Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Ấu trùng có hình tròn hoặc hình bầu dục, màu trắng dài 5 – 9 mm, rộng 3 – 6 mm. Bên trong có nước trong suốt, có một đầu sán bám vào màng trong, trên đầu có 4 giác bám, không có mõm và móc, mang hình thái giống như sán trưởng thành đã sinh ra nó.

Ấu trùng có hình tròn hoặc hình bầu dục, màu trắng dài 5 – 9 mm, rộng 3 – 6 mm. Bên trong có nước trong suốt, có một đầu sán bám vào màng trong, trên đầu có 4 giác bám, không có mõm và móc, mang hình thái giống như sán trưởng thành đã sinh ra nó.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hình 4.3. Chu trình phát triển của gạo bò

Khi người ăn thịt bò có gạo còn sống, dịch tiêu hóa làm cho màng ngồi bị

phân giải, đầu sán nhơ ra bám vào đoạn trên của ruột non và phát triển thành sán

dây trưởng thành.

4.3.2.2. Dịch tễ học

- Sự phân bố

Tỷ lệ mắc sán dây trưởng thành ở người chiếm 90% trong tổng số những

người mắc các loại sán dây.

Người ta cho rằng bệnh sán dây bò ở người phổ biến hơn bệnh sán dây lợn hạt

gạo bò trong suốt, khó phát hiện khi tiến hành khám thịt bò, trong khi đó gạo lợn

lại dễ dàng được phát hiện hơn.

- Đường truyền lây

Người có thể nhiễm sán dây bò do chạm phải phân nhiễm sán rồi làm dính lên

miệng, do ăn uống nước hay thực phẩm chứa phân nhiễm sán hoặc ăn thịt bò hay

cá nhiễm sán chưa được nấu chín.

Bò nhiễm bệnh là do ăn phải trứng sán qua thức ăn, nước uống ở bãi chăn

thả.

- Vật chủ

Vật chủ chuyên tính của bệnh gạo bò cũng giống như ở bệnh gạo lợn, đó là

người. Còn vật chủ trung gian của mầm bệnh là bò.

4.3.2.3. Triệu chứng, bệnh tích



Triệu chứng

Bệnh ở bò:

Bò và bê lần đầu nhiễm gạo biểu hiện sốt cao 40 – 41 oC ở mấy ngày đầu. Gia

súc gầy yếu nhanh, ỉa chảy nặng.

Sang ngày thứ 4 – 5 ỉa chảy giảm, con vật ăn ít, hay nằm, ngừng nhai lại,

chướng hơi dạ cỏ.

Trường hợp con vật chết: Khi vào ngày thứ 7, thân nhiệt hạ thấp từ 40 oC

xuống 36oC. Con vật chết vào ngày thứ 8. Trong những trường hợp con vật sống

qua giai đoạn trên thì triệu chứng giảm dần và gia súc mang bệnh ở thể mạn tính.

Bệnh ở người:

Các triệu chứng của bệnh sán dây thường bao gồm đau bụng, nôn mửa, tiêu

chảy hoặc táo bón, giảm cân và suy dinh dưỡng.

Trong một số ít trường hợp, người bị nhiễm bệnh có các triệu chứng như hoa

mắt, chóng mặt, nhức đầu, thèm ăn, ngứa ngáy xung quanh hậu mơn.

- Bệnh tích

Mổ khám xác chết con vật bị cấp tính thấy nhiều điểm tụ huyết ở tổ chức dưới

da cơ hàm, cơ bụng, cơ liên sườn, tim. Trong xoang bụng có nước lẫn máu.

Dạ cỏ viêm cata, niêm mạc ruột non xuất huyết và viêm nặng, màng treo ruột,

màng bụng, lách đều có nhiều vệt tụ huyết. Hạch màng treo ruột sưng to trong có

nước, bổ đơi hạch có màu hơi đỏ, xung huyết mạch máu não.

4.3.2.4. Chẩn đốn

Đối với gia súc khi còn sống khó thực hiện chẩn đốn, thời kỳ đầu cần theo dõi

lâm sàng và theo dõi lịch sử bệnh, tình hình dịch tễ trong vùng.

Khi đã hình thành gạo ở các cơ thì khó chẩn đốn chính xác nên khơng có ý

nghĩa trong thực tế vì sau khi chẩn đốn khơng có thuốc điều trị bệnh, cần loại thải

sớm.

