Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 2.1: Mô hình năm giai đoạn của quá trình khuếch tán

Hình 2.1: Mô hình năm giai đoạn của quá trình khuếch tán

Tải bản đầy đủ - 0trang

vi bằng cách đánh giá về những hậu quả (Fishbein & Ajzen, 1975). Định mức chủ

quan được xem là một sự kết hợp của những kỳ vọng nhận thức của các cá nhân hoặc

các nhóm có liên quan cùng với ý định để thực hiện theo những kỳ vọng này. Nói cách

khác, "nhận thức của người mà hầu hết là những người quan trọng với họ nghĩ họ nên

hay không nên thực hiện các hành vi trong câu hỏi" (Fishbein & Ajzen, 1975).

Khái niệm này có thể hiểu một cách đơn giản: hành vi của một người được dự

đoán bởi thái độ của người đó đối với hành vi đó và làm thế nào họ nghĩ rằng những

người khác sẽ xem họ nếu họ thực hiện hành vi. Thái độ của một người, kết hợp với

các chỉ tiêu chủ quan, tạo ý định hành vi của người đó.

Fishbein và Ajzen cũng nhận định: thái độ và định mức được coi trọng khơng

kém trong việc dự đốn hành vi. Miller (2005, p. 127) nhận định: “Tùy thuộc vào mỗi

cá nhân và ngữ cảnh, các yếu tố có thể tác động khác nhau về ý định hành vi. Do đó

trọng số của các yếu tố có tương quan với nhau là khác nhau. Ví dụ, có người có thể là

loại người người quan tâm ít với những gì người khác nghĩ. Nếu là trường hợp này,

các chỉ tiêu chủ quan sẽ mang trọng số nhỏ trong việc dự đoán hành vi của người đó”.

Miller, 2005 cũng nêu định nghĩa một trong ba thành phần của lý thuyết này như sau:

Thái độ: gồm tất cả niềm tin về một hành vi cụ thể bởi những đánh giá của niềm

tin đó. Ví dụ, người ta có thể có niềm tin rằng tập thể dục là tốt cho sức khỏe, rằng tập

thể dục làm cho conngười trơng đẹp hơn nhưng cũng có ý kiến cho rằng tập thể dục là

phải mất quá nhiều thời gian và tập thể dục không thoải mái. Mỗi một niềm tin sẽ lựa

chọn điều gì là quan trọng. Các vấn đề về sức khỏe có thể là quan trọng với người này

hơn là những vấn đề của thời gian và sự thoải máitheo quan điểm của người khác.

Chuẩn chủ quan: xem xét sự ảnh hưởng của người khác trong môi trường xã hội

của một người về ý định hành vi của mình; niềm tin, tầm quan trọng cho mỗi ý kiến

của họsẽ ảnh hưởng đến ý định hành vi của một người. Mỗi người có thể có một số

bạn bè, có thể tham gia trong một hoạt động tập thể nào đó. Tuy nhiên, một người

trong số đó có thể thích lối sống ít vận động hơn và chế giễu những người tham gia.

Các niềm tin của người này, tầm quan trọng cho mỗi ý kiến của họ sẽ ảnh hưởng đến ý

định hành vi của người khác và sẽ dẫn đến hành vi không thực hiện hoặc không thực

hiệntrong hoạt động tập thể.

Ý định hành vi: một chức năng ảnh hưởng bởi thái độ đối với một hành vi và

các chỉ tiêu chủ quan đối với hành vi đó. Thái độ của một người kết hợp với các chỉ

tiêu chủ quan đều có mức độ ảnh hưởng riêng và sẽ đến việc thực hiện (hoặc khơng),

sau đó sẽ dẫn đến hành vi thực tế của người đó.



