Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây:

2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây:

Tải bản đầy đủ - 0trang

17



trưởng hết mức tiềm năng và ổn định. Đồng thời tồn bộ tiết kiệm sẽ chủn

hóa thành đầu tư.

 Mức sản lượng thực tế Y phụ thuộc vào lượng lao động L, lượng tư

bản K vài năng suất lao động A. Từ đó, ta có một hàm sản xuất vĩ mơ Y =

F(A,L,K). Giả thiết là hàm này có dạng Cobb-Douglas, tức là:



 Nền kinh tế đóng cửa và khơng có sự can thiệp của Chính phủ.

 Có sự khấu hao tư bản. Khi có đầu tư mới, trữ lượng vốn tăng lên.

Nhưng đồng thời, vốn cũng bị khấu hao theo thời gian. Khi đó lượng vốn mới

có sẽ bằng lượng vốn mới tạo ra từ đầu tư, trừ đi các khoản hao mòn.

 Tư bản K và lao động L tuân theo Quy luật lợi tức biên giảm dần. Có

nghĩa là khi tăng k thì ban đầu y tăng rất nhanh đến một lúc nào đó nó tăng

chậm lại.

Một số kết luận của mơ hình Solow:

 Đầu tiên, mơ hình này chỉ ra trạng thái dừng của nền kinh tế. Trạng

thái dừng là điểm cân bằng mà ở đó lượng vốn giữ ngun khơng đổi, bởi vì

lượng đầu tư để tạo ra vốn mới mỗi năm chỉ đủ để bù trừ phần vốn bị hao mòn.

Khi vốn khơng tăng thì sản lượng cũng sẽ khơng tăng. Vì vậy, ở trạng thái

dừng, lượng vốn trên một lao động là cố định, và sản lượng trên một lao động

là cố định. Vốn và lao động khơng tăng thì tổng sản lượng cũng là cố định. Đây

là hệ quả của hàm sản xuất có hiệu suất biên giảm dần. Nếu vốn tiếp tục tăng,

sản lượng sẽ tăng nhưng với tốc độ giảm dần. Do vậy, thu nhập dành cho tiết

kiệm cũng tăng với tốc độ giảm dần, và đầu tư tăng cũng với tốc độ giảm dần.

Vì vậy, ln ln tồn tại một “trạng thái dừng” của nền kinh tế, nơi mà mọi



18



biến số đều hội tụ về một giá trị cố định. Như vậy, mơ hình Solow dự đốn rằng

những nước có tăng trưởng dân số cao hơn sẽ có mức vốn và thu nhập trên lao

động thấp hơn trong dài hạn.

 Mơ hình giải thích được sự tăng trưởng đều đặn của thu nhập bình

quân một số nước là do tốc độ tăng trưởng về cơng nghệ. Còn tốc độ tăng

trưởng tổng sản lượng Y là do tăng trưởng lao động và tăng trưởng công nghệ

kết hợp.

2.2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm:

2.2.2.1 Tác động của FDI lên tăng trưởng kinh tế:

FDI dường như mang lại nhiều lợi ích ngồi việc tăng vốn cổ phần trong

nước mà còn tác động tích cực đến tăng trưởng năng suất thông qua chuyển

giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý. FDI có xu hướng ổn định hơn, và sẽ ít

gây hậu quả hơn so với những loại khác. Tuy nhiên, tác động của FDI lên tăng

trưởng vẫn còn là một bài tốn khó đối với các nhà kinh tế học. Kết quả đạt

được rất đa dạng: chẳng hạn, Soto (2000) sử dụng dữ liệu của 44 quốc gia trong

giai đoạn 1986-1997 nghiên cứu tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế với

phương pháp ước lượng GMM sai phân. Kết quả cho thấy dòng vốn FDI tác

động dương và có ý nghĩa thống kê đối với tăng trưởng kinh tế. Li và Liu

(2005) sử dụng dữ liệu của 84 quốc gia giai đoạn 1979-1999 để đánh giá tác

động của dòng vốn FDI đến tăng trưởng kinh tế. Kết quả cho thấy FDI tác động

mạnh đến tăng trưởng kinh tế ở các nước phát triển cũng như đang phát triển.

