Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2. BỆNH CẢM NHIỄM VIRUS

CHƯƠNG 2. BỆNH CẢM NHIỄM VIRUS

Tải bản đầy đủ - 0trang

thời giúp virus ra khỏi tế bào đã nhiễm và lan sang tế bào lành khác.

Sức đề kháng:

Virus cúm không bền với nhiệt độ cao, ở 56 – 60 oC virus mất độc tính trong

vòng vài phút; chết ngay ở 100oC; nhưng ở 4oC trong nước niệu của phôi gà virus

tồn tại 2 tháng.

Trong tự nhiên virus có sức đề kháng cao và có khả năng tồn tại lâu dài, virus

có thể sống 105 ngày trong dịch tiết (mùa đơng), 30 – 35 ngày ở trong phân 4 oC và

7 ngày ở 20oC.

Các chất sát trùng thông thường như formol, virkon, vơi, crezil có thể tiêu diệt

virus nhanh chóng.

2.1.1.2. Dịch tễ học

- Địa dư bệnh lý

Bệnh cúm động vật nói chung và cúm gia cầm nói riêng đã có từ rất lâu đời

trên thế giới.

Từ những năm đầu của thế kỷ 21 dịch cúm gia cầm đã bùng phát tại nhiều

quốc gia và gây ra những thiệt hại rất nặng nề. Riêng ở Việt Nam, dịch đã bùng

phát từ những tháng cuối năm 2003 và trải qua 5 đợt dịch lớn gây tổn thất nghiêm

trọng về người và chăn nuôi gia cầm.

Trước đây bệnh được gọi là dịch tả gà (Fowl plague). Từ hội nghị lần thứ

nhất về bệnh cúm gia cầm tại Beltsville ở Mỹ năm 1981 đã thay thế bằng tên “bệnh

cúm truyền nhiễm cao ở gia cầm (Highly pathogenic avian influenza – HPAI).

Đại dịch cúm trầm trọng nhất là vào năm 1918 – 1919 đã làm hơn 40 triệu

người bị tử vong do cúm A.

- Loài mắc bệnh

Trong thiên nhiên, hầu hết các loài gia cầm, thủy cầm, chim hoang dã đều bị

bệnh.

Ngoài ra, người và một số lồi động vật có vú như lợn, ngựa cũng có khả

năng cảm nhiễm với virus.

Trong phòng thí nghiệm, người ta thường gây nhiễm trên phôi gà ấp 9 – 11

ngày, gà 6 tuần tuổi.

- Đường truyền lây

Khi gia cầm bị bệnh, virus nhân lên trong đường hô hấp, tiêu hóa, tiết niệu,

sinh dục. Bệnh truyền lây theo 2 phương thức trực tiếp và gián tiếp.



Trực tiếp: Do con vật mẫn cảm tiếp xúc với con vật mắc bệnh

Gián tiếp: Thơng qua các hạt khí dung được bài tiết từ đường hô hấp, phân,

thức ăn và nước uống bị nhiễm mầm bệnh hoặc qua dụng cụ chăn nuôi, phương

tiện vận chuyển và cơn trùng.

- Cơ chế sinh bệnh

Virus cúm có ái tính đặc biệt với tế bào biểu mơ đường hô hấp. Nhờ các

kháng nguyên HA và NA chúng bám được và chui vào trong tế bào biểu mô đường

hô hấp, chúng nhân lên và phát triển rất nhanh làm rối loạn chuyển hóa tế bào và

phá vỡ tế bào, rồi lại tiếp tục xâm nhập và phá hủy các tế bào khác.

Tại niêm mạc đường hô hấp, virus cúm bị các yếu tố miễn dịch của cơ thể

như dịch mũi họng, dịch phế nang, IgA chống lại. Nếu vượt qua được hàng rào này

chúng sẽ xâm nhập vào máu, bám vào bề mặt hồng cầu đi khắp cơ thể gây tình

trạng nhiễm virus máu, sau đó xâm nhập vào các cơ quan tổ chức.

2.1.1.3. Triệu chứng

- Gia cầm

Thời kỳ nung bệnh từ vài giờ đến 3 ngày tùy theo lượng virus, đường nhiễm

bệnh và loài vật cảm thụ.

Những triệu chứng của bệnh chủ yếu xuất hiện ở hệ thần kinh và hô hấp,

thông thường chúng sẽ xuất hiện đầu tiên và sau đó mới đến triệu chứng ở những

cơ quan khác trong cơ thể.