4.3.2.5. Phòng và điều trị bệnh

Các biện pháp phòng bệnh của bệnh gạo bò tương tự gạo lợn. Cần có sự kết

hợp chặt chẽ giữa thú y và y tế để phòng bệnh cho người và gia súc, bảo vệ sức

khỏe con người và nâng cao năng suất trong chăn nuôi.

-



4.4. BỆNH SÁN LÁ GAN NHỎ (Clonorchiosis)

4.4.1. Đặc điểm bệnh và căn bệnh

- Đặc điểm bệnh

Bệnh sán lá gan nhỏ là một bệnh lây chung giữa người và một số loài động vật.

Khi nhiễm bệnh, vật chủ có thể sẽ bị xơ hóa lan tỏa và thối hóa mỡ, đơi khi có thể

bị thiếu máu.

- Căn bệnh

Do một số loài sán ký sinh ở ống dẫn mật, gan, túi mật của chó, mèo, heo, thú

ăn thịt và gia cầm: Clonorchis sinensis, Opisthorchis felineus, O. Parageminus.

Hình thái:

Sán có hình lá màu đỏ nhạt, đầu thon mỏng, cuối đi thon lại hơi bầu. Kích

thước sán dài từ 5,7 – 20 mm, rộng 1,6 – 3,2 mm.

Ruột chia thành nhánh, chạy dọc hai bên thân. Tử cung là ống ngoằn ngèo nằm

sau giác bụng. Tinh hoàn chia nhiều nhánh như cành cây và nằm trên dưới. Buồng

trứng nằm gần giữa thân, hình hạt đậu và nằm trên tinh hồn.Tuyến nỗn hồng bắt

đầu từ giác bụng nhưng khơng vượt q túi trứng.

Trứng có hình bầu dục, màu trắng vàng, đầu nhỏ có nắp. Kích thước trứng từ

0,026 – 0,030 mm x 0,15 – 0,017 mm, ở bên trong có chứa tế bào phơi.

Sức đề kháng:

Trứng có vỏ mỏng nên sức đề kháng ở môi trường bên ngoài rất kém, nhiệt độ

ánh sáng mặt trời trên 70oC sẽ làm trứng bị hỏng. Trong môi trường nước trứng sán

tồn tại và phát triển rất tốt.

Chu trình phát triển:

Chu trình phát triển của bệnh được trải qua các giai đoạn sau:

Sán trưởng thành ký sinh ở mật đẻ trứng, trứng theo mật xuống ruột rồi theo

phân ra ngoài và rơi xuống môi trường nước.

Trứng bị ốc nuốt nở ra ấu trùng lông để phát triển thành ấu trùng đuôi, sau đó

chúng rời khỏi cơ thể ốc bơi tự do trong nước.

Ấu trùng đuôi xâm nhập vào cá nước ngọt, rụng đuôi phát triển thành ấu trùng

nang ký sinh ở trong thịt của cá.

Người hoặc động vật ăn phải cá có ấu trùng nang chưa được nấu chín thì sau

khi ăn ấu trùng này vào dạ dày, xuống tá tràng rồi ngược theo ống dẫn mật lên gan,

phát triển thành sán lá gan trưởng thành ký sinh và gây bệnh ở ống dẫn mật.



Thời gian từ khi ăn phải ấu trùng nang trong cá đến khi phát triển thành sán

trưởng thành mất khoảng 26 ngày.



Hình 4.1. Chu trình phát triển của sán lá gan nhỏ

4.4.3. Dịch tễ học

- Sự phân bố

Bệnh phân bố rộng ở nhiều nơi trên thế giới. Đã phát hiện thấy Clonorchis

sinensis ở người tại Trung Quốc, và Opisthorchis felineus ở người tại vùng Siberia.

Theo WHO, có khoảng 3 triệu người ở các nước Thái Lan, Lào, Campuchia nok

nhiễm sán lá gan nhỏ.

Ở Việt Nam, bệnh sán lá gan nhỏ đã được xác định phân bố ít nhất ở 18 tỉnh,

thành phố trên cả nước. Tỷ lệ nhiễm ở nước ta tùy theo từng vùng, có những nơi có

tỷ lệ nhiễm cao từ 15 – 37% như Ninh Bình, Nam Định, Phú Yên và Bình Định.