Borensztein và Lee (1998) đã thực hiện phân tích hồi quy trên 69 quốc

gia đang phát triển cho những năm từ 1970-1979, tác giả đã đưa ra bằng chứng



19



rằng FDI là phương tiện quan trọng trong việc chủn giao cơng nghệ và đóng

góp nhiều đến tăng trưởng kinh tế.

Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa FDI, xuất khẩu và tăng trưởng, với

dữ liệu thời kì từ 1970 đến 2005 của India, Pakistan, Malaysia, Thailand, Chile

và Mexico bằng mơ hình VECM và kiểm định quan hệ nhân quả Granger,

Miankhel, Thangavelu (2009) cho thấy tồn tại một mối quan hệ trong dài hạn

giữa FDI với tốc độ tăng trưởng ở các nước Ấn độ, Malaysia, Chi Lê.

Tuy nhiên, như đã nói, kết quả nghiên cứu là có nhiều đối nghịch. Kose

(2006) lại kết luận rằng trên góc độ lý thuyết kinh tế vĩ mơ thì các dòng vốn

quốc tế có rất ít tác động tích cực lên tăng trưởng kinh tế, nhưng ông cũng thấy

rằng yếu tố thể chế đóng một vai trò quan trọng trong việc thu hút FDI. Alfaro

và Ozcan (2009) cho rằng những tác động tổng quan của FDI lên tổng sản

lượng và tăng trưởng kinh tế của một quốc gia là không rõ ràng.

Bende-Nabende et al. (2003) tìm thấy FDI có tác động dương đáng kể

đối với các nước kém phát triển ở châu Á như Philippines và Thái Lan, nhưng

đóng một vai trò tiêu cực ở các quốc gia hay vùng lãnh thổ phát triển hơn về kinh

tế như Nhật Bản và Đài Loan. Durham (2004) điều tra về vai trò của FDI tới

tăng trưởng của 80 quốc gia giai đoạn 1979-1998 đã khơng tìm thấy mối quan

hệ dương giữa hai biến và lập luận rằng tác động của FDI phụ thuộc vào khả

năng hấp thụ của nước nhận đầu tư. Gorg và Greenaway (2004) cũng tiến hành

những phân tích lý thuyết lại đưa ra kết luận rằng FDI hầu như tạo ra những tác

động tiêu cực cho tăng trưởng kinh tế.

Đóng góp khá nhiều vào các tranh luận xoay quanh mối quan hệ tích cực

hay tiêu cực của FDI lên tăng trưởng kinh tế phải kể đến bài nghiên cứu của tác



20



giả Lipsey và Sjöholm (2005) xem xét tác động của FDI tới các nước sở tại và

đã thấy các kết quả khác nhau ngay cả khi sử dụng kỹ thuật ước lượng, dữ liệu

và khoảng thời gian tương tự. Nguyên nhân là do thể chế thị trường lao động

(luật lao động) ảnh hưởng tới hiệu ứng lan tỏa tiền lương, hoặc quy mô thị

trường sở hữu nhỏ, lạc hậu ảnh hưởng tới sự cạnh tranh với các cơng ty nước

ngồi khác... Ngồi ra, các doanh nghiệp FDI còn làm suy giảm tiền lương và

việc làm tại nước sở tại bằng cách di chuyển sản xuất ra nước ngoài. Họ ép tiền

lương ở nước sở tại bằng cách khai thác công nhân có năng lực yếu hơn, dẫn tới

bóp nghẹt tăng trưởng và cản trở tiến bộ công nghệ. Như vậy, sự không đồng

nhất trong các yếu tố nước sở tại hay còn được gọi là "năng lực hấp thụ" chính

là nguồn gốc cho những phát hiện mâu thuẫn nhau trong các nghiên cứu thực

nghiệm.