Triệu chứng thần kinh: Vẹo cổ, co giật, chuyển động quay tròn, mất thăng

bằng, gà đứng tụm lại, lông xù.

Triệu chứng hô hấp: Ho, hắt hơi, thở khó, khò khè; nước mắt, dịch mũi,

miệng chảy liên tục, khi xách ngược gà lên thì dịch chảy ra thành dây dài.

Triệu chứng tuần hồn: Con vật có những biểu hiện của rối loạn tuần hoàn.

Đầu và mặt sưng phù; mào tích và những vùng da mỏng xuất huyết tím tái, sưng

thủy thũng; vùng da khơng có lơng, đặc biệt như da chân bị xuất huyết.

Một số con có triệu chứng tiêu hóa và sinh sản: tiêu chảy, gà mái giảm đẻ và

tăng số lần ấp.

Gia cầm chết đột ngột giống như bị ngộ độc với tỷ lệ có thể lên đến 100%

trong vòng vài ngày.

- Người

Bệnh nhân sốt cao liên tục kéo dài 3 – 10 ngày, mệt mỏi, nhức đầu, người



mệt lả; đau ngực, đau họng, nói giọng hơi khàn; đôi khi nôn hoặc tiêu chảy vài lần

trong ngày.

Một số bệnh nhân nặng có triệu chứng hơ hấp nổi bật là khó thở, nhịp thở

tăng, tím tái mơi, ho khan hoặc có đờm trắng.

Bệnh cúm do type H5N1 thường gây tử vong là do suy hô hấp cấp tính, tổn

thương đa phủ tạng. Biểu hiện như khó thở, thở nhanh, sổ mũi, tím tái, tổn thương

ở thận gây tiểu niệu, đau họng và đau cơ.

2.1.1.4. Bệnh tích

Bệnh tích chủ yếu của cúm gia cầm là xung huyết, xuất huyết, tiết nhiều dịch

rỉ viêm, hoại tử ở các cơ quan và cơ.

- Hệ hơ hấp: Khí quản của gia cầm phù và chứa nhiều dịch nhầy, xuất hiện

viêm cata và viêm tơ huyết niêm mạc. Túi khí tăng sinh, phổi sưng to.

- Mào tích sưng to, phù có keo nhầy và xuất huyết dưới da đầu.

- Đường tiêu hóa: Xuất huyết điểm ở miệng, dạ dày cơ xuất huyết, dạ dày

tuyến đôi khi xuất huyết giống bệnh Newcastle, viêm cata và xuất huyết niêm mạc

ruột.

- Các cơ quan tổ chức khác: Gan, lách, thận sưng to có những điểm hoại tử

màu vàng hoặc xám. Xuất huyết điểm ở túi Fabricius, lỗ huyệt và cơ đùi phần giáp

đầu gối, da chân xung huyết đỏ thẫm.

2.1.1.5. Chẩn đoán

- Chẩn đoán lâm sàng

Bệnh cúm gia cầm có triệu chứng lâm sàng rất đa dạng nên nếu chẩn đoán

chỉ dựa trên các đặc điểm lâm sàng thì khơng chính xác trừ trường hợp trong giai

đoạn xảy ra dịch.

Cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh khác như tụ huyết trùng gà,

Newcastle, bệnh CRD.

- Chẩn đoán huyết thanh học

Sử dụng các phản ứng huyết thanh học như phản ứng ngăn trở ngưng kết

hồng cầu (HI), phản ứng trung hòa, phản ứng ELISA để xác định các type và phân

biệt virus cúm với virus Newcastle và các virus khác trong nhóm

Paramyxoviridae.

Ngồi ra có thể sử dụng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang (IF) dùng để phát

hiện virus cúm trong mô của con vật bệnh và chẩn đốn nhanh bệnh cúm ở người.



Có thể sử dụng bộ KIT chẩn đốn nhanh hiện đang có trên thị trường để

kiểm tra.

- Chẩn đoán virus học

Phân lập virus trong xoang niệu mô gà rồi tiến hành phản ứng ngưng kết

hồng cầu gà (HA) để xác định sự hiện diện của virus.

Sử dụng kỹ thuật RT – PCR cho phép xác định virus với một lượng rất nhỏ,

khẳng định chắc chắn type virus nhờ primer đặc hiệu.

