Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Do kén giun xoắn có sức đề kháng thấp với nhiệt độ cao, nên ăn thịt chín vẫn là phương pháp tốt nhất để phòng bệnh giun xoắn. Thịt được muối hoặc hun khói không đảm bảo diệt được hết kén và thường chỉ tiêu diệt được kén ở lớp phía ngoài.

Do kén giun xoắn có sức đề kháng thấp với nhiệt độ cao, nên ăn thịt chín vẫn là phương pháp tốt nhất để phòng bệnh giun xoắn. Thịt được muối hoặc hun khói không đảm bảo diệt được hết kén và thường chỉ tiêu diệt được kén ở lớp phía ngoài.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hình 4.6: Chu trình phát triển của giun xoắn

4.1.2. Dịch tễ học

- Phân bố

Giun xoắn thường hình thành những ổ dịch thiên nhiên và ổ dịch gần người với

nhiều mức độ nguy hiểm, có tính chất tiềm tàng, bệnh lưu hành giữa người và động

vật.

Chúng gây bệnh khá phổ biến ở khắp nơi trên thế giới và phân bố ở khắp các

châu lục; bệnh đã được phát hiện nhiều ở Châu Âu, Châu Á, Châu Mỹ La Tinh,

Châu Phi. Trong đó có Việt Nam với các vụ dịch điển hình như: Ở tỉnh Sơn La vào

năm 2008; gần đây nhất ở huyện Mường Lát, Thanh Hóa năm 2012.

- Vật chủ

Trên thế giới, người ta đã xác định được có 100 loài động vật là vật chủ tự

nhiên của giun xoắn. Trong đó, vai trò của chuột là vật chủ dự trữ mầm bệnh quan

trọng của Trichinella spirallis, chúng lây nhiễm cho động vật nhà (lợn) và từ đó lây

nhiễm cho người qua thức ăn.

- Đường truyền bệnh



Người mắc bệnh do ăn thịt động vật nhiễm giun xoắn chưa nấu chín (tái, nem

chua, nem lạp, giăm bơng, thịt hun khói).

Động vật có thể nhiễm giun xoắn qua thức ăn do ăn thịt động vật có ấu trùng,

phân của động vật khác, côn trùng cánh cứng phân hủy xác động vật mang ấu

trùng giun xoắn hay truyền qua bào thai.

- Mùa vùng phát bệnh

Phụ thuộc vào điều kiện dinh dưỡng và tập quán ăn uống của từng địa phương.

Bệnh thường phát vào mùa đông ở các nước xứ lạnh do ăn thịt ướp, thịt hun

khói...có ấu trùng giun xoắn trong thịt. Ở Việt Nam, bệnh thường xuất hiện nhiều ở

trong các dịp tết, tiệc tùng, liên hoan; đặc biệt là ở các tỉnh miền núi do tập quán ăn

uống và trình độ dân trí còn thấp.

4.1.3. Triệu chứng và bệnh tích

4.1.3.1. Triệu chứng

Ở lợn:

Khi nhiễm nặng thì sau khi nhiễm 3 – 5 ngày, lợn sốt, kiết lị, nôn mửa, gầy sút

nhanh và thường chết sau 12 – 15 ngày.

Khi con vật nhiễm nhẹ thường có một số triệu chứng như: Ngứa, cọ sát vào

tường, bắp thịt đau, đi lại khó khăn, khó ăn, khó nuốt, hay nằm, 4 chân cứng thẳng,

có khi thủy thũng ở mắt và chân, bạch cầu ái toan tăng. Triệu chứng trên kéo dài

khoảng 1 tháng. Giai đoạn sau các triệu chứng giảm dần, con vật trở lại bình

thường. Sau hai tháng, kiểm tra thấy có giun xoắn trong cơ.

Một số biến chứng của bệnh giun xoắn như viêm phổi, viêm màng phổi, viêm

não, rối loạn thính giác và thị giác.

Ở người:

Sau thời gian ủ bệnh 10 – 25 ngày, các triệu chứng xuất hiện do ấu trùng ký

sinh trong cơ gây co rút và nhiễm độc:

Phù: Có thể nói đây là dấu hiệu đặc trưng của bệnh. Thường phù mi mắt, có khi

phù cả đầu; hay xuống mu bàn tay, bàn chân, hoặc toàn thân. Trong nhiều trường

hợp phù còn kết hợp với nhiều triệu chứng khác.

