công ty đối với đầu tư phải đủ lớn hơn

để đáp ứng tỷ lệ tiền lời kỳ vọng. Lãi vay cũng được tính vào chi phí nên giảm trừ thu

nhập chịu thuế. Như vậy thuế đã tạo ra lá chắn thuế, nhằm khuyến khích doanh nghiệp

tài trợ vốn bằng nợ vay. Các nghiên cứu về phân tích chính sách thuế (PGS.TS Sử

Đình Thành, 2009) đã cho thấy lợi nhuận và lá chắn thuế có tác động đến quyết định

đầu tư.





Lợi ích thuế

Thuế là vấn đề mà tất cả các doanh nghiệp đều phải quan tâm. Trong thời kỳ kinh



tế khó khăn, khủng hoảng kéo dài như hiện nay, thuế không chỉ đơn thuần là một

khoản chi phí mà doanh nghiệp đóng góp vào ngân sách nhà nước, nó còn mang đến

những lợi ích vơ hình giúp các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh doanh. Vậy trong

hoạt động M&A các lợi ích thuế đó là gì? Làm sao để có được các lợi ích đó.



11



Theo Aswath Damodaran (2012) lợi ích thuế có thể phát sinh nhờ những quy định

về thuế đối với hoạt động mua lại hoặc do những khoản thua lỗ hoạt động thuần làm

giảm thu nhập. Do đó, một cơng ty có khả năng sinh lời mua lại một công ty hoạt động

kém hiệu quả có thể sử dụng khoản thua lỗ hoạt động thuần của công ty này để giảm

gánh nặng thuế của mình. Lợi ích thuế cũng có thể đạt được khi một cơng ty có khả

năng chi phí khấu hao, chi phí lãi vay sau vụ mua lại, nhờ đó giá trị của nó tăng lên.

Các vấn đề về lợi ích thuế tạo ra giá trị cộng hưởng trong hoạt động M&A đã

được trình bày trong tài liệu “Đi tìm giá trị cộng hưởng – Toàn cảnh và các thương vụ

M&A tiêu biểu” của Vũ Anh Dũng và Đặng Xuân Minh biên soạn. Trong hoạt động

M&A, lợi ích thuế muốn đạt được còn tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố: cấu trúc thương

vụ (mua lại vốn, tài sản…), loại hình công ty, quy định về thuế của quốc gia sở tại, …

khi một cơng ty giành quyền kiểm sốt một công ty mục tiêu đang thua lỗ, các khoản lỗ

của cơng ty mục tiêu có thể được kết chuyển sang để tính giảm thu nhập chịu thuế của

cơng ty mua trong các kỳ tương ứng. Khi đó, phần chênh lệch giữa thuế phải nộp

trước và sau thương vụ mua bán sáp nhập chính là phần lợi ích thuế mà thương vụ

đem lại cho cơng ty mua. Như vậy, chỉ có cơng ty mua là nhận được lợi ích thuế từ

thương vụ. Tuy nhiên, không phải trong bất cứ thương vụ mua bán sáp nhập nào cũng

có lợi ích thuế mà phải thỏa mãn những tiêu chí nhất định. Các điều kiện cần có bao

gồm:

_ Cơng ty mục tiêu có các khoản lỗ trong quá khứ hoặc tương lai hoặc cả hai.

_ Thương vụ là sáp nhập (pháp định hoặc bộ phận) hoặc hợp nhất. Khi đó, cơng

ty mục tiêu hoặc chấm dứt hoạt động hoặc trở thành công ty con của cơng ty

bên mua. Báo cáo tài chính hợp nhất sẽ ghi nhận các khoản lỗ của công ty mục

tiêu và ghi giảm thu nhập chịu thuế trong kỳ tương ứng. Trong trường hợp mua

lại tài sản và mua lại phần vốn (đủ để trở thành cổ đông lớn của cơng ty mục



12



tiêu nhưng vẫn chưa đạt tới mức có thể chi phối) thì khơng có lợi ích thuế cho

cơng ty mua.

Theo Donald M. DePamphilis (2011) lợi ích thuế mà một thương vụ đem lại cho

bên mua nhiều hay ít, trong khoảng thời gian dài hay ngắn còn phụ thuộc vào nhiều

yếu tố, chúng có thể là:

_ Mức độ thua lỗ của công ty mục tiêu là lớn hay nhỏ;

_ Khoảng thời gian thua lỗ hay khoảng thời gian lợi ích thuế phát huy tác dụng,

thời gian được phép tính giảm thu nhập chịu thuế. Điều này tùy thuộc quy định

của từng quốc gia cụ thể. Chẳng hạn, ở Việt Nam cho phép lỗ kinh doanh được

sử dụng để chuyển lỗ trong vòng 5 năm;

_ Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng;

_ Tình hình kinh doanh của bên mua: có lãi trong những năm cơng ty mục tiêu bị

thua lỗ hay không. Bên mua phải xác định sẽ có thu nhập cao trong tương lai

một cách liên tục, nếu khơng sẽ khơng đáp ứng u cầu để có thể tính giảm thu

nhập chịu thuế và các khoản lỗ của công ty mục tiêu sẽ hết hạn sử dụng.

