Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 MÔ HÌNH TMĐT B2C ( BUSINESS TO CUSTOMER)

2 MÔ HÌNH TMĐT B2C ( BUSINESS TO CUSTOMER)

Tải bản đầy đủ - 0trang

đàm phán giữa 2 bên như mơ hình B2B. Bởi vì khách hàng có thể đọc những

điều khoản, giá cả của shop, rồi mới quyết định mua hàng.

4.2.1 Đặc điểm của mơ hình TMĐT B2C

Đặc điểm của loại hình B2C là sự đa dạng về số lượng nhà cung cấp và thị

trường, bất cứ một nhà cung cấp nào cũng có thể mở ra một trang web hoặc một

kênh giao dịch và đưa những thông tin về sản phẩm, dịch vụ của mình lên mạng

để phục vụ khách hàng. Tuy nhiên, sự đa dạng cũng làm cho việc cạnh tranh trở

nên gay gắt hơn, và càng khó thu hút khách hàng trung thành hơn vì ngày càng

có nhiều lựa chọn cho mỗi khách hàng khi họ định tìm mua một sản phẩm hay

dịch vụ. Hình thức TMĐT B2C tuy đã quá quen thuộc và phổ biến trên toàn thế

giới, song ở Việt nam nó vẫn ở dạng hết sức sơ khai nếu khơng muốn nói là

chưa có gì, mặc dù có rất nhiều trang web với mục đích bán hàng mở ra, nhưng

rất ít trong số đó đạt được mục đích ban đầu của mình là bán hàng qua mạng.

4.2.2 Hoạt động của mơ hình B2C

-Mơ tả hoạt động

Mơ hình B2C được áp dụng trong các mơ hình siêu thị điện tử và các

website bán hàng lẻ. Mơ hình B2C sử dụng cho hình thức kinh doanh khơng

chứng từ. Người tiêu dùng vào website của cơng ty, chọn các món hàng cần

mua, cung cấp thơng tin về mình là khách hàng bằng cách điền vào các form đã

định sẵn trên website, chọn hình thức thanh tốn chuyển tiền qua bưu điện,

chuyển khoản, hay thanh toán điện tử, cách vận chuyển hàng hóa.… Khi đó

người dùng coi như đã đặt xong, chỉ chờ hàng hóa đến. Tại phần quản lý của

cơng ty sẽ có chương trình xử lý thơng tin mua bán tự động, kiểm tra thông tin

khách hàng về vấn đề thanh tốn, các hình thức vận chuyển hàng hóa…

-Hoạt động của mơ hình B2C (Business to Customer)

Người mua dùng web brower truy cập vào website siêu thi điện tử vào

cơng ty, xem các mặt hàng có trong catalog, chọn các món hàng cần mua vào

“cart” và đặt hàng.

4.2.3 Tổng quan về TMĐT B2C tại Việt Nam

TMĐT B2C ở Việt Nam là một trong những thị trường có tốc độ tăng

trưởng nhanh nhất ở khu vực Đông Nam Á, với chỉ số CAGR (tốc độ tăng

trưởng hàng năm kép) từ năm 2013 đến 2017 là 32.3%, với khối lượng khoảng

5.5 tỉ EUR vào năm 2017. Thị trường Việt Nam dự báo tiếp tục tăng trưởng

mạnh với CARG khoảng 14% vào giai đoạn 2017 đến 2020, chiếm khoảng 5.2%

tổng doanh số bán lẻ.



29



Nguồn: EBVN, 2018



Hình 4.1 Kích thước thị trường E-Commerce B2C ở Việt Nam và tỉ lệ tương

ứng trong giá trị tổng doanh số bán lẻ từ 2013 đến năm 2020.

4.2.4 Các dạng website B2C

Theo nghị định 52/2013/ND-CP, hình thức E-Commerce ở Việt Nam

được phân chia thành 4 dạng chính đó là:

Website TMĐT (dưới đây gọi tắt là website) là trang thông tin điện tử

được thiết lập để phục vụ một phần hoặc tồn bộ quy trình của hoạt động mua

bán hàng hóa hay cung ứng dịch vụ, từ trưng bày giới thiệu hàng hóa, dịch vụ

đến giao kết hợp đồng, cung ứng dịch vụ, thanh toán và dịch vụ sau bán hàng.





Sàn giao dịch TMĐT là website TMĐT cho phép các thương nhân, tổ

chức, cá nhân không phải chủ sở hữu website có thể tiến hành một phần hoặc

tồn bộ quy trình mua bán hàng hóa, dịch vụ trên đó. Sàn giao dịch TMĐT trong

Nghị định này khơng bao gồm các website giao dịch chứng khoán trực tuyến.





