Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 3. BỆNH CẢM NHIỄM NẤM VÀ PRION

CHƯƠNG 3. BỆNH CẢM NHIỄM NẤM VÀ PRION

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đặc điểm bệnh

Bệnh bò điên (Mad cow disease) là một bệnh xảy ra chủ yếu ở bò, có khả

năng lan truyền mà tác nhân gây bệnh không phải là sinh vật.

Bò bị bệnh thường nhạy cảm với kích thích cơ học, âm thanh và ánh sáng,

cuối cùng có triệu chứng điên dại, hung dữ rồi bại liệt và chết.

Bệnh tích đặc trưng của bệnh là tổ chức não bị xốp nên bệnh còn được gọi là

bệnh xốp não ở bò.

- Căn bệnh

Căn bệnh có bản chất là protein và được gọi là prion có nghĩa là protein gây

nhiễm.

Protein prion viết tắt là PrP, đây là sản phẩm bình thường của gen protein

prion, được biểu hiện ở hầu hết tế bào của động vật có vú, đặc biệt biểu hiện cao ở

mơ não.

Có hai loại PrP: Loại bình thường có trong tế bào, không gây bệnh, ký hiệu

c

là PrP (c: cell) và loại gây bệnh có ký hiệu là PrP s (s: scrapie). Cả hai loại này đều

có bản chất là protein, có trình tự acid amin giống nhau nhưng có cấu trúc khác

nhau. PrPc có cấu trúc bậc 2, chủ yếu có dạng vòng xoắn và dễ bị enzyme proteaza

phân hủy; PrPs chủ yếu có cấu trúc phiến gấp nếp, có vùng lõi kháng lại proteaza

nội bào nên khơng bị phân hủy.

Sức đề kháng: PrPs có sức đề kháng rất cao với nhiệt độ, men phân giải

protit, các hóa chất sát trùng, formol, các chất ion hóa và tia tử ngoại.

Để diệt được nguyên nhân gây bệnh, phải hấp ướt 134 – 138 oC/18 phút;

hoặc dùng thuốc sát trùng sodium hypochlorite chứa 2% chlorine để qua đêm hoặc

trong 1 giờ ở 20oC.

3.1.2. Dịch tễ học

- Địa dư bệnh lý

Bệnh được phát hiện lần đầu tiên ở Anh vào năm 1986. Thịt bò của Anh bán

khắp thế giới, do vậy tỷ lệ mắc bệnh ở người thường rất lớn. Chính vì lẽ đó, BSE

đã nhanh chóng trở thành một trong những thách thức lớn nhất đối với y học và thú

y trên toàn thế giới.

Năm 2006, các nhà khoa học Trung Quốc đã sử dụng công nghệ chuyển gen

để đưa các gen kháng bệnh bò điên vào một con bê được nhân bản từ một con bò

trưởng thành.

-



Bệnh xảy ra quanh năm, khơng phụ thuộc vào tính biệt và mùa vụ, những

đàn bò quy mơ lớn tỷ lệ mắc bệnh cao hơn đàn bò có quy mơ nhỏ.

- Các lồi vật mắc bệnh

PrPs gây bệnh cho rất nhiều loài động vật. Trong đó, mọi giống bò đều cảm

nhiễm, lứa tuổi mắc bệnh từ 2 – 13 năm, nhưng thường gặp ở bò 3 – 5 năm tuổi.

Riêng PrPs gây bệnh ở bò có thể lây sang người nếu như kiểm sốt bệnh

khơng tốt, các sản phẩm từ thịt bò bị bệnh có thể được hàng triệu người ăn phải.

- Phương thức truyền lây

Bệnh bò điên chỉ truyền lan chứ khơng truyền lây và đường truyền lan chính

là đường tiêu hóa.

Bò ăn phải bột thịt hoặc bột xương của loài nhai lại có chứa prion gây bệnh

làm thức ăn bổ sung sẽ mắc bệnh.

Ở người mắc bệnh chủ yếu là do ăn phải thịt và các sản phẩm từ thịt có

nguồn gốc từ bò bị nhiễm bệnh.

- Cơ chế sinh bệnh

Nhìn chung, bệnh do prion gây ra có thể là do lây nhiễm, do di truyền hoặc

cũng có thể xuất hiện một cách tình cờ.

