Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Những đóng góp mới của luận án

Những đóng góp mới của luận án

Tải bản đầy đủ - 0trang

thời, Luận án cũng gợi mở một số hướng nghiên cứu tiếp theo đối với chủ đề quản lý

tri thức trong doanh nghiệp.



CHƯƠNG 1

QUẢN LÝ TRI THỨC VỚI VẤN ĐỀ TẠO DỰNG LỢI THẾ CẠNH

TRANH CHO DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI VIỆT NAM

Trong chương 1, luận án trình bày tổng quan về quản lý tri thức với vấn đề tạo

dựng LTCT cho DNVVN tại Việt Nam. Phần đầu của chương trình bày thực trạng của

DNVVN Việt Nam. Tiếp theo, giới thiệu về LTCT và các năng lực trong doanh nghiệp

ảnh hưởng đến LTCT. Phần tiếp theo, giới thiệu tổng quan về tri thức, phân loại tri

thức và quản lý tri thức trong doanh nghiệp. Phần cuối cùng của chương trình bày các

phân tích, đánh giá để thấy được vai trò của quản lý tri thức trong việc tạo dựng LTCT

cho DNVVN.



1.1. Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam

Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) được phân loại dựa trên quy mô về lao

động hoặc vốn của các doanh nghiệp. Ở mỗi quốc gia trên thế giới đều có sự khác biệt

trong khái niệm DNVVN là tiêu chí phân loại quy mơ doanh nghiệp với các mức

lượng hóa chi tiết cụ thể theo từng tiêu chí khác nhau.

Doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa hay còn được gọi thơng dụng là DNVVN là

những doanh nghiệp có quy mơ nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. Tại Việt

Nam, ngày 08/02/2013 Bộ Tài Chính đã ban hành thơng tư số 16/2013/TT-BTC về

việc “Hướng dẫn thực hiện việc gia hạn, giảm một số khoản thu ngân sách nhà nước

theo nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ” thì doanh nghiệp vừa

và nhỏ (DNVVN) được định nghĩa: “Doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, bao gồm cả

chi nhánh, đơn vị trực thuộc nhưng hạch toán độc lập, hợp tác xã (sử dụng dưới 200

lao động làm việc toàn bộ thời gian năm và có doanh thu năm khơng q 20 tỷ đồng)

gọi chung là doanh nghiệp vừa và nhỏ”.

Bên cạnh đó, ngày 30/06/2009 theo Điều 3 nghị định 56/2009/NĐCP của Chính

phủ định nghĩa “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh

theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng

nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân

đối kế tốn của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu

chí ưu tiên)”, cụ thể như sau:



Bảng 1.1. Tiêu chí doanhnghiệp vừavànhỏ ở Việt Nam

Quy mô



Doanh nghiệp

siêu nhỏ



Doanh nghiệp nhỏ



Doanh nghiệp vừa



Số người lao



Tổng vốn



Số người lao



Tổng vốn



Số người



động



(tỷ đồng)



động



(tỷ đồng)



lao động



A



< 10



< 20



10 - 200



20 - 100



200 - 300



B



< 10



< 20



10 - 200



20 - 100



200 - 300



C



< 10



< 20



10 - 50



10 - 50



50 - 100



Khu vực



Trong đó:



A: Nơng, lâm nghiệp và thủy sản

B: Công nghiệp và xây dựng

C: Thương mại và dịch vụ

Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐCP của Chính phủ ngày 30/06/2009



Như vậy, nghị định 56/2009/NĐCP có sử dụng thuật ngữ “Doanh nghiệp nhỏ

và vừa” nhưng nghị quyết số 02/NQ-CPngày 07/01/2013 sử dụng thuật ngữ “Doanh

nghiệp vừa và nhỏ”. Tuy nhiên, cả hai thuật ngữ này đều phản ánh những doanh

nghiệp có quy mơ nhỏ bé về mặt vốn (dưới 100 tỷ VNĐ), lao động (dưới 300 người).

Để thống nhất thuật ngữ chung và vẫn đảm bảo ý nghĩa khoa học, trong luận án chỉsử

dụng thuật ngữ “Doanh nghiệp vừa và nhỏ”.

