Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Từ công việc truyền thống đến công việc tri thức

Từ công việc truyền thống đến công việc tri thức

Tải bản đầy đủ - 0trang

Q trình trong mơ hình được minh họa bao gồm bốn hình thức chuyển biến

của tri thức: xã hội hố - socialization, ngoại hoá - externalization, kết hợp combination và tiếp thu-internalization (Xem hình 1.5). Đây là mơ hình SECI (Nonaka

và Takeuchi, 1995). Trong vòng xoắn ốc SECI, tri thức ẩn của mỗi người lao động

trong doanh nghiệp được ngoại hoá thành tri thức hiện và chia sẻ với người khác, được

kết hợp với tri thức cá nhân của người khác thành tri thức mới. Sau đó, tri thức được

các cá nhân trong tập thể tiếp thu trở lại với hình thức chủ quan mới, phong phú hơn

và tri thức này là cơ sở để hình thành một vòng chuyển đổi tri thức mới.



Hình 1.5. Mơ hình quy trình chuyển đổi tri thức của Nonaka

Nguồn: Nonaka,1991

Tri thức là quá trình, khơng phải là vật chất.Mơ hình SECI là một bức tranh về

của quá trình sáng tạo tri thức liên tục, giúp con người có thể phân tích và đánh giá để

hiểu về những sự vật, hiện tượng luôn thay đổi. Mơ hình bắt đầu bằng q trình xã hội

hố của các cá nhân, tiếp đến là q trình ngoại hố bên trong tập thể, quá trình kết

hợp trong tổ chức, rồi đến quá trình tiếp thu trở lại trong các cá nhân. Điều quan trọng

là bản thân các cá nhân, tập thể, và tổ chức cũng chuyển biến trong quá trình sáng tạo

tri thức vì bản thân họ là tập hợp của các q trình.



1.3.4.3. Mơi trường chuyển đổi tri thức

Tri thức được tạo ra qua sự tương tác với mơi trường. SECI là quy trình chuyển

đổi tri thức, và tri thức cần có khơng gian, thời gian để được chuyển đổi, sáng tạo gọi

là môi



trường chuyển đổi tri thức (Nonaka,1991). Tri thức phụ thuộc vào bối cảnh vì nó được

tạo ra trong hành động theo tình huống. Tri thức cũng mang đặc tính bối cảnh theo

nghĩa nó phụ thuộc vào khơng gian và thời gian cụ thể. Vì vậy, q trình sáng tạo tri

thức cần phải có bối cảnh đặc trưng về mặt thời gian, không gian và mối quan hệ với

người khác.

Trong lý thuyết về sáng tạo tri thức doanh nghiệp, Nonaka và các cộng sự đã

xác định tầm quan trọng của không gian vật chất hoặc không gian ảo của tương tác

môi trường chuyển đổi tri thức. Môi trường chuyển đổi tri thứclà bối cảnh chia sẻ

chung trong vận động, nghĩa là “một không giancho phépcác thành viên tham gia chia

sẻ bối cảnh và sáng tạo tri thức mới qua tương tác” (Nonaka và Toyama, 2003).

BA là một bối cảnh chung trong vận động, trong đó tri thức được chia sẻ, tạo ra

và sử dụng. BA là nền tảng của hoạt động sáng tạo tri thức. Có thể dễ hiểu hơn khi BA

là một địa điểm vật lý cụ thể, một trạng thái tương tác diễn ra tại một khơng gian, thời

gian riêng biệt.BA có thể xuất hiện giữa các cá nhân, trong tập thể, nhóm dự án, các

nhóm tụ tập khơng chính thức, trong khơng gian ảo. Để tạo ra BA, một HTQLTT phải

xây dựng được môi trường “ảo” trên nền tảng công nghệ thông tin và cho phép người

lao động có thể làm việc, trao đổi tri thức, kinh nghiệm làm việc.



1.4. Vai trò của quản lý tri thức trong tạo dựng lợi thế cạnh tranh cho

doanh nghiệp vừa và nhỏ

Nghiên cứu gần đây trong lĩnh vực HTTT đề cao hiệu quả của các HTQLTT

(KMS) như là sự đổi mới tiên tiến nhất trong tương lai .Các cơng trình nghiên cứu của

các tác giả như Davenport và Prusak (1998), Johnson (1998) và Alavi và Leidner

(2001) nhấn mạnh vào tầm quan trọng liên quan đến phát triển KMS trong tổ chức

nhằm tạo ra và duy trì LTCT trong môi trường kinh doanh ngày càng năng động, hiện

đại.