2.1.1.6. Phòng bệnh

- Phòng bệnh bằng vaccine

Ở gia cầm, tiêm phòng có hiệu quả sẽ làm giảm tính mẫn cảm của chúng đối

với mầm bệnh và làm giảm lượng virus bài thải ra mơi trường.

Hiện tại có 3 loại vaccine phòng cúm đang được sử dụng ở một số quốc gia:

Vaccine vô hoạt đồng nhất, vaccine vô hoạt dị chủng, vaccine tái tổ hợp.

- Phòng bệnh bằng vệ sinh

Khi chưa có dịch:

Thực hiện nghiêm ngặt vệ sinh phòng bệnh. Tiêu độc khử trùng tồn bộ khu

chuồng ni và các khu vực tiếp giáp xung quanh, dụng cụ chăn nuôi, người chăn

nuôi.

Hạn chế cho gia cầm tiếp xúc với chim hoang dã.

Ở các cơ sở chăn nuôi lớn, áp dụng phương thức chăn nuôi cùng ra – cùng

vào. Áp dụng các biện pháp an tồn sinh học trong chăn ni.

Khi có dịch:

Tiến hành tiêu hủy gia cầm ốm chết theo đúng kỹ thuật, phun thuốc sát trùng

tiêu độc triệt để.

Cấm vận chuyển, buôn bán gia cầm và các sản phẩm của chúng ra khỏi tỉnh,

thành phố đang có dịch, thành lập các chốt kiểm dịch.

Giám sát chặt chẽ diến biến của dịch và phát hiện kịp thời những biểu hiện

bệnh cúm ở người để can thiệp.

Đảm bảo trang phục bảo hộ cần thiết cho những người tham gia chống dịch.

2.1.1.7. Điều trị

Theo Luật thú y thế giới và Pháp lệnh thú y Việt Nam, gia cầm khi đã mắc

bệnh cúm cần phải tiêu diệt để tránh lây lan sang con vật khác và người.

Người bị cúm được khuyến cáo phải nghỉ ngơi thật nhiều, uống nhiều nước,



và tránh uống bia rượu và hút thuốc lá, nếu cần thiết, uống thuốc như paracetamol

(acetaminophen) để làm giảm sốt và đau cơ bắp vì cúm. Phải đến các cơ sở y tế

hay bệnh viên để được bác sĩ khám và điều trị kịp thời.

Cúm gia cầm do virus gây ra, thuốc kháng sinh khơng có tác dụng điều trị

bệnh; ngoại trừ trường hợp được kê toa để trị các bệnh bội nhiễm như viêm phổi.

Thuốc chống virus có thể có tác dụng, nhưng một số chủng cúm có thể kháng lại

các loại thuốc chống virus thơng thường.



2.1.2. CÚM LỢN (Swine Influenza)

2.1.2.1. Đặc điểm bệnh và căn bệnh

- Đặc điểm bệnh

Bệnh cúm lợn là một bệnh truyền nhiễm cấp tính đặc trưng trên đường hơ

hấp của lợn do virus cúm type A gây ra. Bệnh chủ yếu biểu hiện ở đường hô hấp và

cũng mất đi nhanh chóng trừ trường hợp con vật bị chết do virus gây viêm phổi

cấp.

- Căn bệnh

Bệnh do một loại virus cúm type A/H1N1 thuộc họ Orthormyxovirideae gây

ra, virus này có đặc điểm cấu trúc cơ bản của nhóm Influenza virus.

Hình thái: Virion có lớp vỏ bọc lipid kép, có đường kính từ 80 – 120 nm,

nucleocapsid có cấu trúc xoắn.

Trên bề mặt của virus có các gai lồi bọc quanh lớp vỏ như virus cúm gia cầm

là gai HA và gai NA.

2.1.2.2. Dịch tễ học

- Loài mắc bệnh

Lợn là loài cảm nhiễm chủ yếu đối với virus cúm H1N1 nhưng loài virus

này cũng có khả năng lây nhiễm giữa các lồi động vật, đặc biệt là gà tây, vịt,

người.

- Đường truyền lây

Trực tiếp: Thơng qua dịch tiết trong khơng khí khi lợn bệnh hắt hơi, sổ mũi,

ho thì mầm bệnh có thể lây lan trực tiếp từ cá thể nhiễm bệnh sang người và các

loài vật khỏe mạnh.