Trên thực tế, các DNVVN có thể sản xuất nhiều chủng loại hàng hố, dịch vụ

đa dạng phù hợp với quy mơ thị trường phân tán; bên cạnh đó DNVVN có khả năng

giải quyết công ăn việc làm tại chỗ, khai thác các nguồn nguyên liệu địa phương,

đóng góp đáng kể vào nỗ lực cân đối phát triển phân bổ lao động đặc biệt là lao động

nhàn rỗi, đưa các hình thái sản xuất công nghiệp tới nhiều vùng dân cư khác nhau.

DNVVN góp phần thúc đẩy q trình chun mơn hố và đa dạng hoá ngành nghề,

đồng thời tạo điều kiện xây dựng và rèn luyện một đội ngũ doanh nhân mới thích

ứng với kinh tế thị trường.

Theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê tiến hành trên quy mô tồn quốc

thời điểm 31/12/2013, xét theo quy mơ vốn, trong tổng số 373.213 doanh nghiệp Việt

Nam (chưa bao gồm các doanh nghiệp hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách

nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần thuộc các ngành nơng, lâm, thuỷ sản) có hơn 93%

doanh nghiệp là DNVVN.



Hình 1.1. Cơ cấu các doanh nghiệp phân theo quy mô vốn

Nguồn: Tổng cục Thống kê (2014) Kết quả điều tra toàn bộ doanh nghiệp 31/12/2013

Mặt khác, nếu xét theo góc độ số lượng lao động trong doanh nghiệp, số

DNVVN cũng chiếm tới 92% tổng số doanh nghiệp trên phạm vi cả nước:



Hình 1.2. Cơ cấu các doanh nghiệp phân theo số lượng lao động

Nguồn: Tổng cục Thống kê (2014) Kết quả điều tra toàn bộ doanh nghiệp 31/12/2013

Tuy nhiên, điều đáng quan tâm nhiều hơn đằng sau việc xác định tỷ trọng các

loại hình doanh nghiệp là nhận định vai trò, tầm quan trọng của chúng trong việc đóng

góp vào sự phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia. Việc xác định này sẽ hướng tới việc

hình thành và phát triển môi trường kinh doanh hợp lý, cạnh tranh công bằng giữa các

thành phần kinh tế, kết hợp với các chính sách khuyến khích trợ giúp thoả đáng, tạo

điều kiện cho mọi nguồn lực phát huy được sức mạnh tiềm nằng của chúng.



1.2. Lợi thế cạnh tranh

Khái niệm về lợi thế cạnh tranh được nhiều người biết đến nhất là định nghĩa

của M.Porter (2004): “Lợi thế cạnh tranh là giá trị mà doanh nghiệp mang đến cho



khách hàng, giá trị đó vượt q chi phí dùng để tạo ra nó”. Doanh nghiệp có sản phẩm,

dịch vụ, quy trình,… mà các doanh nghiệp khác khơng có, hoạt động tốt hơn doanh

nghiệp khác hay làm được những việc mà doanh nghiệp khác khơng thể làm được khi

doanh nghiệp có LTCT. Các doanh nghiệp đều mong muốn nâng cao LTCT nhằm

xây dựng yếu tố quan trọng, thiết yếu cho sự thành công, phát triển bền vững của

doanh nghiệp.



1.2.1. Khái quát về lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp

Mặc dù có nhiều nhà kinh tế đã sử dụng các khái niệm về LTCT trước Porter,

Porter work11 (1979, 1980, 1985, và 1990) vẫn là điểm khởi đầu cho bất kỳ cuộc thảo

luận nào về LTCT (Jones, 2003) và Barney (2002) lập luận rằng điều khoản của LTCT

đã không xuất hiện trong tác phẩm của Porter cho đến năm 1985, ngược lại Day

(1984), Spence (1984) và Barney (1986) đã sử dụng các điều khoản của LTCT trong

cùng khoảng thời gian với Porter, trong khi Penrose (1959) và Ansoff (1965) đã sử

dụng các khái niệm về LTCT trước khi thời điểm đó.

Khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp là khả năng mà doanh nghiệp sẽ đạt

được mục tiêu của mình.Những mục tiêu này có thể sẽ được thể hiện trong một loạt

các điều kiện tùy thuộc vào ngữ cảnh (Barney 2002). Trong một viễn cảnh kinh tế vĩ

mơ, một doanh nghiệp có sự cạnh tranh, phát triển và duy trì một mức độ thực hiện, sẽ

góp phần làm tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tạo ra nhiều cơ hội việc làm và

phát triển kinh tế cho người dân. Từ một quan điểm kinh doanh, để có thể cạnh tranh

được trên thị trường thì một doanh nghiệp cần có LTCT để tồn tại trên thị trường nhằm

đạt được thị phần và lợi nhuận. Sự thành cơng của doanh nghiệp đó là có LTCT, và nó

có thể được đo bằng cả hai tiêu chí khách quan và chủ quan: Tiêu chí khách quan bao

gồm: lợi nhuận trên đầu tư, thị phần, lợi nhuận và doanh thu bán hàng; Tiêu chí chủ

quan bao gồm: uy tín với khách hàng, nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh và cải thiện

chất lượng dịch vụ cung cấp (Barney 2002).

Barney (2002) thảo luận về bốn cách tiếp cận để đo lường khả năng cạnh tranh

của doanh nghiệp. Những số đo này là: Sự sống còn của doanh nghiệp, tiếp cận các

bên liên quan, các biện pháp kế toán đơn giản, các biện pháp kế toán điều chỉnh. Theo

Feurer và Chaharbaghi (1994) việc đo lường khả năng cạnh tranh về số lượng được đo

bằng lợi nhuận, khả năng huy động vốn và dòng tiền về tình trạng thanh khoản.

Soliman (1998) cho biết thêm: các yếu tố về chi phí, chất lượng, khả năng giao hàng,

độ tin cậy, tính linh hoạt và sáng tạo là các yếu tố xây dựng một vị thế cạnh tranh. Như

vậy, M. Porter (1985) đã chỉ ra rằng một doanh nghiệp có kinh nghiệm cũng là một



LTCT khi "hành động của mình trong một ngành cơng nghiệp tạo ra giá trị kinh tế và

khi vài doanh nghiệp cạnh tranh đang tham gia vào các hành động tương tự". De Wit

và Meyer (1999), Buffam (2000), và Christensen (2001) chỉ ra rằng một



doanh



nghiệpđó có LTCT khi doanh nghiệp có các LTCT so với các đối thủ cạnh tranh và

khi có sự ưu tiên của khách hàng.

Mục tiêu quan trọng của một doanh nghiệp kinh doanh là tối ưu hóa lợi nhuận

cổ đơng. Tuy nhiên, tối ưu hóa lợi nhuận ngắn hạn không nhất thiết phải đảm bảo cổ

đông tối ưu lợi nhuận từ giá trị cổ đông đại diện cho các giá trị hiện tại ròng của thu

nhập dự kiến trong tương lai. Một trong những kỹ thuật phản ánh các cổ đông trở lại là

khái niệm của Thẻ điểm cân bằng là một chỉ số cho LTCT của doanh nghiệp.Trong

những năm gần đây, lý thuyết dựa vào tài nguyên của chiến lược đã trở nên ngày càng

có ảnh hưởng lớn và hầu hết các nhà nghiên cứu lấy cảm hứng từ các cơng trình

nghiên cứu của Penrose (Foss 1997; rangone 1999). Trong khi đó, Porter (1980) xem

khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là kết quả của vị thế thị trường của nó. Các nhà

nghiên cứu dựa vào tài nguyên cho rằng: doanh nghiệp trong một ngành công nghiệp

đang hoạt động tốt là dựa trên năng lực cốt lõi của họ. Năng lực cốt lõi là việc học tập

trong tổ chức, đặc biệt là làm thế nào để phối hợp các kỹ năng sản xuất đa dạng và tích

hợp nhiều dòng cơng nghệ Prahalad và Hamel (1990).

Prahalad và Hamel (1990) tập trung vào các nguồn lực, khả năng và năng lực

của các tổ chức như là nguồn gốc của LTCT hơn so với môi trường, như trong phương

pháp truyền thống.