51



Niềm tin

Thái độ

Sự đánh giá

Ý định hành vi

Niềm tin quy chuẩn

Chuẩn chủ

quan

Động cơ

Hình 2.2. Mơ hình TRA

Nguồn: Fishbein & Ajzen, 1980

Trong bối cảnh của KMS được chấp nhận, các nhà nghiên cứu sử dụng TRA

giả định việc sử dụng thực tế của KMS như bị ảnh hưởng bởi hành vi có ý định sử

dụng của người dùng, do đó phụ thuộc vào thái độ của người sử dụng đối với việc sử

dụng của KMS cũng như các chỉ tiêu chủ quan của việc sử dụng KMS chủ yếu trong

môi trường xã hội của người sử dụng (Barnes & Huff, 2003).



2.1.1.3. Mơ hình chấp nhận cơng nghệ

Mơ hình chấp nhận cơng nghệ (The Technology acceptance model - Davis,

1989)là một lý thuyết mơ hình HTTT của người dùng để chấp nhận và sử dụng một

công nghệ. Mơ hình này cho thấy rằng khi người dùng được trình bày với một cơng

nghệ mới, một số yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của họ như thế nào và khi nào họ

sẽ sử dụng nó, đáng chú ý là:

Nhận thức được tính hữu dụng - Điều này đã được xác định bởi Fred Davis là

"mức độ mà một người tin rằng việc sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ nâng cao hiệu

suất đối với công việc của mình".

Nhận thức tính dễ sử dụng - "mức độ mà một người tin rằng việc sử dụng một

hệ thống cụ thể sẽ không cần phải nỗ lực quá nhiều" (Davis, 1989). Các TAM đã được

nghiên cứu liên tục và mở rộng-hai bản nâng cấp chính là TAM 2 (Venkatesh &Davis

2000 & Venkatesh 2000) và Lý thuyết thống nhất của “Chấp nhận và sử dụng công

nghệ” (hoặc UTAUT, Venkatesh et al. 2003). Một TAM 3 cũng đã được đề xuất trong

bối cảnh thương mại điện tử với một bao gồm các tác động của sự tin tưởng và nhận

thức rủi ro trên hệ thống người dùng (Venkatesh & Bala, 2008)



Mô hình chấp nhận cơng nghệ (TAM) được phát triển dựa trên TRA (Davis,

1989). TRA được thiết kế chủ yếu cho việc áp dụng và cách sử dụng của đổi mới mơ

hình sử dụng (Mathieson et al., 2001).

Sự hữu ích cảm

nhận

Biến bên

ngồi



Thái độ

sử dụng



Ý định



Thói quen

sử dụng hệ thống



Sự dễ sử dụng

cảmnhận



Hình 2.3.Mơ hình TAM

Nguồn: Davis, 1989

Cả hai việc nhận thức tính hữu dụng và dễ sử dụng đều ảnh hưởng đến thái độ

của người dùng đối với sự nghiệp đổi mới.Trong đó lần lượt ảnh hưởng đến ý định sử

dụng các đổi mới (Mathieson et al., 2001). Ngồi ra còn có một tác động trực tiếp của

việc nhận thức tính hữu dụng về ý định hành vi của người dùng để sử dụng các đổi

mới. Trong bối cảnh của KMS, các mơ hình TAM ban đầu đã được sửa đổi đôi chút để

kết hợp các kết quả nghiên cứu mới. Dựa trên những nghiên cứu này, các mơ hình

TAM ban đầu đã được mở rộng bởi các tác giả khác nhau để kết hợp các biến số bổ

sung mà có thể giải thích cho đúng hơn trong việc áp dụng và sử dụng KMS.



2.1.1.4. Thuyết hành vi hoạch định

Thuyết hành vi hoạch định (The theory of Planned behavior - Ajzen &

Fishbein) là một phần mở rộng của lý thuyết hành động hợp lý (Ajzen & Fishbein,

1980; Fishbein & Ajzen, 1975) thực hiện cần thiết bởi những hạn chế của mô hình ban

đầu trong việc giải quyết các hành vi qua đó người dân có thể kiểm sốt đầy đủ ý chí.