Gián tiếp: Mầm bệnh cũng có thể lây lan qua các dụng cụ chăn nuôi, người



làm việc trong các trang trại chăn nuôi, thức ăn, nước uống và phân.

2.1.2.4. Triệu chứng

- Bệnh ở lợn

Cúm lợn cổ điển là bệnh mang tính chất bầy đàn. Thời gian nung bệnh

khoảng từ 1 – 3 ngày, bệnh phát ra đột ngột và lây lan nhanh nên có thể thấy hầu

hết số lượng trong đàn phát bệnh trong cùng một thời điểm.

Triệu chứng của lợn bị cúm thường là sốt cao từ 40,5 oC – 41,5oC. Con vật

mệt mỏi, bỏ ăn, nằm co cụm một chỗ, lười vận động, thậm chí khơng đi lại được.

Lợn có biểu hiện của chứng cảm mạo: Hắt hơi, ho, sổ mũi, chảy nước mũi

rất nhiều. Cơn ho có thể rất dữ dội giống như đàn chó sủa. Lợn khó thở, phải há

miệng ra để thở, thở thể bụng. Một số con có thể bị viêm kết mạc mắt, giảm cân,

gầy yếu do biếng ăn và lười vận động.

Ở lợn nái có các biểu hiện về rối loạn sinh sản như sẩy thai, thai chết non,

lợn con sinh ra ít, còi cọc, tỷ lệ tử vong cao.

Trong một đàn lợn hầu như 100% số lợn bị nhiễm nhưng tỷ lệ tử vong là rất

thấp, thường chỉ là 1% nếu khơng có sự tái nhiễm. Thơng thường, con vật có thể

hồi phục rất nhanh sau 5 – 7 ngày kể từ khi có biểu hiện đột ngột, tuy nhiên nếu có

mầm bệnh khác kế phát thì lợn mắc bệnh trầm trọng hơn và tỷ lệ chết sẽ tăng lên.

- Bệnh ở người

Người bị nhiễm cúm lợn có những triệu chứng hơ hấp rất nặng nề.

Triệu chứng bệnh cúm lợn (H1N1) giống như cúm mùa bao gồm sốt, đau cổ

họng, hắt hơi, sổ mũi, đau nhức cơ. Tuy nhiên, cúm H1N1 mới gây bệnh cảnh nặng

hơn như viêm phổi khiến bệnh nhân ho nhiều, thở thanh, khó thở, chụp Xquang

cho thấy có tổn thương ở phổi. Một số bệnh phân có triệu chứng của suy hô hấp

cấp (ARDS), phù phổi và tử vong.

Khoảng 50% bệnh nhân có biểu hiện đau bụng, buồn nơn hay tiêu chảy.

Các triệu chứng hô hấp báo động bệnh trở nên nặng hơn ở người như thở

nhanh (người lớn trên 30 lần phút), có cảm giác hụt hơi, chóng mặt đột ngột, ngột

thở, tím mơi hay đầu chi, khơng tỉnh táo.

2.1.2.5. Bệnh tích

- Đại thể:

Sự biến đổi tập trung ở thùy đỉnh và thùy tim của phổi, có những trường hợp

hơn một nửa diện tích phổi bị tác động, có thể quan sát được rõ ràng đường ranh



giới phân biệt giữa mô lành và mô bị tổn thương. Các tổ chức bệnh có màu tím và

rắn chắc, bệnh tích phù bên trong mô phổi là rõ ràng.

Hạch phổi thường sưng to, hệ thống khí phế quản chứa đầy dịch nhầy, có bọt

khí và hầu như đặc kín bởi tơ huyết và dịch rỉ viêm. Cắt phế quản, tiểu phế quản và

bóp thấy chảy ra một chất dịch đục, dính, màu đỏ và xám.

- Vi thể:

Có sự thối hóa lan rộng và hoại tử ở biểu mơ khí, phế quản. Phế nang được

phủ đầy dịch nhầy (gồm tế bào bị bong tróc, bạch cầu trung tính và một lượng lớn

bạch cầu đơn nhân lớn).

2.1.2.6. Chẩn đốn

Có thể dựa vào những triệu chứng lâm sàng, bệnh tích, dịch tễ học để chẩn

đốn. Cần phân biệt với một số bệnh khác như dịch tả lợn, tụ huyết trùng và suyễn

lợn.