Các lồi cảm nhiễm ăn phải thức ăn nhiễm prion gây bệnh, sau đó các prion

được tế bào lympho hấp phụ đi vào các mô bạch huyết, mảng payer. Tại đây có các

dây thần kinh, qua đó prion có thể xâm nhập vào thần kinh trung ương, rồi tích tụ

lại đó tạo thành các hạt có dạng giống tinh bột (chứa protein và polysaccarit) trong

hoặc trên tế bào mô não, gây hủy hoại tế bào làm cho não xốp.

3.1.3. Triệu chứng

- Bò

Triệu chứng lâm sàng của bệnh ở bò thường khác nhau nhưng chủ yếu thuộc

3 dạng: Thay đổi về hành vi; thay đổi về tư thế, dáng đi và các vận động khác; tăng

nhạy cảm.

Bệnh thường xảy ra âm ỉ, lúc đầu phát bệnh chỉ thấy sốt nhẹ rất và khó để

phát hiện, sau đó thấy xuất hiện những rối loạn thần kinh về cảm giác và vận động.

Biểu hiện đầu tiên là con vật thay đổi tập tính, dễ bị kích thích và sợ sệt, mất

bản năng sống bầy đàn nên thường tách đàn, hay vấp ngã, mất đi sự nhịp nhàng khi

vận động. Đa số bò sữa bị giảm sản lượng sữa, thường đá chân khi vắt sữa, thỉnh

thoảng thấy co giật và lúc lắc đầu theo kiểu “parkison”.



Bò dễ bị kích thích bởi các yếu tố khách quan như: Ánh sáng, âm thanh, cơ

học. Dần dần con vật gầy yếu rõ, khả năng sản xuất sữa giảm, trở nên hung dữ

chạy đâm vào tường, cuối cùng bại liệt rồi chết.

- Người

Bệnh ở người có thời gian nung bệnh kéo dài (có thể lên đến 40 năm). Bệnh có

thể xảy ra ở bất cứ lứa tuổi nào, nhưng phổ biến nhất ở những người dưới 30 tuổi.

Những triệu chứng ban đầu ở người bao gồm thay đổi tâm tính và mất trí nhớ,

có sự thay đổi về ăn và ngủ. Người bệnh di chuyển không bình thường, sau đó

nhanh chóng chuyển sang trạng thái thực vật rồi tử vong.

3.1.4. Bệnh tích

Bệnh tích thường xuất hiện ở hành tủy, xuất hiện sự viêm mô liên kết thần kinh.

Khi quan sát dưới kính hiển vi có thể thấy các sợi fibrin có độ dài khoảng 100 –

500 nm trong chất chiết từ não. Các sợi này gồm 2 – 4 sợi liên kết với nhau, có bề

ngang 4 – 6 nm, xếp theo hình xoắn ốc.

3.1.5. Chẩn đốn

- Chẩn đốn lâm sàng

Có thể chẩn đốn dựa vào những triệu chứng lâm sàng của bệnh, lịch sử đàn và

lịch sử bệnh tại địa phương.

Để chắc chắn hơn có thể thực hiện phương pháp giải phẫu bệnh lý vi thể, làm

tiêu bản vi thể não bò bệnh, đây là phương pháp tiện lợi, rẻ tiền và chính xác.

Cần phân biệt với một số bệnh khác: Bệnh dại, trúng độc chì, hạ magie huyết.

- Chẩn đốn huyết thanh học

Dùng phương pháp kháng thể đơn dòng có thể phân biệt được prion bình

thường và prion gây bệnh.

Phương pháp Western blot và ELISA cũng đang được áp dụng để chẩn đoán

bệnh.

- Chẩn đoán sinh học phân tử

Kỹ thuật PCR được sử dụng để phân tích huyết thanh của bò nghi bị nhiễm

bệnh.

3.1.6. Phòng bệnh

- Ở các nước có bệnh lưu hành:

Loại bỏ thức ăn có bột thịt, bột xương của lồi nhai lại.

Thực hiện biện pháp vi thể não bò để tiêu hủy động vật mắc bệnh, cấm dùng



thịt bò bệnh cho bất kì mục đích nào.

Trong q trình giết mổ, loại bỏ tồn bộ mơ bào và tổ chức của bò có khả

năng gây nhiễm bao gồm: Não, tủy sống, lách, hạch amidan. Các sản phẩm này sau

khi loại bỏ thì phải tiêu hủy.