Một nghiên cứu của các DNVVN ở Hà Lan thông qua một phương pháp tiếp

cận dựa trên tài nguyên để xác định nguồn gốc của LTCT trong một mẫu của 63 doanh

nghiệp đại diện cho ngành sản xuất và dịch vụ (Tilley 2003). Theo nghiên cứu này,

"người tiên phong" được phân biệt với "thành viên trở lại" bởi cách mà họ kết hợp bộ

ba năng lực: thị trường, công nghệ và tổ chức. Wickham (2001) cũng áp dụng các lý

thuyết dựa vào tài nguyên trong phân tích về LTCT trong các doanh nghiệp kinh

doanh.

Một trong những lĩnh vực cơ bản quan tâm trong ngành kinh tế công nghiệp là

tác động qua lại giữa doanh nghiệp và các nguồn lực thị trường.Các nhà kinh tế, thuộc

trường phái này, đã nhận thức được tầm quan trọng của liên kết giữa môi trường và

các chiến lược của doanh nghiệp.Họ sử dụng các sơ đồ cơ cấu - thực hiện -hiệu suất,

một mô hình giả định các điều kiện cơ bản của cung (đầu vào, công nghệ, v.v.) và cầu

(tăng trưởng của nhu cầu, giá, v.v.). Cơ cấu thị trường sau đó được đưa vào quan điểm

về số người tham gia thị trường (người mua và người bán), rào cản gia nhập, cơ cấu



chi phí và phân loại sản phẩm liên quan đến thực hiện được minh họa trong việc định

giá, chiến lược sản phẩm, nghiên cứu và đổi mới (Porter 1985). Sự tương tác sẽ được

thông qua và dẫn đến hiệu suất của doanh nghiệp thể hiện bằng hiệu quả sản xuất, việc

làm của các nguồn tài nguyên và mức độ của sự tiến bộ. Ở khía cạnh này, cơ cấu thị

trường bao gồm các môi trường mà các doanh nghiệp đang hoạt động. Trong đó mơ

hình, cơ cấu thị trường, chiến lược và thực hiện sẽ bao gồm các biến số ảnh hưởng đến

khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp (Kazem 2004).

Porter (1980) cho rằng “việc cạnh tranh là việc giành lấy thị phần.Bản chất của

sự cạnh tranh là tìm kiếm ra lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận

trung bình mà doanh nghiệp hiện đang có. Kết quả q trình cạnh tranh là sự bình

qn hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả

có thể giảm”. Chaffey (2002) người hỗ trợ chính mơ hình năm lực lượng cạnh tranh cổ

điển của Porter cho rằng nó vẫn cung cấp một khn khổ hợp lý để rà sốt các mối đe

dọa phát sinh trong nền kinh doanh điện tử.Giá trị của mơ hình nguồn lực cạnh tranh

của Porter cho phép các nhà quản lý phải suy nghĩ về tình hình ngành công nghiệp của

họ tại thời điểm hiện tại. Đây là một điểm khởi đầu dễ dàng cho việc phân tích sâu hơn

về mơ hình nguồn lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Lý thuyết của Poter về truyền thông đã phần lớn bị xem nhẹ và chưa đạt được

một vị trí cạnh tranh tốt hơn so với những nhân tố khác. Ngày nay, truyền thông trở nên

quan trọng hơnnhiều trong việc tạo nên hoạt động hợp tác giúp đơi bên cùng có lợi. Với

điểm này, nó khơng thực sự tác động đến tính chiến lược, liên kết điện tử của HTTT của

tồn bộ doanh nghiệp theo một dãy giá trị, nhóm các mạng doanh nghiệp ảo hoặc những

mạng khác. Tuy nhiên, Poter (2001) cho rằng Internet có tác động mạnh mẽ đến việc

cung cấp thông tin khách hàng và mối quan hệ giữa doanh nghiệp và nhà cung cấp và

không cần thay đổi lý thuyết chiến lược để giải quyết với Internet.