Chúng ta tiếp tục tìm hiểu sự ảnh hưởng của FDI tới tăng trưởng kinh tế

thông qua phương trình tăng trưởng. Mankiw, Romer và Weil (1992) nghiên

cứu sự phù hợp của mơ hình tăng trưởng Solow và thấy rằng tiết kiệm cũng

như tăng trưởng dân số đều ảnh hưởng đến thu nhập. Những nước có tỷ lệ tiết

kiệm cao hơn thì nhanh giàu có hơn, nước có tỷ lệ tăng trưởng dân số cao hơn

thì nhanh nghèo hơn. Nhưng xu hướng gần đây các nhà kinh tế đã bác bỏ mơ

hình tăng trưởng Solow và ủng hộ mơ hình tăng trưởng nội sinh giả định rằng

các nước đang từ quá trình năng động và chuyển dần sang trạng thái ổn định.

Do đó, đã xuất hiện các phương trình hồi quy phân tích vai trò của FDI là

nguồn gốc của tăng trưởng bao gồm GDP và các biến khác nhằm mục đích giải

thích sự khác biệt về sự ổn định của các quốc gia khác nhau.

Tuy nhiên, khi nghiên cứu về vấn đề này, ta mở rộng vai trò của FDI và

nhận thấy: trong mơ hình tăng trưởng nội sinh, đầu tư và tiến bộ cơng nghệ có

mối quan hệ chặt chẽ với nhau và tương tác với các nguồn khác của tăng trưởng



21



để xác định được con đường phát triển trong trạng thái ổn định của các quốc

gia. Yao và Wei (2007) có nói lý thuyết tăng trưởng nội sinh nhấn mạnh vai trò

của khoa học và cơng nghệ, nguồn lực và các yếu tố bên ngồi. Trong đó,

nguồn lực là điều kiện cơ bản nhất cho một cuộc cơng nghiệp hóa, đổi mới và

tạo ra tri thức thông qua việc vừa học, vừa làm và học tập bằng sự quan sát.

Ngồi ra, chính sách của Chính phủ và tự do hóa tài chính cũng là điều kiện

quan trọng trong việc bắt kịp sự phát triển kinh tế. Trường hợp này, ta có thể

nhắc tới sự thất bại của Trung Quốc vào trước khi cải cách kinh tế so với các

nước Phương Tây vì lúc bấy giờ họ sử dụng chính sách đóng cửa, tự chủ mặc

dù giáo dục phát triển khá tốt. Đến năm 1978, kinh tế Trung Quốc đã có cải tiến

nhờ chính sách cải cách tự do thị trường. Bên cạnh đó, khả năng tạo ra và áp

dụng công nghệ mới như viễn thông, Internet giúp ta bắt chước và áp dụng một

cách nhanh chóng hơn, cải thiện được rào cản về tiếp thị thông tin giữa các

vùng trong nước. Thông qua FDI các nước sẽ tăng cường nhập khẩu trực tiếp

công nghệ, nhờ đó mà đảm bảo được một thị phần sản phẩm nhất định với chi

phí sản xuất rẻ, nâng cao lợi nhuận và mở rộng lợi thế cạnh tranh. Lý thuyết

còn làm rõ được sự khác nhau giữa FDI và đầu tư trong nước (DI): Trong khi

DI là một điều kiện cần thiết cho sự phát triển về sản xuất và tiến bộ kỹ thuật,

nhưng nó lại khơng cho phép việc tận dụng lợi thế từ công nghệ tiên tiến của

các nước phát triển thì FDI lại làm tăng tốc độ phát triển kinh tế từ việc áp dụng

công nghệ của các nước sở tại kết hợp với việc sử dụng công nghệ mới, tiên

tiến từ các nước khác. Sự khác biệt này là do các công ty đa quốc gia muốn tối

đa hóa lợi nhuận đầu tư của họ ở các nước sở tại. Mặt khác, các công ty trong

nước cũng phải học hỏi về cách thức tổ chức và kinh nghiệm quản lý từ các

công ty đa quốc gia. Việc này làm tăng cạnh tranh giữa các công ty có vốn đầu

tư trong nước và nước ngồi, nhờ đó làm tăng việc sử dụng hiệu quả nguồn lực

trong quá trình sản xuất.