Để khẳng định chắc chắn có thể sử dụng các phân tích xét nghiệm trong

phòng thí nghiệm với các phương pháp như RT – PCR, phân lập virus, hóa miễn

dịch tổ chức, phản ứng kháng thể huỳnh quang hay phản ứng ELISA, phản ứng HI,

HA.

2.1.2.7. Phòng bệnh

- Vệ sinh phòng bệnh

Do virus cúm lợn có đặc điểm phát tán, lây lan chủ yếu qua đường tiếp xúc

trực tiếp, do đó nếu nghi ngờ lợn mắc bệnh phải cách ly ngay để hạn chế lây lan

mầm bệnh. Đồng thời thực hiện các biện pháp vệ sinh, tiêu độc khử trùng tồn bộ

khu chuồng ni và các khu vực xung quanh để tiêu diệt mầm bệnh bằng các chất

tiêu độc khử trùng.

Tăng cường chăm sóc, ni dưỡng, quản lý đàn và áp dụng các biện pháp an

toàn sinh học trong chăn ni.

Kiểm sốt nghiêm ngặt động vật và sản phẩm động vật xuất nhập khẩu, đặc

biệt là quá trình vận chuyển lợn và sản phẩm của lợn chưa qua chế biến.

Tăng cường công tác giám sát dịch bệnh, khi phát hiện có lợn mắc bệnh biểu

hiện những triệu chứng của cúm thì phải báo ngay cho cán bộ thú y và các cấp

chính quyền để xác minh và lấy mẫu xét nghiệm.

Lợn mua về phải biết rõ nguồn gốc và có giấy chứng nhận đã kiểm dịch.

- Phòng bệnh bằng vaccine



Hiện nay sử dụng vaccine được chế từ chủng H1N1 chủ yếu dùng cho lợn

nái, rất ít khi dùng cho lợn thịt. Ngoài ra, ngoài ra cũng có thể sử dụng một số

vaccine tái tổ hợp.

2.1.2.8. Điều trị

Lợn khi đã xác định bị nhiễm cúm thì khơng điều trị mà phải tiêu hủy để

tránh lây lan sang con vật khác và người.



2.3. BỆNH DẠI (Rabies)

2.3.1. Đặc điểm bệnh và căn bệnh

- Đặc điểm

Bệnh dại là một bệnh truyền nhiễm cấp tính chung cho nhiều loại động vật máu

nóng và người do một loại virus có tính hướng thần kinh gây ra. Khi bị bệnh con

vật thường có những động tác rối loạn thần kinh như: điên cuồng, lồng lộn, bại liệt

rồi chết.

- Căn bệnh

Virus dại thuộc giống Lyssavirus, họ Rhabdoviridae; là virus RNA một sợi âm có

áo ngồi.

Dựa theo độc lực có thể chia làm 2 loại: Virus hoang dại là virus được phân lập từ

mô thần kinh của động vật mắc bệnh dại ở thiên nhiên. Virus cố định là virus dại sau

khi cấy truyền nhiều lần ở não của động vật thí nghiệm.

Sức đề kháng:

Virus dại có sức đề kháng yếu với điều kiện ngoại cảnh, bị tiêu diệt sau 30 phút ở

o

56 C, chết ngay ở 70oC. Các chất sát trùng thường dùng như xà phòng, cồn iod đều có

khả năng diệt virus, ánh sáng mặt trời trực tiếp diệt virus từ 15 – 20 phút.

Tuy nhiên, virus có thể nằm trong não động vật bị bệnh dại 10 ngày ở nhiệt độ

phòng, vài tuần ở 4oC và 3 – 4 năm ở nhiệt độ âm.

2.2.2. Dịch tễ học

- Địa dư bệnh lý

Bệnh dại đã được mơ tả từ thời Hippocrate, khi đó người ta rất chú trọng đến sự lây

truyền của bệnh và họ xác định rằng tính sợ nước là triệu chứng chủ yếu của bệnh dại ở

người và chó.

Năm 1885, Pasteur đã thành công trong điều chế vaccine dại và tiêm chủng cho



người. Năm 1903, Negri đã phát hiện những tiểu thể đặc hiệu nằm trong tế bào thần

kinh ở não của chó bị dại.

