Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cơ quan sinh dục cái nằm ở giữa đốt chứa noãn hoàng và buồng trứng, thông ra bên ngoài qua lỗ sinh dục cái nằm cạnh lỗ sinh dục đực.

Cơ quan sinh dục cái nằm ở giữa đốt chứa noãn hoàng và buồng trứng, thông ra bên ngoài qua lỗ sinh dục cái nằm cạnh lỗ sinh dục đực.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hình 4.2. Chu trình phát triển của gạo lợn

Nếu ký chủ trung gian (lợn, lợn rừng, chó mèo, người,...) nuốt phải trứng, trứng

sẽ di chuyển về ruột non và giải phóng thai trùng 6 móc (Onchosphere). Sau

khoảng 24 – 72 giờ, thai trùng chui vào mạch máu và ống lâm ba ruột, theo hệ tuần

hoàn về các cơ quan khác trong cơ thể. Lúc đầu hình thành bọc nước, sau 40 – 50

ngày hình thành dạng Cysticercus celulose ở các cơ tim, cơ hồnh cách mơ, cơ liên

sườn, cơ mơng, cơ lưỡi, cơ cổ, cơ bụng tạo thành gạo.

Sau 2 – 4 tháng từ khi ăn phải trứng sẽ hình thành Cysticercus celulose hoàn

chỉnh trong cơ. Số lượng gạo trong cơ có khi lên đến hàng nghìn do lợn nuốt phải

đốt sán có nhiều trứng.

4.3.1.2. Dịch tễ học

- Sự phân bố

Trên thế giới, bệnh sán dây lợn và ấu trùng sán dây lợn phân bố nhiều nơi liên

quan đến tập quán ăn thịt lợn và nuôi lợn thả rông.

Hiện nay đã phát hiện ít nhất 50 tỉnh trong nước ta có bệnh sán dây và ấu trùng

sán dây lợn lưu hành, có nơi tỷ lệ nhiễm sán dây lên đến 12%, ấu trùng sán dây là

5,7% như ở Bắc Ninh, bệnh tập trung chủ yếu ở vùng núi.

- Đường truyền lây

Bệnh lây chủ yếu qua đường ăn uống. Ở động vật là do ăn phải phân người có



chứa trứng của sán dây trưởng thành.

Người nhiễm gạo bằng 2 cách:

Do người ăn phải trứng sán dây lợn lẫn trong thức ăn, nước uống hoặc dính vào

tay.

Đốt già rụng ra trong ruột của những người bị nhiễm sán dây lợn trưởng thành,

khi nôn mửa đốt sán và trứng sán lên dạ dày nhưng khơng nơn ra ngồi, nhờ dịch

dạ dày thai trùng 6 móc nở ra và theo máu về các cơ quan rồi trở thành gạo. Trong

trường hợp này gọi là tự nhiễm.

- Vật chủ

Bệnh gạo lợn có hai dạng vật chủ chính:

Vật chủ trung gian là những động vật có xương sống như lợn, lợn rừng, chó.

Vật chủ chun tính: Người là vật chủ duy nhất chứa sán dây trưởng thành.

4.3.1.3. Triệu chứng và bệnh tích

Bệnh gây tác hại chung cho người và lợn, rất nguy hiểm khi ấu trùng ký sinh ở

não (40%), gạo ở não gây chèn ép cản trở tuần hoàn máu, gây tụ máu.

- Lợn

Lợn bị gạo sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, con vật chậm lợn, gầy còm. Trọng

lượng xuất chuồng chỉ từ 25 – 30 kg.

Quá trình di hành của ấu trùng gây tổn thương các cơ quan mà chúng đi qua và

tác động tiết độc tố đầu độc ký chủ. Triệu chứng ở lợn thường thấy là hay đau

bụng, rối loạn tiêu hóa, hồng cầu giảm, bạch cầu eosin tăng.

- Người

Ở người thông thường sẽ có một số triệu chứng như chán ăn, buồn nơn, đau

bụng, rối loạn tiêu hóa.

Tuy nhiên, còn một số triệu chứng khác tùy thuộc vào cơ quan chúng gây bệnh

như:

Gạo ký sinh ở não: Khi ký sinh ở não ấu trùng có thể gây tăng áp lực nội sọ

gây nhức đầu, động kinh cục bộ, suy giảm trí tuệ, yếu, liệt chi thậm chí có thể rối

loạn tâm thần. Tất cả các triệu chứng trên ở mức độ nào còn tùy thuộc vào số

lượng và vị trí định cư của ấu trùng sán trong não người.

Gạo ký sinh ở mắt: Ấu trùng có thể định cư tại hốc mắt, mí mắt, kết mạc mắt

hoặc trong mắt chúng có thể gây ra những rối loạn thị giác và tùy vào vị trí của ấu

trùng định cư ở mắt.



Gạo ký sinh ở trong tế bào cơ: Ít có biểu hiện lâm sàng trừ khi với số lượng

nhiều chúng có thể gây đau cơ và sau thời gian dài chúng sẽ bị vơi hóa ngay trong

vùng cơ chúng ký sinh.

Gạo ký sinh dưới da: Có thể thấy những nốt lổn nhổn có thể sờ thấy rõ, đơi khi

chúng gây ngứa.

4.3.1.4. Chẩn đốn

Đối với con vật còn sống thì khó thực hiện chẩn đoán bệnh, chủ yếu dựa vào

dịch tễ học.

- Kéo lưỡi con vật ra, dùng vật cứng cạo lưỡi, nếu có gạo ở trên lưỡi thì gạo sẽ

bật ra.