22



Một số nhà nghiên cứu cũng cho rằng những tác động của FDI tới tăng

trưởng kinh tế dự kiến sẽ có hai phần (De Mello, 1999; Kim và Seo, 2003). Đầu

tiên, các mối liên hệ giữa FDI và tăng trưởng có thể liên quan đến tác động của

FDI đối với việc tích lũy vốn. Dòng vốn dường như được khuyến khích nếu có

sự kết hợp giữa các yếu tố đầu vào mới và kỹ thuật nước ngoài trong quá trình

sản xuất. Thứ hai, FDI dự kiến sẽ đẩy mạnh tăng trưởng bằng cách tăng năng

suất ở các nước sở tại thông qua chuyển giao công nghệ, nâng cao trình độ

người lao động và phương thức quản lý mới. Như vậy, FDI dường như là cách

trực tiếp nhất và hiệu quả nhất trong các nền kinh tế tiên tiến nhất, và do đó là

một cơ chế quan trọng của hội nhập kinh tế.

2.2.2.2 FDI và hiệu ứng lan tỏa công nghệ:

Tại sao các quốc gia cố gắng để thu hút đầu tư nước ngoài? Sự thật là

hầu hết các quốc gia nhận nguồn vốn FDI, đều mong muốn nhận được những

lợi ích đi kèm với chuyển giao nguồn vốn từ hiệu ứng lan tỏa do FDI tạo ra.

Những lợi ích này chính là tiếp thu công nghệ hiện đại bao gồm cả sản phẩm,

quy trình, cơng nghệ phân phối, cũng như kỹ năng quản lý, đào tạo nguồn nhân

lực. Blomstrom, Jian-Ye Wang (1992) và Rodriguez-Glare (1996) cho rằng FDI

có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của nước sở tại thông qua chuyển giao công

nghệ và hiệu ứng lan tỏa. Như vậy, tốc độ tăng trưởng ở các nước đang phát

triển một phần được giải thích bởi q trình bắt kịp trình độ cơng nghệ.

Ngồi ra, sự lan truyền cơng nghệ có thể chủn từ nơi này đến nơi khác

thông qua nhiều kênh và kênh quan trọng nhất là thông qua con đường cạnh

tranh (Blomstrom và Wolff, 1994). Cụ thể là cơng ty trong nước hoạt động có

thể bị ràng buộc bởi sự cạnh tranh đối với công ty nước ngồi và làm cho mình

hiệu quả hơn bằng cách đầu tư về quy mô, nguồn lực, hoặc nhập khẩu cơng



23



nghệ mới. Khi cơng ty nước ngồi đầu tư vào một quốc gia, quyết định của các

nhà đầu tư trong nước sẽ bị ảnh hưởng. Một mặt, FDI có thể lấn át đầu tư trong

nước nếu các công ty nước ngồi đầu tư tài trợ cho họ thơng qua vay ở nước sở

tại, do đó làm tăng sự quan tâm của nước sở tại. Với tỷ lệ sự gia tăng đầu tư

nước ngồi có thể dẫn đến sự gia tăng đầu tư trong nước. Bên cạnh đó, cơng ty

trong nước có thể cải thiện năng suất của họ như là một kết quả của việc

chuyển giao qua lại giữa các mối liên kết với các chi nhánh của công ty đa quốc

gia. Họ có thể bắt chước cơng nghệ của các công ty, hoặc thuê người lao động

được đào tạo bởi các cơng ty này. Ngồi ra, các cơng ty đa quốc gia có lợi thế

cạnh tranh trong việc thâm nhập thị trường thế giới, chẳng hạn như kinh

nghiệm và kiến thức về tiếp thị quốc tế, mạng lưới phân phối quốc tế, và quyền

lực vận động hành lang ở đất nước họ. Nhờ đó, các cơng ty đa quốc gia có thể

mở đường cho các cơng ty trong nước gia tăng nhập khẩu bằng cách tạo ra cơ

sở hạ tầng, giao thơng vận tải... Ví dụ đơn giản nhất của một hiệu ứng lan tỏa là