Như trong lý thuyết ban đầu của hành động hợp lý, một yếu tố chính trong lý thuyết

hành vi hoạch định là ý định của cá nhân để thực hiện một ý định hành vi. Ý định được

giả định để nắm bắt được các yếu tố tạo động lực ảnh hưởng đến một hành vi; họ cố

gắng, nỗ lực để thực hiện kế hoạch, để thực hiện hành vi. Ý định tham gia vào một

hành vi càng mạnh, nhiều khả năng sẽ có hiệu quả. Tuy nhiên, một ý định hành vi có

thể biểu hiện ở hành vi chỉ khi các hành vi trong câu hỏi dưới sự kiểm soát của ý chí.

Hành vi của con người được thơng qua: "niềm tin về hành vi", "niềm tin chủ quan" và

"niềm tin kiểm sốt." Trong đó, "niềm tin về hành vi" dẫn đến "thái độ đối với các



hành vi" có lợi hay bất lợi; "niềm tin chủ quan" dẫn đến "chuẩn chủ quan"; và "niềm

tin kiểm soát" đưa đến "nhận thức kiểm soát hành vi."

Trong sự kết hợp "thái độ đối với các hành vi", "chuẩn chủ quan" và "nhận thức

kiểm sốt hành vi" dẫn đến sự hình thành của một "ý định hành vi". Trong đó, "nhận

thức kiểm sốt hành vi" được cho là không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi, mà

còn ảnh hưởng gián tiếp thơng qua ý định hành vi. Các lý thuyết hành vi hoạch định

(TPB) thêm vào TRA bằng cách xem xét nhận thức kiểm sốt hành vi, khơng phải tất

cả hành vi nào cũng cần phải kiểm soát. Các nhà nghiên cứu sử dụng TPB giả định có

ý định áp dụng KMS như được xác định bởi ba yếu tố:

1. Thái độ;

2. Chuẩn chủ quan;

3. Nhận thức kiểm soát hành vi.

Thái độ



Chuẩn chủ quan



Hành vi



Ý định



Kiểm sốt

hành vi

Hình 2.4. Mơ hình TPB

Nguồn: Ajzen & Fishbein, 1980

Nhận thức kiểm soát hành vi là nhận thức của một cá nhân về các nguồn lực, kỹ

năng và cơ hội cần thiết để làm cho việc sử dụng của KMS hoặc một số tính năng của

nó. Động lực của một người bị ảnh hưởng bởi sự phức tạp của nhận thức thực hiện

hành vi nhất định, và do nhận thức của một cá nhân như thế nào thành cơng, ơng / bà

có thể được thực hiện ở các hành vi. Niềm tin kiểm soát bao gồm các yếu tố nội bộ của

kỹ năng và khả năng, cũng như các yếu tố bên ngồi, mà là tình huống hoặc mơi

trường. Các mơ hình TPB cải thiện trên TRA bằng cách bao gồm các biến của nhận

thức kiểm soát hành vi, mà các biện pháp nhận thức của một người kiểm soát thực

hiện một hành vi nhất định (Rawstorne et al., 2000). Mỗi yếu tố, lần lượt, được tạo ra



bởi một số tín ngưỡng và đánh giá liên quan. Các mơ hình TPB áp dụng cho KMS đã

được nghiên cứu bởi nhiều tác giả.



2.1.1.5. Mơ hình phù hợp giữa nhiệm vụ-công nghệ

Nhiệm vụ được định nghĩa một cách rộng rãi như các hành động tiến hành để

biến đầu vào thành đầu ra để đáp ứng nhu cầu thông tin. Cải tiến bao gồm một loạt các

công nghệ thông tin, chẳng hạn như phần cứng, phần mềm, dữ liệu, hỗ trợ người sử

dụng,… phù hợp với nhiệm vụ-công nghệ (task-technology fit model &goodhue -



TTF), mơ hình làm cho các giả định chung rằng người dùng sẽ chọn các KMS đó là

thích hợp nhất cho các nhiệm vụ mà họ có ý định thực hiện. Dựa trên giả định này, các

mô hình TTF mặc nhiên cho rằng KMS sẽ chỉ được sử dụng nếu các chức năng cung

cấp phù hợp với các hoạt động của người sử dụng (Goodhue, Minnesota và Thompson,

1995; Dishaw và Strong, 1999).