- Ở các nước chưa có bệnh lưu hành:

Cần thành lập chương trình giám sát chặt chẽ bệnh bò điên.

Thành lập các phòng xét nghiệm đủ khả năng giám sát, kiểm tra vi thể não

gia súc bệnh từ các nước có bệnh bò điên.

Khơng nhập khẩu thịt và các sản phẩm có nguy cơ gây bệnh từ các nước có

xuất hiện bệnh bò điên.

3.1.7. Điều trị

Bò bị nhiễm bệnh không điều trị mà tiến hành tiêu hủy để tránh lây lan sang

con vật khác và người.

Hiện nay ở người cũng chưa có cách gì để điều trị triệt để bệnh bò điên. Đối

với bệnh nhân bị bệnh bò điên thường được hỗ trợ bằng phương pháp vật lý và trị

liệu chức năng. Hầu hết những người bị nhiễm cuối cùng cũng bị liệt và ăn uống

bằng ống thông dạ dày.



3.2. BỆNH NẤM DA (Dermatomycosis)

3.2.1. Đặc điểm bệnh và căn bệnh

- Đặc điểm bệnh

Bệnh nấm da là một trong nhiều thể nhiễm nấm tại lớp thượng bì da. Đặc trưng

của bệnh là ngứa và tổn thương ở bất kì vùng da nào ở trên cơ thể tùy thuộc vào

loại nấm ký sinh. Đây là một bệnh có thể lây lan giữa động vật và người.

- Căn bệnh

Các nấm gây ra bệnh nấm da có thể lây chung giữa người và động vật thuộc

nhóm nấm da (Dermatophytes). Dermatophytes gây bệnh được chia làm 3 loài là

Epidermophyton, Microsporum, Trichophyton.

Đây là những nấm ưa keratin (keratinophilic), sử dụng keratin như nguồn dinh

dưỡng cho nên vị trí cảm nhiễm nấm thường giới hạn ở lớp chất sừng, móng và

lơng da. Tuy nhiên, nấm có thể đi dọc theo gốc lơng vào bên trong các bao lơng và

gây nên các chứng viêm (thường hóa mủ) ở đó.



Khuẩn ti của những lồi này phát triển chậm, nhỏ, có hình đĩa, có màu trắng

hoặc màu kem, bề mặt mịn, nổi lên ở giữa.

Bào tử nấm gây bệnh phát triển trong môi trường ẩm ướt, chật chội. Mơi trường

nóng ẩm nhiều mồ hơi cũng thích hợp cho bệnh lan ra, nhiều mồ hơi làm trơi chất

nhờn có tác dụng diệt nấm trên da, làm da dễ bị nhiễm bệnh.

3.2.2. Dịch tễ học

- Địa dư bệnh lý

Bệnh nấm da phân bố khắp nơi trên thế giới, tỷ lệ xảy ra rất cao ở một số nước

như Iran, thấp hơn ở Anh, Bắc Âu cũng như các nước Nam Mỹ.

Những vùng có độ ẩm cao hơn thì mầm bệnh xuất hiện nhiều hơn, đặc biệt

trong đất ở khu vực nhà kính hay các nhà máy cơng nghiệp.

Trong một điều tra thực hiện trên 640 người vào giữa tháng 1 năm 2005 tại

Caira cho thấy nấm da đầu có tỷ lệ nhiễm cao nhất, sau đó là nấm kẽ chân và nấm

tồn thân, còn nấm bẹn và nấm móng có tỷ lệ thấp nhất.

- Lồi mắc bệnh

Các lồi bò, ngựa, dê, chó, mèo, cừu đều có thể cảm nhiễm với bệnh, con vật

càng non thì tính cảm thụ càng cao. Mầm bệnh chủ yếu cư trú trên da và lông của

vật chủ.

Người cũng có thể bị nhiễm những lồi nấm trên. Đặc biệt, nam giới thường có

tỷ lệ nhiễm cao hơn nữ giới, ngoài ra những người tham gia vào hoạt động nơng

nghiệp, cơng nhân vườn ươm cũng có nguy cơ mắc bệnh cao.