trường hợp một công ty trong nước cải thiện năng suất của nó bằng cách sao

chép một số công nghệ được sử dụng bởi chi nhánh của các công ty đa quốc gia

khi hoạt động tại thị trường nội địa. Nó xảy ra nếu sự xâm nhập của FDI dẫn

đến cạnh tranh gay gắt hơn giữa các công ty trong nước và công ty nước ngồi,

do đó cơng ty trong nước buộc phải sử dụng cơng nghệ hiện có và các nguồn

lực hiệu quả hơn. Điều này phù hợp với khái niệm ngoại tác lan truyền cơng

nghệ.

Luận văn tiếp tục tìm hiểu thêm một số nghiên cứu gần đây, tiêu biểu là

bài nghiên cứu của Sadayuki Takii (2011) đã giải quyết câu hỏi liệu rằng tác

động đến tăng trưởng kinh tế của dòng vốn FDI có khác nhau đối với nguồn

gốc các nhà đầu tư khác nhau hay không. Mẫu nghiên cứu là các cơng ty sản

xuất ở Indonesia trong thời kì 1990-2003. Tác giả sử dụng phân tích thống kê



24



mơ tả và hồi quy với dữ liệu bảng. Đầu tiên, đối với phân tích thống kê mơ tả

ơng tìm ra rằng các cơng ty đa quốc gia (Multinational corporation – MNCs)

đến từ Nhật Bản chiếm tỉ trọng việc làm và giá trị gia tăng lớn trong ngành sản

xuất lớn và trung bình ở Indonesia mà nhiều hơn sự kết hợp của các công ty đa

quốc gia khác ngoài khu vực Châu Á. Điều này cho thấy sự có mặt của các

cơng ty đa quốc gia bao gồm Nhật Bản đã đóng góp đáng kể đến tăng trưởng

kinh tế của Indonesia trong giai đoạn này. Thứ hai, đặc tính của các MNCs khu

vực Đơng Á khác biệt so với các MNCs Nhật Bản và ngồi Châu Á về mức độ

thâm dụng vốn và cơng nghệ. Năng suất lao động của các MNCs Đông Á thấp

hơn các MNCs khác nhưng lại khá tương đồng với các công ty nội địa ở

Indonesia. Bằng phương pháp hồi quy ước lượng biến phụ thuộc là năng suất

lao động của các công ty nội địa, ông nhận thấy rằng hiệu ứng lan tỏa năng suất

lao động của các MNCs Đơng Á mạnh hơn các MNCs Nhật Bản và ngồi Châu

Á, điều này cho thấy rằng khoảng cách về công nghệ lớn giữa các cơng ty trong

nước và nước ngồi làm giảm cường độ của hiệu ứng lan tỏa công nghệ. Kết

quả ủng hộ quan điểm rằng sự phù hợp của công nghệ là một yếu tố quyết định

quan trọng của tác động lan tỏa năng suất. Hơn nữa, công nghệ và sản phẩm

tương đồng thúc đẩy cạnh tranh cao hơn, mà có thể buộc doanh nghiệp trong

nước nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. Thứ ba, các MNCs Nhật Bản

truyền dẫn hiệu ứng lan tỏa năng suất tích cực đến các công ty nội địa trong khi

hiệu ứng này khơng tìm thấy ở các MNCs ngồi Châu Á. Điều này cho thấy

rằng các MNCs Nhật Bản đóng góp vào ngành sản xuất của Indonesia khơng

chỉ về khía cạnh tăng trưởng việc làm và giá trị tăng thêm mà còn tạo ra hiệu

ứng lan tỏa năng suất đến các cơng ty nội địa. Cuối cùng, kết quả phân tích cho

thấy tác động tích cực của các MNCs giảm sau cuộc khủng hoảng 1997. Điều

này cho thấy hiệu ứng lan tỏa phụ thuộc vào chu kì của nền kinh tế.