Các mơ hình cơ bản TTF được dựa trên bốn cấu trúc chính:

1. Đặc điểm nhiệm vụ;

2. Chức năng công nghệ;

3. Phù hợp với đặc điểm giữa nhiệm vụ và chức năng công nghệ; và

4. Sử dụng cơng nghệ vì nó ảnh hưởng đến các biến kết quả, chẳng hạn như

thực hiện hoặc sử dụng (Strong et al., 2006)

Đánh giá của

người sử dụng

Nhiệm vụ

Sự phù hợp giữa nhiệm vụ và cơng nghệ

(TTF)

Cơng nghệ

Chất lượng



Quyền lợi cá

nhân

Hình 2.5. Mơ hình TTF



Nguồn: Goodhue et al, 1995



2.1.1.6. Thuyết về vốn xã hội

Vốn xã hội là lợi ích tập thể, kinh tế dự kiến xuất phát từ những ưu đãi và hợp

tác giữa các cá nhân và nhóm.Mặc dù các nhà khoa học xã hội nhấn mạnh khía cạnh

khác nhau của vốn xã hội, họ có xu hướng chia sẻ các ý tưởng cốt lõi "giá trị của mạng

xã hội". Cũng giống như trang thiết bị, công nghệ (vốn vật chất) hay một nền giáo dục

đại học (vốn văn hóa, vốn con người) có thể làm tăng năng suất (cả cá nhân và tập

thể), do đó, làm quan hệ xã hội ảnh hưởng đến năng suất của các cá nhân và tập thể.

Vốn xã hội bao gồm các tài sản của một tổ chức xã hội, như niềm tin, định mức,

và mạng lưới, có thể cải thiện hiệu quả của xã hội bằng cách tạo điều kiện phối hợp

hành động (Putnam, 1993). Các yếu tố cấu trúc, nhận thức, và quan hệ được coi là kích

thước của vốn xã hội được đưa vào bên trong quan hệ xã hội, vì chúng tạo điều kiện

cho các hoạt động quản lý kiến thức và do đó ảnh hưởng thơng qua hệ thống.



2.1.1.7. Thuyết nhận thức xã hội

Lý thuyết xã hội nhận thức (Bandura, 1986), được sử dụng trong tâm lý học,

giáo dục, truyền thông, cho rằng những phần của việc mua lại kiến thức của một cá

nhân có thể liên quan trực tiếp đến quan sát những người khác trong bối cảnh ảnh

hưởng bên ngoài tương tác giữa xã hội, kinh nghiệm, và phương tiện truyền thơng. Lý

thuyết nói rằng khi người ta quan sát một mơ hình thực hiện một hành vi và hậu quả

của hành vi đó, họ nhớ chuỗi các sự kiện và sử dụng thông tin này để hướng dẫn hành

vi tiếp theo. Quan sát một mơ hình cũng có thể nhắc nhở người xem tham gia vào các

hành vi mà họ đã học được. Tùy thuộc vào việc mọi người được thưởng hay trừng phạt

đối với hành vi của họ và kết quả của các hành vi, người quan sát có thể chọn để nhân

rộng mơ hình hóa hành vi.

Lý thuyết nhận thức xã hội nói rằng người dân tự đánh giá sự hiệu quả (niềm tin

vào khả năng của mình) ảnh hưởng đến hành động và suy nghĩ của mình trong một

cách mà họ định hình mơi trường của họ (Bandura, 1986).Vì vậy, có hay khơng người

hoặc tổ chức áp dụng KMS sẽ một phần được dựa trên sự hiệu quả của các tổ chức và

quản lý hàng đầu trong việc sử dụng KMS, cũng như sự hiệu quả của cá nhân.



2.1.1.8. Thuyết mơ hình thành cơng

(DeLone & McLean, 1992) đề xuất các mơ hình thành công và được tôn trọng

IS. DeLone và McLean 2003 mở rộng trên các nghiên cứu HTTT liên lạc của

(Shannon & Weaver, 1949) và lý thuyết thông tin ảnh hưởng của (Mason, 1978).