LTCT là kết quả của những quyết định tối ưu được tạo ra thông qua việc ứng

dụng tri thức và kỹ năng. Trong nghiên cứu của mình vào năm 2007, De Robillard đã

đề xuất mơ hình giải thích cách thức mà thông tin, tri thức, kỹ năng được sử dụng để

tạo ra LTCT. Những quyết định tối ưu được sử dụng hàng ngày dựa trên việc áp dụng

tri thức ngầm và hiện có sẵn trong doanh nghiệp.Tri thức ngầm được hiểu như sự hiểu

biết của mỗi cá nhân, tập thể, khi áp dụng vào LTCT sẽ giúp doanh nghiệp xây dựng

được những lợi thế mà đối thủ khó có thể sao chép được. Tri thức ngầm là một yếu tố

thành công quan trọng để đảm bảo LTCT (Van Beek, 2008).

Một nghiên cứu khác của Johannessen & Olsen (2003), cho rằng: có một sự

tương quan giữa mức độ quản lý tri thức, khả năng học tập của tổ chức với mức độ



LTCT. Quản lý tri thức đã dẫn đến việc cải thiện hoạt động trong dịch vụ khách hàng,

phát triển sản phẩm, giáo dục, đào tạo và quản lý sáng chế.

Trong các nghiên cứu của Porter (1985) and Teece et al (1997) cũng ghi nhận

sự đóng góp đặc biệt rằng các HTTT, HTQLTT đặc biệt, phục vụ cho sự phát triển của

các LTCT. Trong khi hệ thống quản trị thông tin và tri thức đơn độc khơng thể có các

chất lượng cần thiết để cung cấp cho các doanh nghiệp LTCT bền vững. Sự kết hợp

của HTQLTT với các nguồn lực doanh nghiệp và năng lực cốt lõi là chìa khóa cho sự

phát triển và duy trì LTCT bền vững thơng qua cải tiến sản phẩm và q trình. Trong

vị trí đó, HTQLTT nắm một vai trò quan trọng trong việc chuyển từ khả năng học

hỏi và năng lực cốt lõi sang LTCT và LTCT bền vững, bằng cách cho phép và khơi

phục lại q trình học hỏi và phát triển các nguồn lực của đơn vị.

HTQLTT là sự phát triển và sử dụng HTQLTT cho phép các doanh nghiệp đạt

được các mục tiêu đặt ra.KMS có thể giúp mọi người trong doanh nghiệp cộng tác với

nhau. Như vậy, cách thức mà các HTQLTT hỗ trợ cho chiến lược cạnh tranh và tạo ra

LTCT cho doanh nghiệp như thế nào?

- Doanh nghiệp có thểthu thập thơng tin một cách đầy đủ và kịp thời về các diễn biến thị

trường nhận diện và đánh giá được mức độ tác động của các cơ hội cũng như nguy

cơ trong mơi trường bên ngồi.

- Doanh nghiệp có khả năng thích nghi với thị trường mọi lúc, mọi nơi

Thị trường luôn diễn biến rất phức tạp, do vậy quyết định ở thời điểm này có

thể là phù hợp nhưng có thể khơng phù hợp ở thời điểm khác.Các nhà quản lý có thể

sử dụng HTQLTT để điều chỉnh, bổ sung các quyết định theo các tình huống cụ thể

một cách kịp thời.

- Để gia tăng cơ hội và giảm bớt rủi ro, doanh nghiệp chủ động hình thành các chiến

lược tấn cơng hoặc tác động ngược lại vào các yếu tố của thị trường. Bên cạnh đó,

doanh nghiệp cũng có cơ sở để tìm cách hạn chế điểm yếu, nâng cao khả năng

chống lại các nguy cơ tấn công từ các doanh nghiệp cạnh tranh để giữ vững thị phần

của mình trên thị trường,...