Lý thuyết của Porter dựa trên tình hình kinh tế trong thập niên 80. Mơ hình này

khơng thể giải thích được những thay đổi năng động như ngày nay.Mơ hình năm lực

lượng cạnh tranh của Porter có thể có một số hạn chế lớn trong mơi trường thị trường

hiện nay.Nó khơng phản ánh sự tất yếu của thành phần trung gian và thực tế quan hệ

đối tác mới là trung gian.

Trong ý nghĩa kinh tế, mơ hình giả định của Poter được áp dụng ở một thị

trường cổ điển hồn hảo.Có nhiều ngành công nghiệp được điều chỉnh, sự hiểu biết về

mơ hình này còn hạn chế.

Mơ hình này được áp dụng tốt nhất cho việc phân tích các cấu trúc thị trường

đơn giản. Một mơ tả tồn diện và phân tích của tất cả năm lực lượng sẽ khó khăn trong



31

các ngành công nghiệp phức tạp với nhiều mối quan hệ tương quan, các nhóm sản

phẩm, sản phẩm và các phân đoạn.

Theo Porter (1985), những quy tắc của sự cạnh tranh được thể hiện qua “Mơ

hình 5 lực lượng cạnh tranh” thể hiện trong hình 1.3. Các lực lượng cạnh tranh bao

gồm: các đối thủ tiềm năng, các đối thủ cạnh tranh hiện tại, nhà cung cấp, khách hàng,

sản phẩm dịch vụ thay thế. Porter (1985) giải thích rằng cơ cấu ngành cơng nghiệp

tương đối ổn định, nhưng có thể thay đổi theo thời gian như một ngành công nghiệp

phát triển, và sức mạnh của 5 lực lượng cạnh tranh thay đổi từ một ngành công nghiệp

khác. Năm lực lượng xác định lợi nhuận của ngành công nghiệp ảnh hưởng đến giá cả,

chi phí và các yêu cầu đầu tư của các doanh nghiệp trong một ngành cơng nghiệp đó.

Quyền lực của người mua ảnh hưởng đến mức giá mà một doanh nghiệp có thể tính

phí, chi phí ảnh hưởng và đầu tư. Sức mạnh mặc cả của nhà cung cấp xác định chi phí

ngun liệu thơ và đầu vào khác.Cường độ của sự cạnh tranh ảnh hưởng đến giá cả

cũng như các chi phí cạnh tranh.



Hình 1.3. Mơ hình năm lực lượng cạnh tranh

Nguồn: Porter (1985)



1.2.2. Các năng lực trong doanh nghiệp ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh

Tiếp cận theo quan điểm nguồn lực, LTCT được xem xét thông qua các định tố

là các nhân tố bên trong mà doanh nghiệp sở hữu, kiểm sốt và có khả năng quản trị

các nhân tố đó. Quan điểm lý thuyết cạnh tranh dựa trên nguồn lực của doanh nghiệp

luôn được thay đổi và phát triển trong thị trường năng động và tạo ra lý thuyết năng

lực động. Chính vì vậy, “chỉ có lý thuyết năng lực động mới đánh giá được làm thế

nào doanh nghiệp có thể tạo ra được LTCT trong mơi trường thay đổi nhanh chóng”

theoAmbrosini &Bowman (2009).



Theo Teece và cộng sự (1997), năng lực động được hiểu là “khả năng tích hợp,

xây dựng và định dạng lại những tiềm năng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp để

đáp ứng với thay đổi của môi trường kinh doanh”. Nguồn lực của doanh nghiệp có thể

trở thành năng lực động và tạo ra LTCT là những nguồn lực thỏa mãn: có giá trị, quý

hiếm, khó thay thế và khó bị bắt chước (Eisenhardt& Martin, 2000). Cho đến nay, có

nhiều nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của năng lực động lên hiệu quả hoạt động kinh

doanh cũng như LTCT của doanh nghiệp.