(Shannon và Weaver, 1949) phân loại các vấn đề truyền thông thành ba cấp độ.



Trong điều kiện của DeLone và McLean của mơ hình, "chất lượng hệ thống" đề cập

đến trình độ kỹ thuật và "chất lượng thơng tin" đề cập đến mức độ ngữ nghĩa. "Sử

dụng", "sự hài lòng của người sử dụng", và "tác động cá nhân" bao gồm các cấp độ

hiệu quả. Do đó, chất lượng hệ thống và chất lượng thơng tin có thể được xem như là

tiền đề của việc sử dụng, người sử dụng sự hài lòng, và các tác động riêng lẻ. Theo lập

luận của Mason, sử dụng và người sử dụng sự hài lòng là tiền thân của các tác động

riêng lẻ.Sự phổ biến rộng của mơ hình này là bằng chứng mạnh mẽ về tính hữu ích của

một khn khổ toàn diện để hội nhập là kết quả nghiên cứu (DeLone và McLean,

2003). Năm 2003, DeLeon và Mclean cũng thêm vào chất lượng dịch vụ cho mơ hình

thành cơng sửa đổi IS của họ.

IS xác định mơ hình thành cơng và miêu tả mối quan hệ giữa sáu yếu tố quan

trọng của thành công IS: chất lượng thông tin, chất lượng hệ thống, chất lượng dịch vụ,

sử dụng hệ thống/ý định sử dụng, người sử dụng sự hài lòng, và lợi ích hệ thống mạng.

Chất lượng thơng tin: Chất lượng thông tin đề cập đến chất lượng của các thông

tin mà hệ thống có thể lưu trữ, cung cấp, hoặc sản xuất, và là một trong các kích thước

phổ biến dọc theo đó các HTTT được đánh giá. Thơng tin tác động có chất lượng cao

sự hài lòng của người dùng với hệ thống và những dự định của người dùng để sử dụng

hệ thống, trong đó, lần lượt, tác động mức độ mà hệ thống có thể mang lại lợi ích cho

người sử dụng hoặc tổ chức của bà.

Chất lượng hệ thống: Như với chất lượng thông tin, chất lượng tổng thể của một

hệ thống cũng là một trong các kích thước phổ biến dọc theo đó các HTTT được đánh

giá. Chất lượng hệ thống gián tiếp tác động mức độ mà hệ thống có thể cung cấp các

lợi ích của phương tiện của các mối quan hệ mediational thông qua những ý định sử

dụng và cấu trúc dùng sự hài lòng.

Chất lượng dịch vụ: Cùng với chất lượng thông tin và chất lượng hệ thống,

HTTT cũng thường được đánh giá theo chất lượng của dịch vụ mà họ có thể cung

cấp. Chất lượng dịch vụ trực tiếp ý định tác động sử dụng và người sử dụng hài lòng

với hệ thống, trong đó, lần lượt, ảnh hưởng đến lợi ích ròng được sản xuất bởi hệ

thống.

Sử dụng hệ thống/ý định sử dụng: Ý định sử dụng một HTTT và sử dụng hệ

thống thực tế là các cấu trúc cũng như thành lập trong các tài liệu HTTT. Thành cơng

trong sử dụng và sử dụng hệ thống mơ hình dự định đều bị ảnh hưởng bởi thông tin, hệ

thống và chất lượng dịch vụ. Sử dụng hệ thống được ấn định để ảnh hưởng đến sự hài

lòng của người dùng với các HTTT, trong đó, lần lượt, được thừa nhận ảnh hưởng đến



ý định sử dụng. Cùng với người dùng sự hài lòng, sử dụng hệ thống trực tiếp ảnh

hưởng đến lợi ích ròng mà hệ thống có thể cung cấp.