- Đường truyền lây

Bệnh truyền lây qua đường ăn uống, do người và động vật ăn phải ấu trùng

nang ở trong gỏi cá hoặc cá chưa được nấu chín nên bị cảm nhiễm.

- Vật chủ

Vật chủ chính của bệnh là người và một số lồi động vật như chó, mèo, hổ

báo, rái cá, chuột.

Vật chủ trung gian thứ nhất là các loài ốc Bythinia, Melania... Vật chủ trung

gian thứ hai là một số loài cá nước ngọt như cá diếc, cá trắm, cá mè...

4.4.4. Triệu chứng và bệnh tích



Triệu chứng

Ở gia súc bệnh tiến triển chậm, con vật thường có một số triệu chứng như thiếu

máu, tiêu chảy, thủy thũng ở các phần thấp của cơ thể. Gia súc vàng da, niêm mạc

vàng, yếu, ăn uống bất thường.

Ở người: Thường có triệu chứng đau tức vùng gan, rối loạn tiêu hóa (kém ăn,

bụng ậm ạch khó tiêu); đơi khi có biểu hiện sạm da, vàng da và dấu hiệu gan to hay

xơ gan tùy theo mức độ của bệnh.

- Bệnh tích

Gan viêm, sưng, bề mặt gan có nhiều điểm xơ hóa hoại tử màu trắng. Gan

xơ cứng, túi mật, ống dẫn mật viêm có nhiều sán.

-



4.4.5. Chẩn đốn

- Dựa vào đặc điểm dịch tễ của bệnh, chú ý tập quán ăn gỏi cá ở một số địa

phương có thể dẫn đến tình trạng nhiễm bệnh.

- Dựa vào các triệu chứng đặc trưng của bệnh để phân việt với một số bệnh

khác như: Viêm gan siêu vi, áp xe gan do các loài ký sinh trùng khác, ung thư gan.

- Xét nghiệm phân theo phương pháp lắng cặn để tìm trứng sán trong phân.

Cần chú ý lấy nhiều phân vì trứng khơng thường xuyên thải ra theo phân.

- Chẩn đoán bằng phản ứng biến thái nội bì (phản ứng dị ứng quá mẫn muộn):

Dùng 0,1 ml kháng nguyên tiến hành tiêm vào nội bì. Sau 10 – 20 phút thì kiểm tra

kết quả, nếu chỗ tiêm sưng từ 1,5 – 2 cm là dương tính. Tuy nhiên, phương pháp

này cho hiệu quả chẩn đoán thấp.

- Xét nghiệm dịch tá tràng: Phương pháp này có thể giúp chẩn đốn bệnh trong

trường hợp con vật nhiễm ít mầm bệnh.

- Các xét nghiệm miễn dịch, siêu âm có giá trị trong chẩn đốn bệnh. Xét

nghiệm chức năng gan có giá trị trong việc đánh giá tổn thương, siêu âm gan có thể

phát hiện được sán lá gan và các tổn thương do sán lá gan gây ra.

4.4.6. Phòng và điều trị bệnh

- Phòng bệnh

Định kỳ kiểm tra chó mèo, khi phát hiện có trứng trong phân cần sử dụng thuốc

tẩy, khơng ni chó thả rơng.

Ở một số vùng nhân dân có tập quán ăn gỏi cá cần tuyên truyền vận động mọi

người thấy rõ tác hại của bệnh, loại bỏ tập tục lạc hậu. Không làm cầu tiêu trên ao

hồ.



Kết hợp với y tế định kỳ kiểm tra cho người ở những vùng khơng an tồn với

bệnh.

Giữ gìn vệ sinh ăn uống, khơng ăn gỏi cá hoặc ăn cá chưa nấu chín kỹ trong

món lẩu. Khơng ăn các loại rau trồng ở dưới nước như rau cần, rau muống, rau

ngổ, sen.

Cần quản lý và xử lý phân hợp vệ sinh: Không dùng phân tươi nuôi cá, bón

ruộng. Ủ phân đúng quy định, khơng phóng uế bừa bãi.

- Điều trị

Khi chẩn đốn phát hiện chó, mèo nhiễm sán lá gan nhỏ cần sử dụng một số

thuốc sau để điều trị.