Trong một số báo cáo

- Đường truyền lây

Trực tiếp: Các lồi cảm nhiễm khỏe mạnh có thể mắc bệnh do tiếp xúc trực tiếp

với cá thể mang mầm bệnh hoặc ở người là do khi vuốt ve hoặc chải lơng chó,

mèo. Người cũng có thể bị nhiễm nấm từ bò, dê, lợn và ngựa.

Gián tiếp (qua các vật dụng chăn nuôi hoặc đời thường): Do tiếp xúc với những

đồ vật hoặc bề mặt mà người hoặc con vật nhiễm bệnh đã chạm vào.

Từ đất sang cơ thể ký chủ: Trong một số ít trường hợp, người và động vật có thể

bị nhiễm nấm do tiếp xúc với đất bẩn và chỉ xảy ra khi tiếp xúc lâu dài, vì nếu đất

có đủ dưỡng chất, bào tử nấm có thể sống hàng tháng trời hoặc lâu hơn.

3.2.4. Triệu chứng và bệnh tích

- Bò



Bò thường mắc bệnh ở vùng đầu và cổ, đặc biệt vùng quanh mi mắt có nguy

cơ dễ mắc bệnh, vùng bị mắc bệnh thường bị rụng lơng có đường kính rộng

khoảng 1 – 3 cm, có thể do gãi ngứa nên thường thấy xuất huyết và nứt nẻ.

- Ngựa

Nấm ở ngựa thường gọi là nấm bạch biến ngựa, cảm nhiễm đối với ngựa ở

các vùng khác nhau trên thế giới.

Vị trí cảm nhiễm khơng cố định nhưng ở ngựa đua thường thấy nấm ở vùng

tiếp xúc với dây đeo và yên ngựa, thường rộng khoảng 1 – 3cm. Thường phát bệnh

ở ngựa non nhưng thường tự khỏi.

- Người

Tỷ lệ nhiễm bệnh cao nhất ở trẻ em dưới 10 tuổi, sau đó là những người ở

trong độ tuổi 31 – 40 tuổi. Bệnh nhân thể hiện một số thể bệnh sau:

Nấm da đầu: Là bệnh phổ biến nhất ở trẻ em, 90% bệnh là do Trychophyton

tonsurans gây ra. Bệnh khởi phát bằng các nốt sần nhỏ, rải rác trên da đầu. Nền tổn

thương có các màng vảy mỏng, tóc lành xen kẽ tóc bị cụt gần gốc (do tóc nhiễm

nấm trở nên cứng và dễ gãy). Mảng vảy da bong ra khỏi đầu tạo thành mảng hói

tạm thời. Bệnh này gây ngứa, trẻ em có thể mắc nấm da ở các vị trí khác (bẹn,

mơng, móng).

Nấm vùng râu: Nấm gây bệnh ở vùng râu của đàn ông trưởng thành. Triệu

chứng là những mụn mủ vỡ ra, tạo thành các mảng viêm sâu. Bệnh thường bị gây

ra bởi T. verrucosum và T. mentagrophytes.

Nấm toàn thân: Thường xuất hiện trên thân, chân tay và thỉnh thoảng ở mặt

người bệnh. Tổn thương có hình tròn, có vảy, có viền rõ và ở giữa sạch. Bệnh chủ

yếu do T. rubrum gây ra.

Lang ben: Đây là một dạng bệnh nấm bề mặt gây ra ở trên da. Nấm có hình

tròn hoặc hình oval vừa và nhỏ hay ban đỏ, thường xuất hiện ở những vùng tiết ra

chất nhờn nhiều như vai, tay, cổ và thỉnh thoảng ở mặt.

Nấm kẽ chân: Nấm ban đầu mọc ở kẽ chân, sau đó lan xuống lòng bàn chân,

mắt cá chân, cuối cùng lan đến móng dẫn đến nấm móng.

3.2.5. Chẩn đốn

- Có thể dựa vào những triệu chứng đặc trưng của bệnh: Khi nhiễm nấm da

con vật bị rụng lông, tạo thành từng mảng nấm, có thể bị xuất huyết hoặc nứt nẻ.

- Phân lập nấm từ việc chải lông của động vật hay thu ngay trên vùng bị



nấm, sau đó ni cấy trên mơi trường Sabouraud cũng có thể giúp chẩn đốn

bệnh.

- Có thể chẩn đoán bệnh bằng cách sử dụng đèn Wood: Đây là đèn có tia cực

tím. Mục đích đầu tiên là để phát hiện ra những tế bào nấm, loại tia đèn này còn

dùng để phát hiện những mảng nhạt màu trên da.