- Cầu nối giữa thị trường với công việc quản trị chiến lược trong doanh nghiệp chính là

quản lý tri thức. HTQLTT cung cấp các dữ liệu đầu vào và xử lý, trả về tri thức nhằm

giúp các nhà quản lý có cơ sở khoa học trong việc ra quyết định.

Như vậy, HTQLTT trong các doanh nghiệp, đặc biệt là các DNVVN giúp hỗ trợ

doanh nghiệp nâng cao các năng lực cạnh tranh. Đó chính là các năng lực cạnh tranh hội

tụ đủ 4 yếu tố: hiếm, khó bắt chước, có giá trị và không thể thay thế trong doanh nghiêp,



cụ thể là: năng lực sáng tạo, năng lực tiếp thu, năng lực thích nghi, năng lực kết nối,

năng lực thích hơp và năng lực nhận thức. Từ đó, các DNVVN đạt được LTCT thông

qua các phương thức:

- Tăng cường các sản phẩm hiện có

- Tạo ra các sản phẩm khác biệt

- Giữ chặt khách hàng

- Cản trở các đối thủ gia nhập thị trường

- Tăng lợi nhuận bằng cách giảm chi phí và giảm lỗi

Tốc độ phát triển và thay đổi nhanh chóng của mơi trường kinh doanh hiện nay

thì hệ thống thông là thành phần quan trọng giúp cho các doanh nghiệp duy trì đích

ngắm để đạt được mục tiêu trong kinh doanh và LTCT trên thị trường.Công nghệ

thông tin đã trở thành một tố chất không thể thiếu trong nhiều mũi đột phá chiến lược

mà các doanh nghiệp phải nắm bắt ngay từ đầu để đáp ứng được thách thức của sự

thay đổi.Đối với các DNVVN thì việc ứng dụng HTQLTT trong mọi quá trình hoạt

động kinh doanh là điều khơng thể thiếu.HTQLTT chính là cơng cụ hữu ích nhất đối

với các DNVVN có nguồn lực hạn chế để có thể đánh bại những đối thủ lớn và khẳng

định vị thế của mình trên thị trường cũng như trong tâm trí khách hàng.

Kết luận chương

Chương 1 đã trình bày bức tranh tổng quát về DNVVN ở Việt Nam. Tiếp theo,

tổng quan các khái niệm liên quan về LTCT và quản lý tri thức trong DNVVN tại Việt

Nam. Từ các kiến thức đã trình bày, tác giả đã chỉ ra vai trò của quản lý tri thức trong

việc tạo dựng LTCT cho DNVVN tại Việt Nam. Bên cạnh đó, tác giả đặt vấn đề cần

giải quyết là tác động của HTQLTT tới LTCT cho doanh nghiệp.



CHƯƠNG 2

HỆ THỐNG QUẢN LÝ TRI THỨC TRONG DOANH NGHIỆP VỪA

VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM

Chương này đi sâu vào nghiên cứu từ tổng quan tới chi tiết về HTQLTT trong

DNVVN tại Việt Nam. Phần đầu của chương trình bày tổng quan các trường phái

nghiên cứu về HTQLTT. Bên cạnh đó, tác giả đã khảo sát hiện trạng và xác định được

cấp độ phát triển của HTQLTT trong DNVVN ở Việt Nam. Cuối cùng, tác giả đề xuất

và kiểm định mơ hình các nhân tố ảnh hưởng tới HTQLTT trong DNVVN tại Việt Nam.



2.1. Các trường phái nghiên cứu và thực trạng hệ thống quản lý tri thức

trong DNVVN tại Việt Nam

Khác với quản lý dữ liệu hay quản lý thông tin, quản lý tri thức được hiểu là

một quá trình kiến tạo, chia sẻ, khai thác, sử dụng và phát triển tài sản tri thức trong

doanh nghiệp nhằm nâng cao tính hiệu quả, sự sáng tạo, năng lực đổi mới và khả năng

phản hồi nhanh chóng của doanh nghiệp. Hệ thống là một tập hợp các thành phần có

quan hệ tương tác với nhau, cùng phối hợp hoạt động để đạt được một mục tiêu chung,

thông qua việc thu nhận các yếu tố đầu vào và tạo ra các kết quả đầu ra trong một q

trình chuyển đổi có tổ chức. Trong điều kiện của quản lý tri thức, một hệ thống có thể

được xem như là tập hợp các thành phần khác nhau, chúng tương tác và tác động lẫn

nhau để duy trì và đảm bảo quản lý tri thức trong tổ chức.