Hexacloethane hay Hexaclorparacyclon liều 0,1 – 0,2 g/kgP trộn thức ăn cho

chó và mèo ăn.

Gentian violet dạng viên bọc 50 mg cho uống hoặc trộn cơm cho ăn liều 1 – 2

viên/ngày cho chó nhỏ, 3 – 4 viên/ngày cho chó lớn.

Praziquantel liều 25 mg/kgP, 3 lần/ngày cho ăn hoặc cho uống, liều trình 2

ngày cho hiệu quả 87 – 100%.



4.5. TOXOPLASMOSIS Ở ĐỘNG VẬT

4.5.1. Đặc điểm bệnh và căn bệnh

- Đặc điểm bệnh

Toxoplasmosis là một bệnh ký sinh trùng lây nhiễm giữa nhiều loài động vật

và người. Bệnh gây ra cho ký chủ những biểu hiện biện lý chủ yếu ở mắt, hệ thần

kinh và hệ tiêu hóa.

- Căn bệnh

Bệnh Toxoplasma do ký sinh trùng Toxoplasma gondii gây ra.

Toxoplasma gondii tồn tại về hình thể có 3 dạng: Thể bradyzoit (đoản trùng)

còn gọi là nang giả - pseudocyst; thể tachyzoit (thể hoạt động); nang trứng (oocyst)

được thải trong phân.

Mầm bệnh là thể hoạt động, thể nang giả ở trong mô tế bào; thể nang trứng ở

trong phân mèo. pseudocyst

Sức đề kháng:



Nang trứng tồn tại rất lâu ở trong đất ẩm với nhiệt độ 4 oC và có thể kéo dài tới

hàng năm.

Thể hoạt động chết nhanh ở nhiệt độ khô khoảng 55 oC và chết trong 5 – 10

phút khi tiếp xúc với cồn 50o, phenol 1%.

Chu trình phát triển:

Toxoplasma gondii bắt buộc phải ký sinh nội tế bào, có một chu kỳ phát triển

hữu tính ở loài mèo (là ký chủ vĩnh viễn) và một chu kỳ phát triển vơ tính ở các ký

chủ trung gian là các động vật máu nóng (trong đó có người, và kể cả loài mèo).

- Chu kỳ phát triển hữu tính ở lồi mèo (ký chủ vĩnh viễn):

Mèo nuốt phải nang trứng hay nang trong mô (nang giả).

Thoi trùng (hay đoản trùng nếu là nang giả) xâm nhập tế bào biểu mô ruột mèo.

Sau nhiều chu kỳ phát triển ở ruột cho ra tiểu giao tử (giao tử đực) và đại giao

tử (giao tử cái).

Giao tử đực xâm nhập giao tử cái, hình thành hợp tử; vách được tạo ra.

Nang trứng chưa hóa bào tử được thải ra ngồi theo phân.

Nang trứng hóa bào tử (tạo ra thoa trùng) ở ngoại cảnh trong khoảng 72 giờ.

- Chu kỳ phát triển vơ tính ở ký chủ trung gian và ở lồi mèo:

Nuốt phải nang trứng hay nang trong mô (nang giả).

Thoa trùng (ở nang trứng) hay đoản trùng (ở nang giả) xâm nhập thành ruột.

Ký sinh trùng phát tán khắp cơ thể.

Xâm nhập tế bào, hình thành các thể hoạt động nằm trong tế bào ký chủ.

Tế bào ký chủ vỡ ra, các thể hoạt động xâm nhập các tế bào khác.

Một số thể hoạt động chuyển thành đoản trùng; tạo vách (nang giả).

Nang giả tăng kích thước, đoản trùng phát triển chậm, tăng số lượng.

Một số nang trong mô nằm yên, một số vỡ ra giải phóng đoản trùng. Nếu hệ

miễn dịch của cơ thể suy giảm, đoản trùng có thể chuyển sang dạng hoạt động và

tăng lên về số lượng. Nếu cơ thể có miễn dịch bình thường thì đoản trùng sẽ bị tiêu

diệt.



Hình 4.8. Chu trình phát triển Toxoplasma gondii

4.5.2. Dịch tễ học

- Sự phân bố

Bệnh do Toxoplasma gây ra có tính chất ổ dịch thiên nhiên, theo số liệu của

những nghiên cứu trước đây cho thấy bệnh có mặt ở khắp nơi trên thế giới, kể cả

những nước phát triển, và chủ yếu xuất hiện ở những vùng nóng ẩm và ở độ cao

thấp.