- Sinh thiết: Kiểm tra giải phẫu bệnh đôi khi cần thiết trong xác định chẩn

đốn. Diện tích, vị trí và dạng của tổn thương sẽ xác định loại sinh thiết cần làm.

Có một số kiểu sinh thiết thường được áp dụng:

Sinh thiết lỗ được thực hiện bằng cách dùng dụng cụ hình ống để tách một

vòng da nhỏ có đường kính từ 3 – 4 mm tới tận dưới da. Phải cẩn thận vì bất kỳ

phần nào của tổn thương hay phần tế bào da không tổn thương cũng có thể lẫn

trong tiêu bản.

Sinh thiết cắt lọc lấy toàn bộ tổn thương rõ ràng.

Sinh thiết cạo chỉ lấy một phần tổn thương ở phía trên của da.

3.2.6. Phòng bệnh

- Tách riêng con vật bị bệnh để tránh lây lan sang con vật khác qua tiếp xúc.

- Tránh tiếp xúc với những đồ vật và dụng cụ bị con vật mắc bệnh chạm vào.

- Ở người, cần xác định và loại bỏ các vật có thể chứa mầm bệnh, tránh tiếp

xúc với con vật bị nhiễm bệnh. Giường hay các vật dụng thường ngày xác định bị

nhiễm nấm cần xử lý và hạn chế sử dụng lại.

3.2.7. Điều trị

Điều trị nấm da gồm có điều trị tồn thân và điều trị tại chỗ, nhưng điều trị

nấm da chủ yếu là điều trị tại chỗ.

Điều trị toàn thân chỉ dùng trong trường hợp bệnh nặng và trên diện rộng.

Có thể sử dụng một số kháng sinh như tetracyclin, erytromycin, griseofulvin,

itraconazole hoặc terbinafine.



3.3. BỆNH NẤM PHỔI

3.3.1. Đặc điểm bệnh và căn bệnh

- Đặc điểm bệnh

Bệnh nấm phổi là một bệnh truyền nhiễm lây chung giữa người và vật ni.

Bệnh có tính chất cơ hội, hay gặp ở xứ nhiệt đới nóng ẩm và mưa nhiều. Con vật

hay người bị nhiễm thường có các triệu chứng cơ năng của bệnh phổi mạn tính sẵn



có.

Căn bệnh

Bệnh thường do một số nấm thuộc các chi điển hình như Cryptococcus và

Aspergillus gây ra.

Mầm bệnh thường được phân lập trong đất đai, trên lá cây rụng, hạt thực

phẩm và phân chim ở các vùng địa lý khác nhau trên thế giới với tần suất cao.

Đặc trưng của chi Aspergillus là từ khuẩn ti phát triển kéo dài thành cuống

bào tử đính, trên đầu hình thành túi đỉnh, còn ở vùng gốc hình thành tế bào chân.

Tế bào nấm Cryptococcus thuộc dạng nấm men, có dạng hình cầu hoặc gần

hình cầu, giáp mơ có tính acid cấu tạo từ heteropolysaccharide đặc trưng. Khuẩn ti

có dạng kem nhầy, sau một thời gian ni cấy thì có màu vàng nâu nhạt. Nấm có

khả năng chịu khơ tốt.

3.3.2. Dịch tễ học

- Địa dư bệnh lý

Bệnh nấm phổi xuất hiện ở khắp nơi trên thế giới do mầm bệnh có thể phát

tán theo gió và xâm nhập vào người và động vật qua đường hô hấp tới tận cả phế

nang của các loài cảm nhiễm.

Trong những năm 1970, cùng với việc sử dụng rộng rãi các thuốc ức chế

miễn dịch trong điều trị đã làm cho tỷ lệ người bị nhiễm nấm phổi ngày tăng lên

nhiều.

Bệnh do nấm phổi gây ra là nguyên nhân nhiễm trùng gây tử vong xếp hàng

thứ tư ở những bệnh nhân HIV và khoảng 1/3 bệnh nhân HIV mắc bệnh này.

- Loài mắc bệnh

Các loài chim như gà, gà tây, bồ câu, chim cánh cụt, bò, chó mèo đều có thể

mắc bệnh.