25



Alfaro và Ozcan (2009) cũng đã thống nhất rằng FDI giúp nâng cao

công nghệ của quốc gia nhận đầu tư, nâng cao tay nghề và kỹ năng của lao

động. Gorg và Greenaway (2004) lại khẳng định rằng những doanh nghiệp

nước ngoài và các cơng ty nước ngồi có tác động xấu lên những công ty nội

địa, làm giảm năng lực sản xuất của các công ty nội địa.

Tiếp theo, chúng ta có thể nhắc tới “hiệu ứng lan tỏa tiền lương”. Tác

động này có thể là tích cực hoặc tiêu cực. Cụ thể, khi các cơng ty nước ngồi

trả lương cao hơn cho lao động trong nước làm tăng mức lương trung bình.

Điều này gây ra hiệu ứng lan tỏa sang các cơng ty trong nước, đó là tác động

tích cực. Nhưng nếu các cơng ty nước ngồi th được những nguồn lao động

tốt nhất (do trả lương cao hơn) và chỉ để lại nguồn lao động có chất lượng thấp

hơn cho các cơng ty trong nước thì đó lại là tiêu cực. Ngun nhân sâu xa chính

là do mơi trường thể chế của quốc gia đó. Lipsey và Sjưholm (2005) đã nghiên

cứu vì sao tác động của “hiệu ứng lan tỏa” có các kết quả khác nhau. Đối với

các quốc gia có luật lao động hạn chế thì sẽ có tác động lan tỏa tiền lương tiêu

cực. Đối với các quốc gia trong đó khu vực sở hữu trong nước quá nhỏ hoặc

quá lạc hậu cũng sẽ bị nghiền nát bởi sự cạnh tranh với các cơng ty nước ngồi.

2.2.2.3 Khả năng hấp thụ dòng vốn FDI:

Các nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy hiệu quả tác động của FDI

đến tăng trưởng kinh tế khơng phải là tự động, nó phụ thuộc vào một số yếu tố

nhất định hay gọi là “khả năng hấp thụ” của nước sở tại (nguồn nhân lực, độ

mở thương mại, thị trường tài chính, chất lượng cơ sở hạ tầng, giao thơng vận

tải,…). Điều đó góp phần lý giải tại sao tác động của dòng vốn FDI là hoàn toàn

khác nhau giữa các quốc gia có cùng mức độ phát triển, cùng lĩnh vực và cùng

loại cơng ty. Chính xác là, nghiên cứu xác định rằng khả năng một quốc gia có



26



thể đạt được thuận lợi từ ảnh hưởng của FDI dựa vào một loạt các yếu tố sau

đây:

Nguồn nhân lực: FDI góp phần tăng trưởng kinh tế quốc gia khi lực

lượng lao động đạt được mức độ nhất định của tiêu chuẩn giáo dục. Borensztein

và Lee (1998) sử dụng dữ liệu của 69 nước đang phát triển lập luận rằng việc

chuyển giao công nghệ và hiệu quả lan toả không xuất hiện tự động mà phụ thuộc

vào khả năng hấp thụ của nước sở tại được quyết định chủ yếu bởi các điều kiện

về nguồn nhân lực. De Mello (1999) cũng cho rằng vốn FDI có thể góp phần

vào tăng trưởng kinh tế nơi chuyển giao công nghệ thông qua đào tạo lao động,

mua lại kỹ năng, phương thức quản lý mới và sắp xếp tổ chức.