2.1.1. Các trường phái nghiên cứu về Hệ thống quản lý tri thức

2.1.1.1. Thuyết khuếch tán đổi mới

Thuyết khuếch tán đổi mới (The theory of innovation diffusion - Rogers, 1995)

là thuyết tìm cách giải thích ý tưởng và cơng nghệ mới truyền đạt qua các nền văn hóa

như thế nào, tại sao và với tốc độ nào. Everett Rogers cho rằng: “Khuếch tán là quá

trình mà một sự đổi mới được truyền đạt thông qua một số kênh theo thời gian giữa

các thành viên trong một hệ thống xã hội. Nguồn gốc của thuyết khuếch tán đổi mới

rất đa dạng và mở rộng ra nhiều lĩnh vực”. Bốn yếu tố chính ảnh hưởng đến truyền đạt

của một ý tưởng mới:

1. Các kênh thông tin liên lạc;

2. Hệ thống xã hội;

3. Thời gian;



4. Sự đổi mới bản thân.

Quá trình này phụ thuộc nhiều vào yếu tố con người. Việc đổi mới phải được áp

dụng rộng rãi để tự duy trì.

Thứ nhất: Trong tỷ lệ chấp nhận, có một điểm mà tại đó một sự đổi mới đạt đến

điểm tới hạn. Các loại chấp nhận là: đổi mới, sớm chấp nhận, phần lớn sớm, muộn đa

số, và lạc hậu. Khuếch tán tự biểu lộ trong những cách khác nhau trong các nền văn

hóa và các lĩnh vực khác nhau, là vấn đề lớn đối với các loại chấp nhận và quá trình

quyết định đổi mới.

Thứ hai: Các kênh truyền thông là phương tiện thông tin liên lạc giữa các thành

viên của một hệ thống xã hội. Thời gian là giai đoạn quyết định liên quan đến việc đổi

mới. Có ba loại quyết định đổi mới:

1. Tùy chọn quyết định đổi mới;

2. Một tập thể quyết định đổi mới;

3. Một cơ quan quyết định đổi mới.

Thứ ba, một hệ thống xã hội là một tập hợp các đơn vị liên quan được tham gia

vào việc giải quyết đối với một mục tiêu chung vấn đề chung.

Thứ tư, một sự đổi mới là một ý tưởng, cơng nghệ, sản phẩm mới hoặc điều

khác đó là đặc trưng với các thuộc tính về lợi thế tương đối, tính tương thích, phức tạp,

áp dụng được và khả năng quan sát trong việc giải thích các q trình khuếch tán

(Barnes & Huff, 2003).

Q trình khuếch tán xảy ra thơng qua một q trình ra quyết định gồm năm

bước. Nó xảy ra thông qua một loạt các kênh truyền thông trong một khoảng thời gian

giữa các thành viên của một hệ thống xã hội tương tự. Ryan và Gross là những người

đầu tiên xác định thông qua như là một quá trình vào năm 1943. Rogers đưa ra năm

giai đoạn (bước): nhận thức, quan tâm, đánh giá, thử nghiệm, và thông qua là không

thể thiếu đối với thuyết này. Một cá nhân có thể từ chối một sự đổi mới bất cứ lúc nào

trong hoặc sau quá trình chấp nhận. Abrahamson kiểm chứng quá trình này bằng cách

đưa ra những câu hỏi như: Làm thế nào để cải tiến về mặt kỹ thuật khơng hiệu quả và

những gì cản trở đổi mới kỹ thuật hiệu quả từ việc khuếch tán? Abrahamson có những

đề xuất như thế nào cho các nhà khoa học của tổ chức có thể đánh giá một cách tồn

diện hơn đối với việc truyền thơng của các sáng kiến. Trong các phiên bản sau của

thuyết khuếch tán đổi mới, Rogers thay đổi thuật ngữ của ông trong năm giai đoạn.