Ngồi ra, người cũng có thể bị cảm nhiễm với bệnh, đặc biệt là những người

bị suy giảm miễn dịch. Ví dụ như những bệnh nhân bị lao phổi mãn tính, nhiễm

HIV, điều trị bệnh lâu dài bằng các loại thuốc ức chế miễn dịch như corticoides,

azathioprine và các thuốc chống ung thư.

- Đường truyền lây

Bệnh lây lan chủ yếu qua đường hô hấp. Người và động vật có thể hít phải

bào tử của nấm ở khắp nơi trong môi trường sống (do mầm bệnh nấm phổi có thể

mọc trên những lá cây rụng, các loại hạt thực vật như lúa, ngô, trong phân gia súc,

-



trong các đống cỏ khô và các loại thực vật bỏ dùng để làm phân).

Tuy vật chủ rất hay hít phải bào tử nấm nhưng lại ít khi bị bệnh. Phần lớn

vật chủ phát bệnh đều có cơ địa suy giảm miễn dịch do bệnh hay do dùng thuốc

điều trị bệnh.

3.3.4. Triệu chứng và bệnh tích

3.3.4.1. Triệu chứng

- Gia cầm

Bệnh thường biểu hiện ở thể quá cấp tính và cấp tính với những triệu chứng:

Con vật kém ăn, thở khó và nhanh, khi thở con vật thường vươn cổ, ngoài ra còn bị

chảy nước mũi.

Thân nhiệt gia cầm tăng, chúng thường bơ phờ, ỉa phân rất thối, suy nhược

nhanh và có thể bị co giật.

Trong trường hợp con vật mắc bệnh ở thể mạn tính thì cơ thể suy yếu dần và

có một số triệu chứng như thở khơ và nhanh, biếng ăn và khát nước dữ dội.

- Người

Khi hít phải số lượng lớn bào tử nấm, người bình thường chỉ bị viêm phổi

cấp tính lan tỏa và thường tự khỏi sau vài tuần, khơng để lại di chứng gì đặc biệt.

Với những người có hệ miễn dịch bị suy giảm thì thường có các triệu chứng

cơ năng của bệnh viêm phổi mãn tính có sẵn như: Sốt, ho, khạc đờm, khó thở và

đau ngực.

Ho và ho ra máu là triệu chứng nổi bật đặc trưng nhất của bệnh.

Bệnh nhân thường sốt không liên tục mà thành từng đợt, đây là biểu hiện của

tình trạng dị ứng với nấm.

3.3.4.2. Bệnh tích

Bệnh tích chủ yếu xuất hiện trên phổi: Phổi bị viêm và gan hóa, phần khơng

viêm phồng lên đầy khí.

Hạch phổi viêm to, vàng xám và mềm, cắt ngang có màu trắng.

Ở gia cầm, các túi khí vùng bụng, ngực có nhiều khối u hình đĩa bằng nút

áo. Xoang bụng, xoang ngực có dịch màu đỏ lục. Dạ dày, ruột xung huyết đỏ, có

khi bị chảy máu.

3.3.5. Chẩn đốn

- Xét nghiệm đờm của vật chủ bị bệnh bằng cách soi tươi và quan sát dưới

kính hiển vi có thể tìm thấy các tế bào nấm. Tuy nhiên, khi sử dụng phương pháp



này có thể dễ nhầm lẫn với các tế bào nấm có nguồn gốc từ đường tiêu hóa.

- Thực hiện các phản ứng huyết thanh học để chẩn đoán bệnh do nấm

Aspergillus gây ra: Phản ứng kết tủa giữa kháng nguyên với kháng thể kháng nấm

Aspergillus của con vật cảm nhiễm. Phương pháp này là phương pháp đặc hiệu và

cho kết quả chẩn đốn khá chính xác.

- Phương pháp nhuộm mực tàu: Phương pháp này có thể giúp quan sát vỏ

bao của Cryptococcus dễ dàng. Các phần tử của sắc tố mực không thể xâm nhập

vào bao vỏ bao quanh tế bào nấm hình cầu, chính vì thế khi quan sát trên kính hiển

vi sẽ xuất hiện một vùng trong suốt hay "vầng sáng" xung quanh tế bào nấm.