Các yếu tố này sẽ có những tác động khác nhau đối với các cơng ty mục tiêu khác

nhau. Ngồi ra ta cũng cần nghiên cứu thêm các tác động khác đến thuế, các yếu tố này

cũng có thể được xác định như là đặc điểm của công ty mục tiêu như: quy mô, lợi

nhuận trước thuế, ngành, …Ta thấy, lợi ích thuế không phải lúc nào cũng xuất hiện

trong các thương vụ mua bán sáp nhập, song đối với nhiều cơng ty, nó lại có thể làm

tăng một lượng đáng kể giá mua hay giá trị của công ty mục tiêu.

Quy định pháp lý hiện hành cho phép tính lợi ích thuế từ sự kiện M&A. Một số

quốc gia có quy định rất cụ thể về cách thức giảm trừ thu nhập chịu thuế từ khoản lỗ

kết chuyển nhưng một số quốc gia khác thì khơng. Do đó, cũng còn tùy thuộc vào môi

trường pháp luật tại nơi mà các công ty hoạt động.



13



Căn cứ vào quan niệm trên về lợi ích thuế, ta sẽ có căn cứ để định lượng nó thơng

qua lỗ kinh doanh ròng của cơng ty mục tiêu trong các khoảng thời gian nhất định.

Thông thường, các cơng ty sẽ dựa vào tình hình kinh doanh cụ thể của công ty mục tiêu

và dự báo luồng tiền trong tương lai, từ kết quả có được ta sẽ có các yếu tố làm cơ sở

tính tốn lợi ích về thuế mà cơng ty có thể mang lại dựa vào phương pháp chiết khấu

dòng tiền DCF. Đây cũng chính là một căn cứ để các bên định giá công ty mục tiêu và

xác định giá mua. Về bản chất, lợi ích thuế cũng là một bộ phận của lợi ích cộng hưởng

- một mục tiêu mà các bên mong muốn có được trong bất cứ một thương vụ mua bán

sáp nhập nào. Xác định tác động của lợi ích thuế đến chi phí trong giao dịch M&A sẽ

giúp doanh nghiệp tối ưu được lợi nhuận và đẩy mạnh hoạt động M&A tại Việt Nam.

2.1.4.





Các khái niệm về M&A



Khái niệm về M&A: Trong Luật cạnh tranh 2004 định nghĩa rõ tại điều 17

Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài



sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng

thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập.

Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài

sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp

mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất.

Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài

sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm sốt, chi phối tồn bộ hoặc một ngành nghề của

doanh nghiệp bị mua lại.





Mục đích M&A: mục đích các doanh nghiệp thực hiện M&A khác nhau nhưng

nhìn chung là nhằm đạt được các lợi ích phổ biến sau

_ Hợp lực thay cạnh tranh;

_ Nâng cao hiệu quả;



14



_ Tham vọng bành trướng tổ chức và tập trung quyền lực thị trường;

_ Giảm chi phí gia nhập thị trường;

_ Thực hiện chiến lược đa dạng hóa và dịch chuyển trong chuỗi giá trị;

_ Đầu cơ;





Các hình thức M&A:

Xét về kênh giao dịch: Mua bán & Sáp nhập (M&A) có thể tồn tại ở các kênh



như: phát hành đại chúng lần đầu (IPO), phát hành riêng lẻ cho đối tác chiến lược, hợp

tác đầu tư với đối tác chiến lược, chuyển nhượng dự án.

Xét về đối tượng giao dịch: M&A có thể chia cơ bản thành 2 hình thức là mua tài

sản và giao dịch mua cổ phiếu.

Mua tài sản

Là việc một cơng ty mua lại tồn bộ hoặc

Khái



một phần tài sản của một công ty khác và



niệm



đồng thời diễn ra việc dịch chuyển quyền

sở hữu.

Trong hình thức này, người mua có

quyền chọn lựa tài sản mua cũng như một

số khoản nợ. Việc này tránh cho bên mua



Ưu

điểm



khỏi những khoản nợ khơng lường trước

được và kiểm sốt được giao dịch.



Mua cổ phiếu

Là việc một cơng ty mua lại

phần lớn hoặc tồn bộ cổ phiếu

của một công ty khác và trở

thành cổ đơng lớn nhất của

cơng ty đó.

Do chỉ mua cổ phiếu của cơng

ty bị mua lại nên sẽ khơng có

sự pha lỗng cổ đơng như sáp

nhập.