Tại Việt Nam năm 1973, Giáo sư Đỗ Dương Thái đã điều tra huyết thanh học

trên những người có biểu hiện lâm sàng của bệnh cho thấy tỷ lệ dương tính đối với

Toxoplasma chiếm khoảng từ 0,43 – 1,2%.



Đường truyền lây

Phát tán: Nang trứng được thải ra ngoài theo phân ký chủ.

Xâm nhập: Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể ký chủ qua hai đường là tiêu hóa

và lây nhiễm qua nhau thai.

Đường tiêu hóa: Con vât bị nhiễm mầm bệnh là do ăn phải các nang trứng

đã hóa bào tử hay các nang trong mơ.

Người bị nhiễm Toxoplasma gondii qua đường tiêu hóa do ăn phải thịt gia

súc có chứa nang trứng của ký sinh trùng chưa được nấu kỹ.

Qua nhau thai: Khi còn trong tử cung, thai nhi có thể bị nhiễm nếu mẹ mắc

bệnh trong lúc có thai, vì các thể hoạt động (tachyzoit) có thể đi xuyên qua nhau

thai.

- Vật chủ

Mèo là ký chủ cuối cùng của mầm bệnh. Ký chủ trung gian của bệnh là người

và tất cả các lồi động vật (chó, mèo, heo…vv).

Ở Việt Nam, các lồi khỉ, chó, lợn qua khảo sát đều phát hiện có kết quả dương

tính với kháng nguyên của trùng cong Toxoplasma.

4.5.3. Triệu chứng và bệnh tích

- Triệu chứng

Bệnh ở mèo:

Các triệu chứng phổ biến nhất của Toxoplasmosis trên mèo bao gồm sốt, chán

ăn và hôn mê. Các triệu chứng xảy ra thường tùy thuộc vào việc nhiễm trùng cấp

tính hay mạn tính và nơi tìm thấy ký sinh trùng trong cơ thể.

Nếu mầm bệnh ký sinh trong phổi có thể dẫn đến viêm phổi, gây suy hô hấp

tăng dần mức độ nghiêm trọng.

Toxoplasma gondii cũng có thể ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương ở mèo

lớn tuổi, gây co giật, bồn chồn, buồn ngủ, nghiến răng.

Con vật bị tiêu chảy và xuất hiện u hạt trong ruột.

Phổ biến nhất là triệu chứng ở mắt: Viêm võng mạc tổng quát, đỏ mắt, nhạt ổ

võng mạc, các mạch máu ở đây thường bị tắc nghẽn và xuất huyết, có thể xuất hiện

đám mây trong mắt.

Bệnh ở chó:

Hầu hết chó bị nhiễm Toxoplasma gondii thường xuất hiện triệu chứng lâm

sàng ở chó con hoặc chó già có đáp ứng miễn dịch yếu.

-



Chó có thể bị viêm não, liệt, viêm gan cấp tính gây tử vong, có thể kết hợp với

vàng da, tràn dịch màng bụng, hôn mê, sốt, nôn mửa, tiêu chảy.

Bệnh ở lợn:

Nhiễm Toxoplasma gondii ở lợn gây sẩy thai, thai chết lưu. Lợn con có thể bị

sốt và viêm phổi, khó thở và ho, tiêu chảy, run rẩy.

Bệnh ở người:

Bệnh ở thần kinh trung ương: Hay gặp ở thai nhi và trẻ em. Bệnh thường gây

thai chết lưu hoặc khi sinh ra thường gây chứng đầu to có nước hay ngược lại đầu

teo nhỏ. Ở trẻ em đang lớn thường gặp triệu chứng viêm não – màng não, bệnh kéo

dài vài tuần rồi tử vong.

Bệnh ở mắt: Thường xảy ra ở những người mắc bệnh bẩm sinh. Triệu chứng

chính là chứng lác mắt (biểu hiện sớm của bệnh lý viêm hắc võng mạc), đau nhức

mắt, nhìn lóa, sợ ánh sáng, chảy nước mắt và có thể bị mù.