Quá trình khuếch tán xảy ra trong năm giai đoạn:



1. Kiến thức;

2. Thuyết phục;

3. Quyết định,

4. Thực hiện;

5. Xác nhận (Benham và Raymond, 1996).

Kiến thức



Thuyết phục



Quyết định



Thực hiện



Xác nhận



Từ chối

Chấp nhận



Hình 2.1: Mơ hình năm giai đoạn của quá trình khuếch tán

Nguồn: Rogers, 1995

Kết quả cuối cùng của mơ hình này là việc ra quyết định chấp nhận hoặc từ chối

các KMS.



2.1.1.2. Lý thuyết Hành động hợp lý

Thuyết hành động hợp lý (The theory of reasoned action - Ajzen & Fishbein) là

một nguyên lý về ý định hành vi, dự đoán về thái độ và hành vi. Sự tách biệt tiếp theo

về ý định hành vi của các hành vi cho phép giải thích về việc hạn chế các yếu tố trên

ảnh hưởng thái độ (Ajzen, 1980). Thuyết hành động hợp lý (TRA) được phát triển bởi

(Martin Fishbein và Ajzen Icek, 1975, 1980), xuất phát từ nghiên cứu trước đó bắt đầu

ra như là các lý thuyết về thái độ, dẫn đến việc nghiên cứu thái độ và hành vi. Lý

thuyết này được đưa ra chủ yếu trong sự thất vọng với nghiên cứu thái độ, hành vi

truyền thống, trong đó có nhiều phát hiện thấy tương yếu giữa các biện pháp thái độ và

hiệu suất của các hành vi của ý chí (Hale, Householder & Greene, 2002, p. 259).

Các thành phần của TRA có ba thành phần chung: ý định hành vi (BI), thái độ

(A), và chuẩn chủ quan (SN). TRA cho thấy ý định hành vi của một người phụ thuộc

vào thái độ của người đó về hành vi và các chỉ tiêu chủ quan (BI = A + SN). Nếu một

người có ý định thực hiện một hành vi thì có khả năng là sẽ làm điều đó.

Ý định hành vi đo lường sức mạnh tương đối của một người về ý định thực hiện

một hành vi. Thái độ bao gồm niềm tin về những hậu quả của việc thực hiện các hành



vi bằng cách đánh giá về những hậu quả (Fishbein & Ajzen, 1975). Định mức chủ

quan được xem là một sự kết hợp của những kỳ vọng nhận thức của các cá nhân hoặc

các nhóm có liên quan cùng với ý định để thực hiện theo những kỳ vọng này. Nói cách

khác, "nhận thức của người mà hầu hết là những người quan trọng với họ nghĩ họ nên

hay không nên thực hiện các hành vi trong câu hỏi" (Fishbein & Ajzen, 1975).

Khái niệm này có thể hiểu một cách đơn giản: hành vi của một người được dự

đoán bởi thái độ của người đó đối với hành vi đó và làm thế nào họ nghĩ rằng những

người khác sẽ xem họ nếu họ thực hiện hành vi. Thái độ của một người, kết hợp với

các chỉ tiêu chủ quan, tạo ý định hành vi của người đó.

Fishbein và Ajzen cũng nhận định: thái độ và định mức được coi trọng không

kém trong việc dự đoán hành vi. Miller (2005, p. 127) nhận định: “Tùy thuộc vào mỗi

cá nhân và ngữ cảnh, các yếu tố có thể tác động khác nhau về ý định hành vi. Do đó

trọng số của các yếu tố có tương quan với nhau là khác nhau. Ví dụ, có người có thể là

loại người người quan tâm ít với những gì người khác nghĩ. Nếu là trường hợp này,

các chỉ tiêu chủ quan sẽ mang trọng số nhỏ trong việc dự đốn hành vi của người đó”.

Miller, 2005 cũng nêu định nghĩa một trong ba thành phần của lý thuyết này như sau:

Thái độ: gồm tất cả niềm tin về một hành vi cụ thể bởi những đánh giá của niềm

tin đó. Ví dụ, người ta có thể có niềm tin rằng tập thể dục là tốt cho sức khỏe, rằng tập

thể dục làm cho conngười trông đẹp hơn nhưng cũng có ý kiến cho rằng tập thể dục là

phải mất quá nhiều thời gian và tập thể dục không thoải mái. Mỗi một niềm tin sẽ lựa

chọn điều gì là quan trọng. Các vấn đề về sức khỏe có thể là quan trọng với người này

hơn là những vấn đề của thời gian và sự thoải máitheo quan điểm của người khác.