Sự hài lòng của người sử dụng: Sự hài lòng của người sử dụng đề cập đến mức

độ mà một người sử dụng hài lòng hoặc hài lòng với HTTT, và được thừa nhận bị ảnh

hưởng trực tiếp bằng cách sử dụng hệ thống, và do thông tin, hệ thống và chất lượng

dịch vụ. Giống như sử dụng hệ thống thực tế, người sử dụng thỏa mãn trực tiếp ảnh

hưởng đến lợi ích ròng được cung cấp bởi một HTTT.

Lợi ích hệ thống ròng: Lợi ích ròng mà một HTTT có thể cung cấp là một khía

cạnh quan trọng của các giá trị tổng thể của hệ thống để người sử dụng hay để các tổ

chức cơ bản. Trong các mơ hình HTTT thành cơng, lợi ích hệ thống mạng đang bị ảnh

hưởng bởi việc sử dụng hệ thống và do người dùng hài lòng với hệ thống. Ở khía cạnh

khác, lợi ích của hệ thống được thừa nhận ảnh hưởng đến cả sự hài lòng của người sử

dụng và ý định của người dùng để sử dụng hệ thống.

Chất lượng thông tin

Ý định sử dụngSử dụng hệ thống



Lợi ích ròng của

hệ thống



Chất lượng hệ thống

Sự hài lòng của người sử dụng

Chất lượng dịch vụ



Hình 2.6. Mơ hình thành cơng

Nguồn: DeLone & McLean, 1992



2.1.1.9. Mơ hình hệ thống thơng tin

Mơ hình hệ thống thơng tin IS (Bhattacherjee 2001; Bhattacherjee và

Premkumar, 2004) việc tiếp tục được chuyển từ lý thuyết xác nhận kỳ vọng (ECT)

(Bhattacherjee, 2001). ECT được sử dụng rộng rãi trong các tài liệu hành vi người tiêu

dùng để nghiên cứu sự hài lòng của người tiêu dùng, hành vi sau khi mua và tiếp thị

dịch vụ nói chung (Oliver, 1997; Tse & Wilton, 1988; Anderson & Sullivan, 1993;

Patterson, 1997; Dabholkar, 2000). Bhattacherjee (2001) thấy rằng ý định hướng tới

việc tiếp tục IS được dự đoán mạnh mẽ của người dùng về sự hài lòng, cảm nhận và

tính hữu dụng là một yếu tố dự báo. Tuy nhiên, "sự hài lòng chỉ là nhất thời, kinh



nghiệm cụ thể ảnh hưởng, trong khi thái độ là một ảnh hưởng tương đối lâu dài vượt

tất cả những kinh nghiệm trước" (Bhattacherjee, 2001). Ví dụ, một người sử dụng có

thể có một thái độ tích cực đối với việc sử dụng hệ thống CNTT nhưng vẫn cảm thấy

khơng hài lòng nếu kinh nghiệm của mình là dưới mức mong đợi. Vì vậy, thái độ của

người sử dụng được lựa chọn là diễn xuất như một yếu tố quyết định đáng tin cậy hơn

trong việc tiếp tục trong giai đoạn hậu công nhận chấp nhận (Bhattacherjee và

Premkumar, 2004).

Các tác động của chín lý thuyết truyền thống của các nghiên cứu KMS trong

các tài liệu bỏ qua thực tế của quá trình đổi mới trong tổ chức, đặc biệt là khi các quyết

định được thực hiện bởi những người khác nhau ở các cấp độ khác nhau.Vì vậy, những

lý thuyết có xác nhận rộng rãi chỉ nơi quyền tự chủ cá nhân được thông qua hay bác bỏ

một sự đổi mới.



2.1.2. Hệ thống quản lý tri thức trong doanh nghiệp vừa và nhỏ

Tri thức quản lý bao gồm các khái niệm, nhiệm vụ quản lý, công nghệ, và thực

tiễn, tất cả đều được sử dụng vào mục đích quản lý tri thức. Nó kết hợp các ý tưởng,

các quá trình từ một hoặc nhiều ngành như thông tin quản lý, quản lý công nghệ thông

tin, thông tin liên lạc, quản lý nhân sự và các nguồn lực khác.