Bệnh nhân khi bị nhiễm Toxoplasma thường gây viêm sưng hạch, thường gặp ở

các vị trí hạch cổ, dưới xương chẩm, trên xương đòn gánh, nách, trung thất, bẹn.

- Bệnh tích

Xuất hiện những ổ hoại tử màu trắng xám được tìm thấy trên lá mầm của nhau

thai.

Tìm thấy u hạt trong phổi, gan, lách. Phổi bị phù, xuất huyết; gan, lách xuất

hiện những đốm màu đỏ hoặc vàng; vàng da, tràn dịch màng ngoài tim, tuyến

thượng thận có thể chứa các ổ hoại tử với những kích thước khác nhau. Thận có thể

chứa những vùng hoại tử.

4.5.4. Chẩn đoán

- Toxoplasmosis thường được chẩn đoán dựa trên lịch sử, dấu hiệu của bệnh, và

kết quả phòng thí nghiệm.

- Có thể kiểm tra phân để tìm kén hợp tử, nhưng phương pháp này có độ chính

xác khơng cao, do hình thái hợp tử của Toxoplasma gondii có thể giống nhiều lồi

ký sinh trùng khác và con vật chỉ thải kén hợp tử khi đang có dấu hiệu của bệnh.

- Đo lượng kháng thể IgG và IgM chống Toxoplasma gondii có thể giúp chẩn

đốn bệnh. Nếu trong máu 1 con vật khỏe mạnh có kháng thể IgG và IgM chống

Toxoplasma gondii cho thấy con vật đó đã bị nhiễm trước đó.

- Sử dụng kính hiển vi để tìm thể Tachyzoit của Toxoplasma gondii trong cơ.

- Phản ứng PCR phát hiện DNA của Toxoplasma gondii giúp chẩn đoán bệnh



một cách chính xác.

- Có thể sử dụng KIT chẩn đoán nhanh bệnh ký sinh trùng Toxoplasma gondii

ở người và gia súc (do Viện Tài nguyên – Môi trường – Công nghệ sinh học thuộc

Đại học Huế đã nghiên cứu và sản xuất).

4.5.5. Phòng và điều trị bệnh

- Phòng bệnh

Để ngăn chặn mèo nhiễm bệnh và truyền lây cho người, khơng nên cho chúng

ăn thịt sống hay nấu chưa chín.

Hạn chế cho mèo tiếp xúc với động vật gặm nhấm.

Ở người phòng bệnh rất quan trọng cho phụ nữ có thai và người bị suy giảm

miễn dịch có huyết thanh âm tính:

Khơng ăn thịt chưa nấu chín, sữa chưa được tiệt trùng, trứng sống; tránh tiếp

xúc với phân mèo; rửa tay sau khi tiếp xúc với thịt tươi, làm vườn, tiếp xúc với đất.

Tránh truyền máu từ người cho có huyết thanh dương tính sang người có huyết

thanh âm tính và bị suy giảm miễn dịch.

Người có huyết thanh âm tính khi được ghép cơ quan chỉ nhận từ người cho có

huyết thanh âm tính.

- Điều trị

Hầu hết con vật bị nhiễm Toxoplasmosis có thể điều trị khỏi.

Khi bị bệnh có thể sử dụng một trong các thuốc: Clindamycin, pyrimethamine

và sulfadiazine.

Phải điều trị càng sớm càng tốt sau khi có kết quả chẩn đoán là bị nhiễm bệnh

và tiếp tục trong vài ngày sau khi triệu chứng biến mất.



4.6. GIUN MÓC CHÓ (Ancylostomosis)

4.6.1. Đặc điểm bệnh và căn bệnh

- Đặc điểm bệnh

Bệnh giun móc chó là một bệnh ký sinh trùng mãn tính có thể lây chung giữa

người và vật ni, với đặc trưng là gây ra tình trạng thiếu máu đối với ký chủ.

- Căn bệnh

Trong tất cả các lồi giun móc, chỉ có một số lồi ký sinh ở chó mèo mà có thể



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ấu trùng có hình tròn hoặc hình bầu dục, màu trắng dài 5 – 9 mm, rộng 3 – 6 mm. Bên trong có nước trong suốt, có một đầu sán bám vào màng trong, trên đầu có 4 giác bám, không có mõm và móc, mang hình thái giống như sán trưởng thành đã sinh ra nó.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×