Người mua chỉ phải làm việc với người Q trình diễn ra nhanh chóng

đại diện theo ủy quyền của HĐQT hay và dễ dàng hơn so với mua tài

HĐTV của bên bán chứ không phải mất sản, bởi giảm thiểu được nhiều

công sức đàm phán với nhiều cổ đơng thủ tục.



15



như hình thức mua cổ phiếu



Tốn kém về thời gian, công sức và chi Người mua có thể gặp phải

Nhược

điểm



phí để thẩm định, định giá nhiều loại tài những khoản nợ có thể gây ra

sản, chuẩn bị thủ tục, giấy tờ để chuyển “tranh chấp không dự tính

quyền sở hữu làm cho giao dich trở nên được” (môi trường, thuế, kiện

cồng kềnh.







tụng của bên thứ ba)



Các phương thức tiến hành M&A:

_ Mua cổ phiếu: thông qua việc tham gia mua cổ phần khi công ty tăng vốn điều

lệ hoặc đấu giá phát hành cổ phiếu ra cơng chúng. Đây là hình thức thâu tóm

một phần nhưng đủ để tham gia quản trị điều hành và định đoạt quyền sở hữu

theo mục tiêu chiến lược của bên mua.

_ Mua gom cổ phiếu: để giành quyền sở hữu và chi phối cũng là một chiến lược

được nhiều công ty thực hiện. Phương thức này đã xảy ra tại Việt Nam từ nửa

cuối năm 2008, khi thị trường chứng khốn sụt giảm và nhiều cơng ty niêm yết

có giá trị vốn hóa thấp đã trở thành mục tiêu bị thu gom.

_ Hoán đổi/chuyển đổi cổ phiếu (stock swap): thường diễn ra đối với những

cơng ty có mối liên hệ chặt chẽ với nhau như trong cùng một tập đoàn. Đối với

trường hợp này, vấn đề quan trọng nhất là thẩm định, định giá để đảm bảo lợi

ích của các cổ đơng của các bên, còn về chiến lược kinh doanh hoặc các thủ

tục pháp lý thường không bị ảnh hưởng hay xáo trộn.

_ Mua lại một phần doanh nghiệp hoặc tài sản doanh nghiệp: đây cũng là một

cách để thực hiện chiến lược M&A. Trong trường hợp này, doanh nghiệp đi

thâu tóm chỉ mua một phần hoặc một bộ phận tài sản của doanh nghiệp bán mà

không tham gia sở hữu tại doanh nghiệp bán. Phần bán đi có thể là tài sản hữu



16



hình (nhà xưởng, máy móc, gắn liền với quyền sử dụng đất đai …) hoặc vơ

hình (thương hiệu, bản quyền, đội ngũ nhân sự, kênh phân phối, chuyển

nhượng một phần hay toàn bộ dự án …) được tách ra khỏi công ty bán.

_ Mua lại một dự án bất động sản: được tiến hành khá phổ biến tại Việt Nam,

đặc biệt đối với những doanh nghiệp đầu tư phát triển bất động sản. Thực chất,

bất động sản cũng được coi là một loại tài sản và về lý thuyết sẽ được thực

hiện như phần đã đề cập ở trên về mua một phần hoặc tài sản doanh nghiệp.

Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp phát triển các dự án bất động sản, thuật

ngữ “nhà đầu tư thứ cấp” đã trở nên phổ biến hơn là M&A. Trong lĩnh vực

này, một số doanh nghiệp có thế mạnh và tiềm lực để lấy được những dự án

lớn nhưng khi triển khai thì chia nhỏ ra “bán lại” cho các nhà đầu tư thứ cấp để

khai thác.

_ Mua nợ: cũng là một phương thức tiến hành M&A gián tiếp. Khi một doanh

nghiệp mất khả năng thanh khoản và không thể trả nợ, chủ nợ có thể tìm một

doanh nghiệp có khả năng tài chính mua lại phần nợ với giá thỏa thuận. Doanh

nghiệp mua nợ trở thành chủ nợ mới và có thể thỏa thuận để chuyển đổi khoản

nợ thành vốn cổ phần và thực thi quyền sở hữu. Trường hợp này thường diễn

ra đối với chủ nợ cũ là ngân hàng. Thay vì để cho doanh nghiệp phá sản, cách

tốt nhất là ngân hàng bán nợ với mức giá thấp hơn giá trị khoản nợ. Doanh

nghiệp mua nợ nhìn chung hướng tới việc chuyển đổi khoản nợ thành cổ phần

để can thiệp cứu doanh nghiệp hơn là kỳ vọng nhận trả nợ.

2.2. Cơ sở thực tiễn và các nghiên cứu liên quan

2.2.1.



Tác động của thuế đến M&A



Alan J. Auerbach và David Reishus (1987) đã có bài nghiên cứu “The Impact of

Taxation on Merger and Acquisition” tìm hiểu tác động của thuế đến M&A. Auerbach

tập trung nghiên cứu về chính sách thuế ở Mỹ, trong đó các ưu đãi thuế có được sử



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×