1.2.2.1. Năng lực sáng tạo

Khả năng sáng tạo có ảnh hưởng lớn tới sự tồn tại, phát triển của mỗi

doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp nào có năng lực sáng tạo tốt hơn doanh nghiệp

khác, doanh nghiệp đó sẽ hoạt động tốt hơn, tạo ra nhiều lợi nhuận hơnvà mang nhiều

giá trị thị trường cũng như được đánh giá tín dụng tốt hơn (Volberda và các cộng sự,

2009). Để phát triển năng lực sáng tạo, doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào khả năng

khai thác, vận dụng tri thức bên trong và tri thức bên ngồi một cách có hiệu quả

(Fabrizio, 2009). DNVVN cần nâng cao năng lực sáng tạo nhằm gia tăng LTCT.



1.2.2.2. Năng lực thíchnghi

Theo các nghiên cứu của Gibson& Birkinshaw (2004), Sapienza &etc (2006) và

Zhou& Li (2010), năng lực thích nghi được hiểu là khả năng mà doanh nghiệp kết

hợp và tổ chức lại các nguồn lực của doah nghiệp một cách nhanh chóng để đối phó

với các thay đổi của thị trường.Điều này cũng có nghĩa là doanh nghiệp thích nghi với

sự thay đổi của mơi trường nhanh hơn và tốt hơn các dối thủ cạnh tranh.Thông qua

việc liên tục phát triển, tái cấu trúc các tài sản, doanh nghiệp có thể đạt được LTCT

(Augier& Teece, 2008; Teece, 2007). Doanh nghiệp có năng lực thích nghi càng cao

thì càng dễ tạo dựng LTCT.



1.2.2.3. Năng lực tiếpthu

Theo Zhou& Li, 2010: “Năng lực tiếp thu của doanh nghiệp có thể xếp vào khả

năng học tập và quản trị tri thức của doanh nghiệp đó và do đó các doanh nghiệp với

năng lực này sẽ có khả năng hay năng lực để nhận biết, phát triển và sử dụng tri thức

bên ngồi tạo ra tri thức mới có giá trị”.

Năng lực tiếp thu có ảnh hưởng lớn đến việc áp dụng các tri thức bên ngoài để

đổi mới chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp thơng qua q trình học tập. Như

vậy, cả tri thức bên trong và bên ngoài đều quan trọng đối với năng lực tiếp thu. Doanh



nghiệp có thể đạt được LTCT và hoạt động tốt hơn các doanh nghiệp cạnh tranh khác

nhờ vào Năng lực tiếp thu (Wetter và Delmar, 2007).



1.2.2.4. Năng lực kết nối

“Năng lực kết nối là khả năng của doanh nghiệp để tạo ra và sử dụng các mối

quan hệ giữa các tổ chức để có được các nguồn lực khác nhau”, định nghĩa bởi Walter

và các cộng sự, 2006.Năng lực kết nối là khả năng doanh nghiệp đạt được lợi thế cao

hơn trong các mối quan hệ với các tổ chức khác, từ đó thiết lập các mối quan hệ có lợi

trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình.Việc xây dựng một mạng lưới liên tổ

chức với các mối quan hệ hợp tác với các nhà cung cấp, đối tác, khách hàng, nhà phân

phối,… hay là một số doanh nghiệp cạnh tranh nhất định sẽ góp phần tạo dựng LTCT.

Chính năng lực kết nối sẽ là nguồn lực quan trọng giúp cho doanh nghiệp đạt được

điều này trong môi trường luôn luôn biến động.



1.2.2.5. Năng lực nhận thức

“Năng lực nhận thức trong những nguồn lực chính của lợi thế cạnh tranh, là khả

năng của doanh nghiệp hiểu biết một cách rõ ràng, nhanh chóng và kịp thời nhất các

đối thủ cạnh tranh, khách hàng và môi trường kinh doanh”, theo các khái niệm được

phát biểu bởi Morgan và các cộng sự, 2009. Khả năng của doanh nghiệp tìm hiểu, thu

thập thơng tin từ thị trường, nhận thức thay đổi của thị trường để đưa ra các hành động

phù hợp là năng lực nhận thức (Lindblo&etc, 2008). Lindblo&etc, 2008 cũng đưa ra

nhận định “năng lực nhận thức cho phép các DNVVN thu thập thơng tin thị trường có

giá trị và giải thích các thông tin để đạt được kết quả kinh doanh và lợi thế cạnh

tranh”.