Website khuyến mại trực tuyến là website TMĐT do thương nhân, tổ

chức thiết lập để thực hiện khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ của thương nhân,

tổ chức, cá nhân khác theo các điều khoản của hợp đồng dịch vụ khuyến mại.





Website đấu giá trực tuyến là website TMĐT cung cấp giải pháp cho

phép thương nhân, tổ chức, cá nhân không phải chủ sở hữu website có thể tổ

chức đấu giá cho hàng hóa của mình trên đó.





Theo báo cáo của VECITA, năm 2017 Việt Nam có tổng cộng 14305

website B2C, trong đó số lượng website TMĐT chiếm hơn 94% được xem là

đại diện cho phần lớn các hoạt động thương mại online. Trong khi đó các

website đấu giá trực tuyến và khuyến mại trực tuyến lại chiếm tỉ trọng rất nhỏ,

gần như khơng có vai trò gì nhiều ở thị trường Việt Nam.



30



Nguồn: Theo số liệu từ VECITA, 2018



Hình 4.2 Số lượng các website thương mại B2C đã đăng ký theo dạng

năm 2016-2017.

4.2.5 Phương tiện bán hàng

Người tiêu dùng có thói quen mua sắm nhiều nhất thông qua các kênh bán

hàng trên mạng xã hội Facebook vì mạng lưới này chứa đến 59 triệu người

dùng đến từ Việt Nam theo thống kê của Stalista vào tháng 07 năm 2018. Với

lượng người tiếp cận hàng hóa đơng đảo, khơng có gì q ngạc nhiên

khi Facebook là nơi chiếm đến 66% sự ưa thích của người dùng. Mua bán qua

ứng dụng mobile (Zalo và các app bán hàng) cũng dần thu hút được khách hàng

và trở thành xu hướng mới nổi lên ngày càng mạnh mẽ.

4.2.6 Thanh tốn điện tử

So sánh với tồn cảnh ngành cơng nghiệp TMĐT ở Việt Nam, khâu thanh

tốn điện tử lại là điểm yếu nhất và tụt hậu khá xa so với các thành phần bộ phận

khác. Việc sử dụng thẻ tín dụng (Visa, American Express) trong thanh toán trực

tuyến ở mức thấp bất chấp nỗ lực phát hành thẻ và thu hút người dùng mới nhiều

năm qua của hàng loạt ngân hàng trong nước. Hơn nữa, một điều đáng lo ngại

là tỉ lệ người tiêu dùng trả bằng tiền mặt và chuyển khoản ngân hàng (online,

thủ công) lại chỉ có xu hướng giảm nhẹ. Nếu xét về khái niệm TMĐT tại

Wikipedia: “…TMĐT chỉ xảy ra trong môi trường kinh doanh mạng Internet và

các phương tiện điện tử giữa các nhóm (cá nhân) với nhau thơng qua các cơng



31



cụ, kỹ thuật và cơng nghệ điện tử.” thì rõ ràng TMĐT ở Việt Nam chưa thật sự

hoàn chỉnh nếu xét về chu trình giao dịch.



Nguồn: VECITA, 2017.



Hình 4.3 Các hình thức thanh tốn điện tử ưa thích năm 2015-2016

ở Việt Nam.

Một khách hàng có thể đặt mua hàng trên mạng nhưng lại trả tiền mặt cho

mặt hàng đó trực tiếp ở ngồi đời. Kiểu một nửa cơng nghệ, một nửa thủ cơng

này có thể là rào cản lớn cho bước tiến của TMĐT ở Việt Nam. Vậy điều mà

khách hàng này lo ngại là gì? Vấn đề chính vẫn là niềm tin về chất lượng sản

phẩm cũng như chính sách đổi trả của doanh nghiệp bán hàng. Tâm lý khách

hàng là cần phải cầm, nắm, thử món hàng, nếu nó đạt chất lượng thì người ta sẽ

mua. Nếu khơng, tất nhiên khách hàng sẽ không mua và cũng không lo ngại mất

tiền. Thử tượng tưởng, bạn đã trả tiền trên mạng cho món hàng mình mua, và

chỉ vài ngày đã được giao hàng, tuy nhiên để đổi trả món hàng khơng ưng ý và

muốn lấy tiền lại thì thời gian có thể mất hàng tuần, thậm chí vài tháng. Đây là

điểm yếu thứ hai của TMĐT Việt Nam, niềm tin khách hàng về chất lượng sản

phẩm và chính sách đổi trả của doanh nghiệp B2C.



32



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 MÔ HÌNH TMĐT B2C ( BUSINESS TO CUSTOMER)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×