Chuẩn chủ quan: xem xét sự ảnh hưởng của người khác trong môi trường xã hội

của một người về ý định hành vi của mình; niềm tin, tầm quan trọng cho mỗi ý kiến

của họsẽ ảnh hưởng đến ý định hành vi của một người. Mỗi người có thể có một số

bạn bè, có thể tham gia trong một hoạt động tập thể nào đó. Tuy nhiên, một người

trong số đó có thể thích lối sống ít vận động hơn và chế giễu những người tham gia.

Các niềm tin của người này, tầm quan trọng cho mỗi ý kiến của họ sẽ ảnh hưởng đến ý

định hành vi của người khác và sẽ dẫn đến hành vi không thực hiện hoặc không thực

hiệntrong hoạt động tập thể.

Ý định hành vi: một chức năng ảnh hưởng bởi thái độ đối với một hành vi và

các chỉ tiêu chủ quan đối với hành vi đó. Thái độ của một người kết hợp với các chỉ

tiêu chủ quan đều có mức độ ảnh hưởng riêng và sẽ đến việc thực hiện (hoặc khơng),

sau đó sẽ dẫn đến hành vi thực tế của người đó.



51



Niềm tin

Thái độ

Sự đánh giá

Ý định hành vi

Niềm tin quy chuẩn

Chuẩn chủ

quan

Động cơ

Hình 2.2. Mơ hình TRA

Nguồn: Fishbein & Ajzen, 1980

Trong bối cảnh của KMS được chấp nhận, các nhà nghiên cứu sử dụng TRA

giả định việc sử dụng thực tế của KMS như bị ảnh hưởng bởi hành vi có ý định sử

dụng của người dùng, do đó phụ thuộc vào thái độ của người sử dụng đối với việc sử

dụng của KMS cũng như các chỉ tiêu chủ quan của việc sử dụng KMS chủ yếu trong

môi trường xã hội của người sử dụng (Barnes & Huff, 2003).



2.1.1.3. Mơ hình chấp nhận cơng nghệ

Mơ hình chấp nhận cơng nghệ (The Technology acceptance model - Davis,

1989)là một lý thuyết mơ hình HTTT của người dùng để chấp nhận và sử dụng một

cơng nghệ. Mơ hình này cho thấy rằng khi người dùng được trình bày với một công

nghệ mới, một số yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của họ như thế nào và khi nào họ

sẽ sử dụng nó, đáng chú ý là:

Nhận thức được tính hữu dụng - Điều này đã được xác định bởi Fred Davis là

"mức độ mà một người tin rằng việc sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ nâng cao hiệu

suất đối với cơng việc của mình".

Nhận thức tính dễ sử dụng - "mức độ mà một người tin rằng việc sử dụng một

hệ thống cụ thể sẽ không cần phải nỗ lực quá nhiều" (Davis, 1989). Các TAM đã được

nghiên cứu liên tục và mở rộng-hai bản nâng cấp chính là TAM 2 (Venkatesh &Davis

2000 & Venkatesh 2000) và Lý thuyết thống nhất của “Chấp nhận và sử dụng công

nghệ” (hoặc UTAUT, Venkatesh et al. 2003). Một TAM 3 cũng đã được đề xuất trong

bối cảnh thương mại điện tử với một bao gồm các tác động của sự tin tưởng và nhận

thức rủi ro trên hệ thống người dùng (Venkatesh & Bala, 2008)



Mơ hình chấp nhận công nghệ (TAM) được phát triển dựa trên TRA (Davis,

1989). TRA được thiết kế chủ yếu cho việc áp dụng và cách sử dụng của đổi mới mơ

hình sử dụng (Mathieson et al., 2001).