1.2.2.6. Năng lực tíchhợp

“Năng lực tích hợp là khả năng của doanh nghiệp để kết hợp tất cả các năng lực

mà doanh nghiệp hiện có: năng lực sáng tạo, năng lực thích nghi, năng lực tiếp thu,

năng lực kết nối, năng lực nhận thức và hài hòa chúng để tạo ra lợi thế cạnh tranh

bền vững trong điều kiện kinh doanh thay đổi nhanh chóng”, phát biểu của Jusoh&

Parnell, 2008. Ngồi ra, dựa vào năng lực tích hợp mà doanh nghiệp còn có khả năng

kết hợp hài hòa và quản lý có hiệu quả các nguồn năng lực bên trong và bên ngoài

doanh nghiệp nhằm tạo ra giá trị cho doanh nghiệp. Các doanh nghiệp sở hữu năng

lực tích hợp còn có thể đồng bộ hóa tri thức trong quá khứ với những năng lực hiện

có của doanh nghiệp.Chính vì vậy, năng lực tích hợp có tác động tích cực đến LTCT.



1.3. Quản lý tri thức trong doanh nghiệp

Sự phát triển của một doanh nghiệp ngoài cơ sở vật chất, vốn đầu tư,… còn phụ

thuộc vào một nhân tố quan trọng, đó là tri thức của mỗi cá nhân là cán bộ, nhân viên

cũng như tri thức của tập thể. Tri thức được xem là những thông tin có ý nghĩa và hữu

ích trong mỗi người lao động, trong các quá trình hoạt động, trong các quy định hay

quy trình tác nghiệp… của mỗi doanh nghiệp. Việc quản lý tri thức ngày càng trở nên

quan trọng cho việc phát triển bền vững của một doanh nghiệp.



1.3.1. Khái niệm tri thức

Hiện nay, có nhiều cơng trình nghiên cứu đưa ra định nghĩa về tri thức nhưng

chưa được thống nhất.Tri thức được định nghĩa dưới nhiều hình thức khác nhau.Tri

thức có thể được định nghĩa là việc hiểu thơng qua học hỏi và trải nghiệm, hoặc cũng

có thể được xem như là sự tích lũy thực tế, quy trình hay khám phá, học hỏi.Tuy

nhiên, trên thế giới cũng có nhiều cơng trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này và

đưa ra những định nghĩa riêng.

Theo từ điển tiếng Việt: Tri thức là những sự hiểu biết về sự vật hiện tượng tự

nhiên hoặc xã hội. Theo từ điển Oxford English Dictionary thì định nghĩa: “Chun

mơn hay kỹ năng của một cá nhân được hình thành thơng qua kinh nghiệm hay giáo

dục; bao gồm các tri thức về lý thuyết hay thực tiễn về một đối tượng. Những hiểu biết

về một lĩnh vực cụ thể hay những kiến thức chung bao gồm sự kiện và thông tin”.

Theo (Nonaka & Takeuchi, 1995) cho rằng: “Tri thức là quá trình năng động

của con người trong việc minh chứng các niềm tin cá nhân với những ‘sự thật’ ”. Còn

(Davenport & Prusak, 1998), (Davenport, 1999) lại có quan điểm: “Tri thức được xem

như là thông tin nằm trong bộ não của con người: là tập hợp của kinh nghiệm, giá trị,

ngữ cảnh của thông tin và các kiến thức chuyên sâu giúp cho việc đánh giá và phối

hợp để tạo nên các kinh nghiệm và thông tin mới bao gồm cả sự so sánh, kết quả, liên

hệ, và giao tiếp”.

Một cách tiếp cận khác của (Stenmark, 2001), (Quigley và Debons, 1999),

(Holsapple & Joshi, 2000) định nghĩa: “Bộ não con người chuyển đổi thơng tin thành

các tri thức có giá trị khi nó giúp con người hiểu các khái niệm bằng cách trả lời cho

các câu hỏi: How (Như thế nào)? (Know-How), Why (Vì sao)? (Know-Why)”.

Giữa các khái niệm về dữ liệu, thơng tin và tri thức có sự tương đồng nhau, cần

phân biệt rõ từng khái niệm:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Những đóng góp mới của luận án

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×