Đau cơ: Là triệu chứng thứ hai thường gặp. Rất thường gặp, đau khi vận động,

thở, ho, nhai, nuốt và trong một vài trường hợp có thể dẫn đến nhược cơ.

Sốt: Thường sốt tăng dần cùng với các triệu chứng trên, đôi khi sốt âm ỉ. Sốt

cao 39 – 400C, có gai rét và đơi khi có rét run. Thời gian sống dài hay ngắn tùy



thuộc vào mức độ nặng nhẹ của bệnh, có trường hợp sốt kéo dài hàng tháng.

Trong những trường hợp nặng (nhiễm nặng và cơ địa dị ứng), thường xảy ra

các biến chứng vào tuần thứ 4 của bệnh: Viêm cơ, viêm não, viêm phổi làm bệnh

nhân có thể tử vong. Tỷ lệ khoảng 6 – 30% tùy theo mức độ nhiễm.

4.1.3.2. Bệnh tích

Cơ bị viêm, màu thẫm, rắn, trương to, trong có ấu trùng. Có trường hợp ấu

trùng chết tạo thành ổ mủ, ổ canxi.

4.1.4. Chẩn đốn

4.1.4.1. Chẩn đốn ở lợn còn sống

Chẩn đốn dựa vào các triệu chứng lâm sàng và đặc điểm dịch tễ của bệnh.

Để chính xác hơn có thể áp dụng các biện pháp sau:

- Phản ứng dị ứng: Dùng kháng nguyên chế từ ấu trùng giun xoắn trong

nước sinh lý, tiêm trong da. Phương pháp này có độ chính xác thấp vì có thể xảy ra

phản ứng chéo với các ký sinh trùng cùng họ giun xoắn.

- Chẩn đoán bằng các phương pháp huyết thanh học như ELISA, miễn dịch

huỳnh quang.

- Phương pháp sinh thiết cơ để kiểm tra ấu trùng phụ thuộc vào số lượng ấu

trùng có trong ký chủ.

4.1.4.2. Chẩn đoán ở lợn đã chết

Chẩn đoán giun xoắn ở lợn và các súc vật khác khi giết mổ bằng các phương

pháp sau:

Phương pháp tiêu cơ

Lấy thịt cơ hoành 3 – 4 g cho vào lọ thủy tinh hoặc đĩa lồng rồi cho 5 – 7 ml

dung dịch tiêu cơ (giữ ở nhiệt độ từ 36 – 39 0C, thời gian từ 6 – 12 giờ). Cơ thịt bị

tiêu đi còn lại ấu trùng giun xoắn.

Phương pháp này cho độ chính xác cao nhưng tốn nhiều thời gian.

Phương pháp ép cơ

Lấy thịt ở chân hồnh cách mơ, cắt 24 miếng nhỏ, sau đó đưa lên kính ép giun

xoắn. Nhờ có ốc vặn chặt giữa hai tấm kính, thịt được ép mỏng vì vậy có thể tìm

thấy giun xoắn dưới kính hiển vi riêng biệt hoặc kính hiển vi thường.

Phương pháp này thường được dùng để kiểm tra giun xoắn ở lò mổ, cách làm

nhanh nhưng hiệu quả thấp.

4.1.4.3. Chẩn đoán ở người



Ở người chẩn đoán bệnh cần căn cứ vào đặc điểm dịch tễ học, triệu chứng lâm

sàng. Để kết luận chính xác cần tiến hành các xét nghiệm khác bằng phản ứng

ELISA hay miễn dịch huỳnh quang.

Ở giai đoạn đầu của bệnh, có thể xét nghiệm phân tìm giun xoắn trưởng thành.

Ở giai đoạn tồn phát, có thể tìm thấy âu trùng giun xoắn trong các xét nghiệm sinh

thiết.

4.1.5. Phòng bệnh

Biện pháp phòng bệnh liên quan đến thú y và y tế:

- Tuyên truyền giáo dục nhân dân không ăn thịt sống thịt tái (nem chua, nem

lạp...) hiểu rõ tác hại của bệnh: gây chết người, nếu không chết thì người bị bệnh

mang di chứng tàn tật.

- Kiểm tra chặt chẽ thịt lợn ở lò mổ, kiểm tra chặt chẽ thú vật săn bắn, không

sử dụng thịt động vật săn bắn bừa bãi nếu không qua kiểm dịch nhằm ngăn ngừa

mầm bệnh lây lan.