Sự hữu ích cảm

nhận

Biến bên

ngồi



Thái độ

sử dụng



Ý định



Thói quen

sử dụng hệ thống



Sự dễ sử dụng

cảmnhận



Hình 2.3.Mơ hình TAM

Nguồn: Davis, 1989

Cả hai việc nhận thức tính hữu dụng và dễ sử dụng đều ảnh hưởng đến thái độ

của người dùng đối với sự nghiệp đổi mới.Trong đó lần lượt ảnh hưởng đến ý định sử

dụng các đổi mới (Mathieson et al., 2001). Ngồi ra còn có một tác động trực tiếp của

việc nhận thức tính hữu dụng về ý định hành vi của người dùng để sử dụng các đổi

mới. Trong bối cảnh của KMS, các mơ hình TAM ban đầu đã được sửa đổi đôi chút để

kết hợp các kết quả nghiên cứu mới. Dựa trên những nghiên cứu này, các mơ hình

TAM ban đầu đã được mở rộng bởi các tác giả khác nhau để kết hợp các biến số bổ

sung mà có thể giải thích cho đúng hơn trong việc áp dụng và sử dụng KMS.



2.1.1.4. Thuyết hành vi hoạch định

Thuyết hành vi hoạch định (The theory of Planned behavior - Ajzen &

Fishbein) là một phần mở rộng của lý thuyết hành động hợp lý (Ajzen & Fishbein,

1980; Fishbein & Ajzen, 1975) thực hiện cần thiết bởi những hạn chế của mơ hình ban

đầu trong việc giải quyết các hành vi qua đó người dân có thể kiểm sốt đầy đủ ý chí.

Như trong lý thuyết ban đầu của hành động hợp lý, một yếu tố chính trong lý thuyết

hành vi hoạch định là ý định của cá nhân để thực hiện một ý định hành vi. Ý định được

giả định để nắm bắt được các yếu tố tạo động lực ảnh hưởng đến một hành vi; họ cố

gắng, nỗ lực để thực hiện kế hoạch, để thực hiện hành vi. Ý định tham gia vào một

hành vi càng mạnh, nhiều khả năng sẽ có hiệu quả. Tuy nhiên, một ý định hành vi có

thể biểu hiện ở hành vi chỉ khi các hành vi trong câu hỏi dưới sự kiểm sốt của ý chí.

Hành vi của con người được thông qua: "niềm tin về hành vi", "niềm tin chủ quan" và

"niềm tin kiểm soát." Trong đó, "niềm tin về hành vi" dẫn đến "thái độ đối với các



hành vi" có lợi hay bất lợi; "niềm tin chủ quan" dẫn đến "chuẩn chủ quan"; và "niềm

tin kiểm soát" đưa đến "nhận thức kiểm soát hành vi."

Trong sự kết hợp "thái độ đối với các hành vi", "chuẩn chủ quan" và "nhận thức

kiểm soát hành vi" dẫn đến sự hình thành của một "ý định hành vi". Trong đó, "nhận

thức kiểm sốt hành vi" được cho là không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi, mà

còn ảnh hưởng gián tiếp thơng qua ý định hành vi. Các lý thuyết hành vi hoạch định

(TPB) thêm vào TRA bằng cách xem xét nhận thức kiểm soát hành vi, không phải tất

cả hành vi nào cũng cần phải kiểm soát. Các nhà nghiên cứu sử dụng TPB giả định có

ý định áp dụng KMS như được xác định bởi ba yếu tố:

1. Thái độ;

2. Chuẩn chủ quan;

3. Nhận thức kiểm soát hành vi.

Thái độ



Chuẩn chủ quan



Hành vi



Ý định



Kiểm sốt

hành vi

Hình 2.4. Mơ hình TPB

Nguồn: Ajzen & Fishbein, 1980

Nhận thức kiểm soát hành vi là nhận thức của một cá nhân về các nguồn lực, kỹ

năng và cơ hội cần thiết để làm cho việc sử dụng của KMS hoặc một số tính năng của

nó. Động lực của một người bị ảnh hưởng bởi sự phức tạp của nhận thức thực hiện

hành vi nhất định, và do nhận thức của một cá nhân như thế nào thành công, ông / bà

có thể được thực hiện ở các hành vi. Niềm tin kiểm soát bao gồm các yếu tố nội bộ của

kỹ năng và khả năng, cũng như các yếu tố bên ngồi, mà là tình huống hoặc mơi

trường. Các mơ hình TPB cải thiện trên TRA bằng cách bao gồm các biến của nhận

thức kiểm soát hành vi, mà các biện pháp nhận thức của một người kiểm soát thực

hiện một hành vi nhất định (Rawstorne et al., 2000). Mỗi yếu tố, lần lượt, được tạo ra



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Từ công việc truyền thống đến công việc tri thức

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×