Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Lý do lựa chọn đề tài

Lý do lựa chọn đề tài

Tải bản đầy đủ - 0trang

sản xuất hàng hoá, dịch vụ,

các nhà kinh doanh trong nền

kinh tế thị trường, chi phối

quan hệ cung cầuhướng tới mục

tiêu dành các điều kiện sản

xuất, tiêu thụ có lợi nhất cho thị

trường.

“Lợi thế cạnh tranh là giá

trị mà doanh nghiệp mang đến

cho khách hàng, giá trị đó vượt

quá chi phí dùng để tạo ra nó”

(Micheal Porter, 1985). Khi

doanh nghiệp có những thứ mà

các đối thủ khác khơng có,

nghĩa là doanh nghiệp hoạt

động tốt hơn đối thủ, hoặc làm

được những việc mà các đối

thủ khác khơng thể hoặc khó

có thể làm được thì doanh

nghiệp có được lợi thế cạnh

tranh. Lợi thế cạnh tranh là một

nhân tố quan trọng, thiết yếu để

doanh nghiệp tồn tại lâu dài và

hướng tới thành công. Chính vì

thế, các doanh nghiệp ln phát

huy mọi khả năng nhằm nâng

cao lợi thế cạnh tranh, mặc dù

việc này thường bị các đối thủ

cạnh tranh gây trở ngại hay bắt

chước (Micheal Porter, 1985).



1

2



Các ưu thế mà doanh nghiệp xây dựng, vận dụng cho cạnh tranh được gọi là lợi

thế canh tranh. Nhờ có LTCT được thể hiện bởi các đặc điểm hay các biến số của sản

phẩm, nhãn hiệu mà doanh nghiệp tạo ra một số ưu điểm vượt trội hơn so với những

đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Nếu tỷ lệ lợi nhuận của doanh nghiệp cao hơn tỷ lệ bình

qn trong ngành thì doanh nghiệp đó có thể coi là có lợi thế cạnh tranh. Doanh

nghiệp có LTCT bền vững nếu doanh nghiệp có thể duy trì tỷ lệ lợi nhuận cao trong

khoảng thời gian dài. Hai nhân tố cơ bản biểu thị lợi thế cạnh tranh là lượng giá trị mà

khách hàng cảm nhận về hàng hóa hay dịch vụ của doanh nghiệp và chi phí sản xuất

của nó. Như vậy, các nhân tố tạo nên LTCT là hiệu quả, chất lượng, sự cải tiến và đáp

ứng nhu cầu của khách hàng.

Tri thức được xem là một trong những yếu tố góp phần tạo nên thành cơng cho

doanh nghiệp và quản lý tri thức trở thành một trong những chiến lược cạnh tranh hiệu

quả nhất (Nonaka et.al, 2011).

Sự ra đời của Quản lý tri thức được áp dụng trước hết là cho các doanh

nghiệp sản xuất và ngày nay mới bắt đầu phổ biến trong lĩnh vực dịch vụ, chủ yếu

là trong các dịch vụ chuyên nghiệp như dịch vụ tư vấn (Hansen, Nohria, & Tierney,

1999; Sarvary, 1999).

Hệ thống quản lý tri thức gồm nhiều thành phần: hệ điều hành, HTTT, hệ thống

quyết định,... Khác với quản lý dữ liệu hay quản lý thông tin, quản lý tri thức được

hiểu là một quá trình kiến tạo, chia sẻ, khai thác, sử dụng và phát triển nguồn tài sản tri

thức trong một doanh nghiệp nhằm nâng cao tính hiệu quả, sự sáng tạo, đổi mới và khả

năng phản hồi nhanh chóng của doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp ln phải cạnh tranh

với các doanh nghiệp khác dựa trên tri thức của mình và khả năng biến các tri thức đó

thành giá trị thơng qua sản phẩm, dịch vụ. Chính vì vậy, quản lý tri thức mang tầm

quan trọng, trở thành nhân tố quyết định thành bại của mỗi doanh nghiệp (A.Taylor,

H.Wright, 2006).

Mặc dù nhiều cơng trình trên thế giới cũng như tại Việt Nam đã luận giải và

chứng minh được vai trò, mức độ ảnh hưởng của quản lý tri thức trong doanh nghiệp

nhưng các cơng trình nghiên cứu vẫn chưa thực sự trả lời được các vấn đề:

Thứ nhất, trong mơ hình SECI, Nonaka 2011 đề cập tới quá trình chuyển đổi tri

thức từ tri thức ngầm sang tri thức hiện. Tuy nhiên, nếu đặt trong bối cảnh là các

doanh nghiệp cụ thể, quá trình chuyển đổi này chịu ảnh hưởng ra sao bởi tác động của

các hệ thống quản lý tri thức. Hệ thống quản lý tri thức sẽ ảnh hưởng như thế nào tới



hành vi chia sẻ tri thức, khả năng học tập của các cán bộ, nhân viên trong doanh

nghiệp vẫn là vấn đề chưa được giải đáp thỏa đáng.