- Đối với gia súc chết: Tiến hành khám cơ mông, cơ đùi, cơ lưỡi, cơ hàm, cơ

tim tìm gạo, ngồi ra còn có thể thấy gạo ở cơ liên sườn, cơ bụng, cơ xung quanh

cột sống.

- Chẩn đoán bằng phương pháp miễn dịch: Dùng những bọc gạo thu được để

chế kháng nguyên, tiêm 0,2 ml/con vật cần kiểm tra. Sau khi tiêm 15 – 45 phút

thấy nơi tiêm có hiện tượng sưng, nóng, đỏ, đau thì phản ứng được coi là dương

tính.

- Ở người có thể tiến hành kiểm tra máu của bệnh nhân hoặc chụp CT

(Computerized Tomography Scan) não.

4.3.1.5. Phòng và điều trị bệnh

Bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu nên chủ yếu là sử dụng các biện pháp

phòng bệnh kết hợp với y tế.

- Kiểm soát giết mổ chặt chẽ, những lò mổ cấp huyện đều phải có bác sỹ thú y

thực hiện công tác kiểm dịch, mổ lợn đều phải có giấy chứng nhận.

- Hiện nay dù phát hiện chỉ một gạo trong thịt thì lượng thịt đó cũng phải hủy

bỏ, khơng được sử dụng làm thực phẩm.

- Phòng bệnh cho người và gia súc: Xây dựng hố xí hợp vệ sinh, ni lợn nhốt,

khơng được thả rông nhằm ngăn ngừa mầm bệnh lây lan.

- Tuyên truyền vận động nhân dân không ăn thịt tái, thịt sống, bỏ các tập tục ăn

uống không hợp vệ sinh.

- Rửa và bóc vỏ rau củ quả trước khi ăn.

- Rửa tay với xà phòng sau khi đi vệ sinh và trước khi ăn.



4.3.2. BỆNH GẠO BÒ (Cysticercosis bovium)



4.3.2.1. Căn bệnh

Do ấu trùng Cyticercus bovis gây bệnh, ấu trùng ký sinh ở cơ thịt bò, ngồi ra

còn ký sinh ở cơ thịt trâu.

Ấu trùng do sán trưởng thành Taeniarhynchus saginatus ký sinh ở ruột non

người và thường chỉ gặp 1 sán ký sinh.

- Hình thái

Ấu trùng có hình tròn hoặc hình bầu dục, màu trắng dài 5 – 9 mm, rộng 3 – 6

mm. Bên trong có nước trong suốt, có một đầu sán bám vào màng trong, trên đầu

có 4 giác bám, khơng có mõm và móc, mang hình thái giống như sán trưởng thành

đã sinh ra nó.

Sán màu trắng nhạt, dài 4 – 12 m, gồm 1.000 – 2.000 đốt. Đầu có 4 giác hút,

khơng có móc, đỉnh đầu khơng có móc lớn. Đốt thành thục giống Taenia solium

nhưng lỗ sinh sản xen kẽ không đều.

- Sức đề kháng

Trứng sán dây có khả năng sống ở bãi chăn hơn 8 tuần (người mang sán dây

thải mầm bệnh trên các bãi chăn đồng cỏ), trong đống rác bẩn trứng sán sống được

16 ngày, trong phân bò ướt sống được 71 ngày, trong nước sống được 31 ngày.

- Chu trình phát triển

Chu trình phát triển của bệnh gạo bò kéo dài khoảng 3 tháng. Taeniarhynchus

saginatus ký sinh ở ruột non người thải đốt sán già (1 đốt hoặc nhiều đốt), đốt sán

sẽ tự động ra ngồi hoặc có thể qua phân, đốt sán vỡ ra giải phóng trứng ra mơi

trường xung quanh. Bò ăn phải trứng sán qua thức ăn, nước uống qua bãi cỏ. Trứng

theo đường tiêu hóa bị phân giải giải phóng thai trùng, sau đó thai trùng chui vào

mạch máu niêm mạc ruột, tuần hoàn theo máu về cơ tim, cơ lưỡi, cơ cổ, cơ đùi và

các bộ phận khác hình thành ấu trùng Cyticercus bovis.



Hình 4.3. Chu trình phát triển của gạo bò

Khi người ăn thịt bò có gạo còn sống, dịch tiêu hóa làm cho màng ngồi bị

phân giải, đầu sán nhơ ra bám vào đoạn trên của ruột non và phát triển thành sán

dây trưởng thành.

4.3.2.2. Dịch tễ học

- Sự phân bố

Tỷ lệ mắc sán dây trưởng thành ở người chiếm 90% trong tổng số những

người mắc các loại sán dây.

Người ta cho rằng bệnh sán dây bò ở người phổ biến hơn bệnh sán dây lợn hạt

gạo bò trong suốt, khó phát hiện khi tiến hành khám thịt bò, trong khi đó gạo lợn

lại dễ dàng được phát hiện hơn.

- Đường truyền lây

Người có thể nhiễm sán dây bò do chạm phải phân nhiễm sán rồi làm dính lên

miệng, do ăn uống nước hay thực phẩm chứa phân nhiễm sán hoặc ăn thịt bò hay

cá nhiễm sán chưa được nấu chín.

Bò nhiễm bệnh là do ăn phải trứng sán qua thức ăn, nước uống ở bãi chăn

thả.

- Vật chủ

Vật chủ chuyên tính của bệnh gạo bò cũng giống như ở bệnh gạo lợn, đó là

người. Còn vật chủ trung gian của mầm bệnh là bò.

4.3.2.3. Triệu chứng, bệnh tích



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cơ quan sinh dục cái nằm ở giữa đốt chứa noãn hoàng và buồng trứng, thông ra bên ngoài qua lỗ sinh dục cái nằm cạnh lỗ sinh dục đực.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×