Hệ thống quản lý tri thức (KMS) bao gồm các công cụ hỗ trợ công nghệ và vấn

đề của tổ chức. KMS là tất cả các mảng kiến thức của tổ chức, như vậy KMS bao gồm

kiến thức hiện, ẩn, sáng tạo, nắm bắt, chia sẻ, lưu giữ, sử dụng. Vì vậy nó có thể được

định nghĩa theo nhiều cách khác nhau và áp dụng trong nhiều lĩnh vực tổ chức các hoạt

động liên quan đến con người, cơng nghệ và quy trình. Hơn nữa, nó có thể được thực

hiện bằng nhiều cách khác nhau trong tổ chức. Để xem tồn bộ hình ảnh của kiến thức

quản lý trong tổ chức, nó cần được phân tích như một hệ thống.

Theo Ronald Maier (2007), HTQLTTlà một hệ thống cơng nghệ thơng tin, có ý

nghĩa như một hệ thống ứng dụng hoặc một nền tảng công nghệ thông tin, và tích hợp

các chức năng để xử lý các tri thức ẩn, tri thức hiện trong toàn bộ hoặc một số bộ phận

trong tổ chức. Theo các mức độ khác nhau mà một doanh nghiệp sở hữu HTQLTT để

xử lý các tri thức ẩn, tri thức hiện trong toàn bộ hoặc một vài bộ phận của doanh

nghiệp. KMS là tất cả các mảng kiến thức của tổ chức, như vậy KMS bao gồm tri thức

hiện, ẩn, sáng tạo, nắm bắt, chia sẻ, lưu giữ, sử dụng. Vì vậy nó có thể được định nghĩa

theo nhiều cách khác nhau và áp dụng trong nhiều lĩnh vực tổ chức các hoạt động liên

quan đến con người, cơng nghệ và quy trình. Hơn nữa, nó có thể được thực hiện bằng

nhiều cách khác nhau trong tổ chức.



Một HTQLTT cung cấp dịch vụ tích hợp để triển khai quản lý tri thức cho tất cả

những người tham gia vào quá trình quản lý tri thức.

- Hệ thống quản lý tri thức (KMS) hỗ trợ các hoạt động:

+ Thu thập, phân phối, lưu trữ và sử dụng tri thức

+ Sáng tạo ra tri thức mới

+ Tích hợp tri thức mới vào cơ sở dữ liệu của tổ chức, doanh nghiệp.

- Chức năng của HTQLTT:

+ Thu thập mọi tri thức, kinh nghiệm liên quan

+ Sẵn sàng đáp ứng nhu cầu sử dụng cho từ phía người dùng bất kể không

gian và thời gian.

+ Hỗ trợ trong quy trình tác nghiệp, quá trình ra quyết định.

- Sử dụng các công nghệ hiện đại để:

+ Lưu trữ dữ liệu có cấu trúc và phi cấu trúc

+ Tìm kiếm, phân phối và sử dụng thông tin từ các hệ thống ứng dụng tích hợp

trong tổ chức cũng như các hệ thống khác của tổ chức.

Trong nghiên cứu từ góc độ cơng nghệ (Grundstein, 2008), HTQLTT được định

nghĩa là các ứng dụng của tổ chức dựa trên các phương tiện điện tử và hệ thống thông

tin truyền thông để hỗ trợ các quy trình quản lý tri thức khác nhau. Chúng thường

không phải là một hệ thống công nghệ hay HTTT riêng biệt (King, 2009).

Nói chung, một hệ thống được định nghĩa là một nhóm các yếu tố độc lập

nhưng có liên quan bao gồm một tổng thế thống nhất. Trong điều kiện của quản lý tri

thức, một hệ thống có thể được xem như là gồm các thành phần khác nhau, chúng

tương tác và tác động lẫn nhau để duy trì và đảm bảo quản lý tri thức trong tổ chức.