- Nuôi cấy nấm: Bệnh phẩm được thu và tiến hành ni cấy trong mơi

trường Sabouraud có Chloramphenicol ủ ở hai mức nhiệt độ là 37 oC và 25oC để

phân lập nấm. Sau 2 – 3 ngày vi nấm mọc thành khuẩn ti nhão, màu vàng nâu nhạt,

khảo sát lứa cấy dưới kính hiển vi thấy nhiều tế bào men có nang.

- Chụp X- quang cũng có thể giúp chẩn đốn được bệnh nấm phổi. Khi chụp,

trên phim xuất hiện một khối tròn, đặc nằm trong một hang lao có hình cầu hoặc

hình bầu dục.

3.3.6. Phòng bệnh

- Trong phòng bệnh nấm phổi cần chú ý đến việc đây là một bệnh cơ hội. Do

đó việc phòng bệnh chủ yếu là làm giảm các yếu tố nguy cơ. Phải điều trị ổn định

các bệnh nội khoa, không lạm dụng kháng sinh và nhóm thuốc ức chế miễn dịch.

- Cho con vật ăn khẩu phần cân đối các chất dinh dưỡng và vitamin. Không

sử dụng thức ăn hư, cũ, nhiễm nấm mốc.

- Chuồng trại phải thơng thống, khơ ráo, sạch sẽ, chất độn chuồng phải định

kỳ thay đổi, thường xuyên sát trùng bằng các thuốc sát trùng khác nhau.

- Cách ly con vật ốm để tránh lây lan sang con vật khỏe mạnh, người chăm

sóc phải có trang phục cần thiết để tránh nhiễm nấm.

3.3.7. Điều trị

Sử dụng thuốc kháng nấm để tẩy nấm. Vimetatin 56 100g/50kg thức ăn.

Trộn cho con vật ăn từng đợt, mỗi đợt 5 – 7 ngày tùy mức độ nhiễm nấm.

Sử dụng các thuốc tăng sức đề kháng giúp con vật nhanh chóng hồi phục.



CHƯƠNG 4. BỆNH DO KÝ SINH TRÙNG

4.5. BỆNH GIUN XOẮN (Trichinellosis)

Đặc điểm và căn bệnh

Đặc điểm bệnh

Bệnh giun xoắn là một bệnh ký sinh trùng lây chung giữa người và nhiều lồi

động vật có vú khác. Các loài ký chủ khi nhiễm mầm bệnh thường có biểu hiện

viêm cơ và viêm ruột.

- Căn bệnh

Bệnh giun xoắn do loài Trichinella spiralis, thuộc họ Trichinellidae gây ra. Ấu

trùng giun xoắn ký sinh ở cơ và giun trưởng thành ký sinh ở ruột non.

Hình thái: Cơ thể giun xoắn trưởng thành chia thành hai phần (phần trước nhỏ,

phần sau to), thực quản giống hình chuỗi hạt.

Giun xoắn là loài đơn giới; giun cái dài từ 2,2 – 3 mm, có âm hộ ở đoạn giữa

thực quản, hậu môn ở cuối đuôi; giun đực dài 1,4 – 1,6 mm, ở phần cuối có 2 gai

chồi.

Ấu trùng có hình lò xo, được bọc trong bao nên sống được rất lâu, khi vừa mới

được sinh ra ở ruột, chúng có kích thước 0,1 mm. Trong cơ, ấu trùng có kích thước

0,8 – 1 mm, chúng cuộn tròn lại tạo thành kén 0,25 – 0,5 mm, thông thường mỗi

kén như vậy có một con.

Sức đề kháng:

Giun trưởng thành có tuổi thọ ngắn nhưng ấu trùng trong kén có sức đề kháng

cao. Trong thịt động vật, dù thối rữa ấu trùng trong kén vẫn sống được 2 – 5 tháng,

nhưng sau khi được giải phóng ra khỏi kén chúng chết sau vài giây ở nhiệt độ 45 –

70oC.

Do kén giun xoắn có sức đề kháng thấp với nhiệt độ cao, nên ăn thịt chín vẫn là

phương pháp tốt nhất để phòng bệnh giun xoắn. Thịt được muối hoặc hun khói

khơng đảm bảo diệt được hết kén và thường chỉ tiêu diệt được kén ở lớp phía

ngồi.

Chu trình phát triển:

4.5.1.

-



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3. BỆNH CẢM NHIỄM NẤM VÀ PRION

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×