Athukorala và Menon (1995) cho thấy FDI tác động đến Malaysia về

chuyển giao công nghệ và cải thiện kỹ năng của lực lượng lao động. Như vậy,

FDI góp phần vào tăng trưởng kinh tế chỉ khi có một khả năng hấp thụ đầy đủ

cơng nghệ tiên tiến có sẵn trong nền kinh tế cụ thể là sở hữu một lực lượng lao

động có trình độ cao để khai thác tốt hiệu ứng lan tỏa của FDI.

Thị trường tài chính: thị trường tài chính nội địa phát triển tốt là một

cơng cụ phân bổ hiệu quả các dòng tài chính nước ngồi (bao gồm cả FDI) góp

phần cạnh tranh với các dự án đầu tư. Hermes và Lensink (2003) có viết sự phát

triển hệ thống tài chính của nước sở tại là điều kiện tiên quyết quan trọng trong

tác động của FDI và tăng trưởng (tập trung hầu hết ở Mỹ Latinh và Châu Á):

Nó giúp phân bổ hiệu quả nguồn lực, cải thiện khả năng hấp thụ đối với dòng

vốn FDI. FDI chỉ có thể đóng góp vào tăng trưởng kinh tế thông qua hiệu ứng

lan tỏa khi có một khả năng hấp thụ đầy đủ ở nước sở tại. Hiệu ứng lan tỏa

công nghệ hiệu quả hơn khi nó hiện diện trong mơi trường hoạt động tốt, đảm

bảo sự cạnh tranh, tăng cường trao đổi kiến thức giữa các cơng ty. Ơng cũng



27



xem xét trong bối cảnh các nước kém phát triển và thấy rằng FDI có tỷ lệ thuận

với tăng trưởng kinh tế, nhưng chỉ trong những điều kiện nhất định. Cụ thể là

các nước phải cải cách hệ thống tài chính, phụ thuộc vào việc áp dụng thực hiện

công nghệ mới, nâng cao năng suất vốn và nguồn lực.

Borensztein và Lee (1998) cũng tìm thấy rằng sự gia tăng FDI sẽ làm

thúc đẩy tăng trưởng ở các nước kém phát triển khi các quốc gia này đã được

cải thiện hệ thống tài chính trong nước. Do đó, các nước kém phát triển phải cải

cách hệ thống tài chính trong nước trước khi tự do hóa tài khoản vốn để cho

phép dòng vốn FDI mở rộng.

Độ mở thương mại: cũng đóng vai trò như một nhân tố cần thiết cho

mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế. Nền kinh tế càng mở cửa thì mức

độ giao thương, buôn bán càng mạnh, các doanh nghiệp sẽ có thị trường xuất

nhập khẩu lớn hơn và có nhiều cơ hội hơn trong đầu tư mở rộng sản xuất kinh

doanh. Lý thuyết tăng trưởng nội sinh, tiên phong của Romer (1986) và Lucas

(1988) cũng đã cung cấp bằng chứng thuyết phục cho đề xuất sự gia tăng trong

hoạt động xuất nhập khẩu có tác động dương đến tăng trưởng kinh tế.

Balasubramanyam và Sapsford (1996) cho rằng các bằng chứng về tác

động tích cực của FDI là mạnh nhất khi các nước kém phát triển đang theo đuổi

chính sách khuyến khích xuất khẩu. Cuadros và Alguacil (2004) cũng nghiên

cứu tác động của tự do hóa ở Mexico, Brazil và Argentina trong giai đoạn 1970

– 2000 có lập luận rằng xuất khẩu là một trong những kênh chính mà qua đó

q trình tự do hóa có thể ảnh hưởng đến mức sản lượng và cuối cùng là tốc độ

tăng trưởng kinh tế. Xuất khẩu có thể thúc đẩy tăng trưởng bằng cách gia tăng

phạm vi quy mô và hiệu ứng lan tỏa.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×