Thứ hai, trong khi các nhà nghiên cứu quan tâm tới việc xây dựng mơ hình

quản lý tri thức trong các doanh nghiệp cụ thể (Duska Rosenberg và Keith Devlin,

2007) thì vẫn chưa đề cập, minh chứng đầy đủ tới các giải pháp để tạo động lực, khơi

nguồn ý tưởng, chia sẻ kinh nghiệm làm việc giữa các cán bộ, nhân viên trong doanh

nghiệp. Các nghiên cứu chưa xét một cách tổng thể các tác động từ hệ thống quản lý

tri thức tới khả năng học tập của tổ chức, tới quá trình ra quyết định cũng như năng lực

cải tiến của tổ chức dẫn đến việc chưa đề cập và đánh giá hết các nhân tố tác động tới

LTCT.

Thứ ba, hầu hết các nghiên cứu về quản lý tri thức đã được tiến hành trong các

tổ chức lớn trong nước phát triển, nơi mà các doanh nghiệp thường là do các nhà quản

lý giáo dục tốt, hoạt động với các chiến lược dài hạn. Mặt khác, một số nghiên cứu

trong nước mới đề cập tới mơ hình duy trì tri thức chứ chưa là quản lý tri thức; phạm

vi các nghiên cứu này cũng dừng ở DNVVN tại Việt Nam, nơi mà hầu hết không có hệ

thống tổ chức minh bạch, khả năng lãnh đạo và kỹ năng quản lý kinh doanh, hoạt động

trong nền kinh tế chuyển đổi, và chủ yếu tập trung vào các mục đích ngắn hạn. Tuy

nhiên, nếu đặt trong bối cảnh các doanh nghiệp tại các nước đang phát triển sẽ cần có

giải pháp quản lý tri thức như thế nào. Các doanh nghiệp có hoạt động quản lý tốt với

các chiến lược dài hạn sẽ cần quản lý tri thức ra sao trong bối cảnh văn hóa, xã hội ở

các nước đang phát triển, nơi mà người lao động chưa được trang bị đầy đủ các kỹ

năng mềm, tư duy, cách làm việc theo quy trình hiện đại.

Xuất phát từ hình hình thực tế trên, tác giả chọn đề tài “Nghiên cứu hệ thống

quản lý tri thức doanh nghiệp nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp

vừa và nhỏ Việt Nam” nhằm giải quyết các vấn đề còn tồn tại kể trên.



3.Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính: Xây dựng mơ hình đánh giá tác động của hệ thống quản lý tri

thức trong DNVVN tới LTCT.

Mục tiêu cụ thể:

- Xác định được mơ hình và cấp độ phát triển của hệ thống quản lý tri thức trong

DNVVN tại Việt Nam.

- Xây dựng kiến trúc tổng thể cho hệ thống quản lý tri thức trong doanh nghiệp



- Xây dựng mơ hình ảnh hưởng của hệ thống quản lý tri thức tới LTCT trong

DNVVN.

Để phát triển được hệ thống này, đề tài cần giải quyết các vấn đề sau:

Câu hỏi quản lý

- Giải pháp nâng cao sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp?

- Cách thức tổ chức hệ thống quản lý tri thức doanh nghiệp để tạo dựng LTCT trong

việc rút ngắn thời gian ra đời sản phẩm mới, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm

giá thành,..?

Câu hỏi nghiên cứu

- Các nhân tố ảnh hưởng tới hệ thống quản lý tri thức doanh nghiệp?

- Tác động của hệ thống quản lý tri thức doanh nghiệp tới LTCT?

- Những tác động cụ thể nào của nhà quản lý để cài đặt và quản lý tri thức. Các nhân tố

con người, xã hội, khoa học kỹ thuật… ảnh hưởng như thế nào tới quá trình quản lý

tri thức trong doanh nghiệp?



4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Hệ thống quản lý tri thức để tạo ra LTCT cho DNVVN ở Việt Nam.



4.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian: Luận án nghiên cứu về các DNVVN ở

Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu về thời gian: các dữ liệu được thu thập tập trung vào các

năm 2015, 2016.

Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Luận án nghiên cứu thực trạng, yếu tố cấu

thành cũng như ảnh hưởng của hệ thống quản lý tri thức tới LTCT trong doanh nghiệp.



5. Phương pháp nghiên cứu

5.1 Thiết kế nghiên cứu

Để thiết kế, đánh giá mơ hình phát triển hệ thống quản lý tri thức nhằm tạo

LTCT trong doanh nghiệp, nghiên cứu sinh xây dựng Thiết kế nghiên cứu như sau:

- Thiết kế tổng thể (định tính-phỏng vấn, định lượng, hay kết hợp)

Nghiên cứu sinh lựa chọn ngẫu nhiên các doanh nghiệp trong cả nước, gồm các

loại hình: nhà nước, tư nhân, liên doanh, vốn đầu tư nước ngoài… và tiến hành khảo

sát trên 02 phương pháp: phỏng vấn trực tiếp và sử dụng phiếu điều tra.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Lý do lựa chọn đề tài

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×