Quản lý tri thức có thể được xem như là một hệ thống được xác nhận bởi các tác giả

khác nhau. (Grundstein & Rosenthal-Sabroux, 2007) nhận định rằng: “Quản lý tri thức

được thực hiện trong một hệ thống, và là một tập hợp các thành phần tương tác được

tổ chức theo một mục đích”. (Abdullah et al. 2005) nhấn mạnh rằng “đó là một nhu

cầu cho một hệ thống được gọi là HTQLTT để cho phép mọi người làm việc cùng

nhau mọi lúc, mọi nơi mà không phụ thuộc vào nền tảng kiến thức của mỗi cá nhân”.

(Bartholomew, 2008) cho rằng “một trong những sai lầm phổ biến của quản lý tri thức

là để suy nghĩ về nó như là một tập hợp các công cụ riêng biệt và các q trình chứ

khơng phải là một hệ thống tích hợp với mục tiêu kinh doanh”.



Thành phần quan trọng nhất của HTQLTT là quá trình quản lý tri thức, trong đó

đề cập đến cái gì có thể được thực hiện với tri thức trong tổ chức (Wong, 2005). Quá

trình quản lý tri thức bao gồm một tập hợp các hoạt động trong tổ chức để xác định, bổ

sung, tạo ra, lưu trữ, chia sẻ và áp dụng tri thức. Theo (Stankeviciute, 2002), quá trình

quản lý tri thức được định nghĩa là các hoạt động được đưa ra để hỗ trợ tích cực cho tổ

chức để đảm bảo phát triển và sử dụng các tri thức có hiệu quả.

Tổng kết các cách tiếp cận khác nhau, (Stankeviciute, 2002) đưa ra cấu trúc của

quá trình quản lý tri thức: xác định các tri thức, tiếp nhận, tổ chức, chia sẻ, chuyển

giao, sáng tạo tri thức mới. Quá trình quản lý tri thức có thể liên kết được với việc tạo

ra các tri thức mới, chia sẻ và chuyển giao các tri thức hiện có và mới, lưu trữ, khai

thác và đo lường tác động của tri thức. Nhận định này cũng tương đồng với mơ hình

SECI của Nonaka, 1995 về q trình quản lý tri thức được tách thành bốn giai đoạn:

Xã hội hóa (Socialization), Ngoại hóa (Externalization), Kết hợp (Combination), Tiếp

thu (Internalization). Dựa trên các tài liệunghiên cứu, có thể kết luận rằng quá trình

quản lý tri thức bao gồm: xác định tri thức, nhận, tạo, lưu trữ, chia sẻ và sử dụng tri

thức của một tổ chức:

Xác định tri thức: là việc xác định tất cả các tri thức quan trọng thuộc sở hữu

của người lao động và nhóm của họ trong tổ chức.

Nhận tri thức: liên quan đến việc nhân viên có được tri thức bằng cách có được

các thông tin mới, tri thức và kinh nghiệm.

Sáng tạo tri thức: là việc tạo ra tri thức mới được cụ thể hóa trong các sản phẩm

mới, dịch vụ, quy trình và khái niệm.

Lưu trữ tri thức có giá trị: là việc lưu trữ các tri thức mới, chính thức hóa và

làm cho các tri thức mới này dễ tiếp cận.

Chia sẻ tri thức: có nghĩa là sự khuếch tán tri thức, kinh nghiệm và các thơng

tin có giá trị giữa các cá nhân và các nhóm của họ trong tổ chức.

Sử dụng tri thức: là sử dụng hiệu quả tri thức của tổ chức trong q trình kinh

doanh thơng qua việc giải quyết vấn đề, ra quyết định, thiết kế sản phẩm và dịch vụ

mới đem lại các lợi ích cho tổ chức.

Q trình quản lý tri thức khơng thể tồn tại độc lập, nó cần được lồng ghép vào

quy trình tổ chức khác để tạo ra giá trị. Nó phải phù hợp với chiến lược lãnh đạo chung

của tổ chức và duy trì bởi một văn hóa thích hợp của tổ chức. Điều này đòi hỏi bối



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 2.1: Mô hình năm giai đoạn của quá trình khuếch tán

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×