- Khi phát hiện thấy bệnh cần phải báo cáo cho các tổ chức thú y và y tế của

vùng đó biết.

- Cần vệ sinh thường xuyên, giữ cho chuồng lợn sạch sẽ, không nuôi lợn thả

rơng ngồi rừng, ngồi vườn.

- Tiến hành tiêu diệt chuột, các xác chết của động vật xung quanh chuồng trại.

4.1.6. Điều trị

Đối với gia súc: khi con vật đã được xác định là bị nhiễm thì khơng sử dụng

thuốc khi phát hiện bệnh mà phải xử lý kịp thời để mầm bệnh khơng lây lan.

Đối với người có thể điều trị bệnh bằng các thuốc sau: Praziquantel (khi dùng

nên kết hợp với Corticoid để làm giảm các phản ứng dị ứng) hoặc mintezol. Bệnh

nhân phải được theo dõi tại bệnh viện trong thời gian điều trị bệnh.



4.2.

BỆNH

DO

CẦU

TRÙNG

THUỘC

CRYPTOSPORIDIIDAE GÂY RA (Cryptosporidiiosis)

4.2.1.

-



Đặc điểm bệnh và căn bệnh

Đặc điểm bệnh



HỌ



Cryptosporidiosis là một bệnh ký sinh trùng truyền lây chung giữa người và

động vật do đơn bào thuộc họ Cryptosporidiidae gây ra. Bệnh có tính chất cơ hội,

khi đã xâm nhập vào cơ thể ký chủ thì thường gây ra viêm ruột.

- Căn bệnh

Cryptosporidiidae là một ký sinh trùng đơn bào, ký sinh trong niêm mạc ruột

(chủ yếu là hồi tràng) gây tiêu chảy cho người và nhiều lồi động vật.

Hình thái:

Oocysts của Cryptosporidiidae có kích thước khoảng từ 4 - 6µm. Thành

oocysts gồm hai lớp, bao gồm một lớp trong và một lớp ngồi, tế bào chất có hạt

mịn, có một đốm đen ở giữa hoặc ở góc (thể thừa). Bên trong oocysts có 4 thoi

trùng hình liềm hoặc ngón tay ở ngoại vi, có thể nhìn thấy nhân ở giữa thoa trùng.

Sức đề kháng:

Cryptosporidiidea có sức đề kháng cao, tồn tại được 9 – 12 tháng ở mơi

trường bên ngồi, nó có khả năng để kháng với hầu hết các chất khử trùng kể cả

nước đã khử Clo bằng nồng độ tối đa.

Nếu ở trong tình trạng khơ thì kén mất sức sống trong 1 – 4 ngày, dưới 0 oC

hoặc trên 65oC có thể bị bất hoạt trong 30 phút. Một số chất sát trùng như formalin

10% và amoniac 5% có thể sử dụng để sát trùng, đun amoniac 5% ở 65 oC trong 30

phút để tiêu diệt hiệu quả kén hợp tử.

Chu trình phát triển:



Hình 4.9. Chu trình phát triển của Cryptosporidiidae

4.2.2. Dịch tễ học

- Đường truyền lây

Phát tán: mầm bệnh phát tán chủ yếu qua phân của gia súc và người bị bệnh

Xâm nhập: Ký chủ bị nhiễm bệnh chủ yếu là do nuốt phải nang trứng

(oocysts) trưởng thành có trong thức ăn, nước uống hay nước tắm.

- Sự phân bố:

Bệnh do Cryptosporidiidae đã được ghi nhận trên 40 nước, ở cả 6 châu lục.

Bệnh đã có mặt ở nhiều nơi trên thế giới như Mỹ, Anh, Nhật, Đài Loan và đặc biệt

là ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.

- Vật chủ:

Bệnh thường ít gặp ở thú cưng như chó mèo, nhưng lại gặp nhiều ở một số

lồi động vật khác ví dụ như trâu bò, linh dương, dê cừu, ngựa...

Hầu hết người ở mọi lứa tuổi đều cảm nhiễm với Cryptosporidiidae, nhưng

những đối tượng sau đây lại có nguy cơ nhiễm cao hơn: những người có hệ thống



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Do kén giun xoắn có sức đề kháng thấp với nhiệt độ cao, nên ăn thịt chín vẫn là phương pháp tốt nhất để phòng bệnh giun xoắn. Thịt được muối hoặc hun khói không đảm bảo diệt được hết kén và thường chỉ tiêu diệt được kén ở lớp phía ngoài.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×