Bệnh phân bố ở khắp nơi trên thế giới, từ châu Âu, châu Á đến châu Phi, Mỹ La

Tinh trừ một số vùng khơng có bệnh dại như Anh, Nhật Bản, Bắc cực. Ở Việt Nam,

bệnh dại còn rất phổ biến trên cả nước; xảy ra rải rác quanh năm nhưng tập trung vào

các tháng nóng ẩm từ mùa hè đến mùa thu, gây nhiều thiệt hại cho người và gia súc.

- Loài cảm nhiễm

Trong thiên nhiên, mọi động vật máu nóng đều cảm nhiễm bệnh (chó, chó sói, cáo,

mèo). Tuy nhiên mẫn cảm nhất vẫn là chó và chúng cũng chính là nguồn lây lan bệnh

chủ yếu.

Con người và động vật thuần hóa cũng cảm nhiễm với mầm bệnh. Trong phòng thí

nghiệm, người ta thường gây nhiễm cho thỏ, chó và chuột.

- Chất chứa mầm bệnh

Trong cơ thể bệnh virus thường khu trú nhiều ở trong hệ thần kinh như: Não, tủy

sống, nhiều nhất là ở sừng Amon, chất xám của vỏ não.

Tuyến nước bọt thường có độc lực sớm, ngay cả khi con vật chưa có các triệu

chứng lâm sàng. Mắt, nhất là giác mạc thường có virus. Nước tiểu, gan, lách, tuyến

thượng thận, phổi có thể chứa virus.

- Đường xâm nhập của virus

Phần lớn trường hợp virus dại được truyền trực tiếp từ động vật mắc bệnh sang

người hay động vật khỏe qua nước dãi tại vết cắn.

Một số trường hợp hi hữu là do virus rơi vào niêm mạc hở hoặc vết thương hở.

Virus có thể xâm nhập qua niêm mạc dù vẫn ngun lành hoặc do hít phải khơng khí có

virus trong hang dơi hay trong phòng thí nghiệm.

Ngồi ra, cấy ghép phủ tạng, giác mạc cũng là một trong những nguyên nhân lây

bệnh ở người.

- Cơ chế sinh bệnh

Khi vào cơ thể qua vết cắn, virus tồn tại ở đó một thời gian (vài giờ hoặc vài

ngày) rồi đi đến tế bào thần kinh ngoại biên và di chuyển hướng tâm đến hạch tủy

sống, não bộ. Tại não bộ, virus lại theo dây thần kinh di chuyển đến các nơi khác

(tuyến nước bọt,...), lúc này người ta nói virus di chuyển theo hướng li tâm.

Thời kỳ đầu: Virus mới nhân lên ở não bộ, phá hủy một lượng ít noron thần

kinh nên con vật chưa có biểu hiện bệnh dại.



Giai đoạn sau: Virus nhân lên, phá hủy nhiều tế bào thần kinh, con vật xuất

hiện triệu chứng thần kinh: điên cuồng, lồng lộn, cắn xé, rối loạn tâm lý.

Cuối cùng, các noron thần kinh bị phá hủy nghiêm trọng dẫn đến con vật bị bại

liệt rồi chết. Phần lớn là chết do liệt thần kinh hô hấp.

2.2.3. Triệu chứng

Thời gian ủ bệnh rất khác nhau, khoảng 25 ngày, nhưng cũng có thể từ 2 – 5

năm sau khi bị động vật mắc bệnh dại cắn.

2.2.3.1. Dại ở chó

- Thể dại điên cuồng

Thời kỳ mở đầu

Thời kỳ này rất khó phát hiện. Chó có các biểu hiện khác thường, chủ yếu thay

đổi về tính nết như trốn vào một góc kín, khi chủ gọi chạy đến một cách miễn

cưỡng, hoặc biểu hiện vui mừng quá hơn so với bình thường, con đực cường

dương, sốt nhẹ.

Thỉnh thoảng cắn sủa vu vơ lên không khí (đớp ruồi), vẻ bồn chồn.

Thời kỳ kích thích

Chó có những rối loạn thần kinh quá độ về cơ năng và cảm giác, chỉ cần một

kích thích về âm thanh và ánh sáng nhỏ cũng khiến con vật lao ra cắn sủa dữ dội,

chó chạy lung tung, hoảng loạn, có khi vồ bóng vồ mồi một cách vơ hình. Chủ gọi

thì lao ngay đến liếm chân, tay chủ. Thấy người lạ xông ra cắn, sủa dữ dội. Thỉnh

thoảng con ngươi mở to.

Phản xạ nuốt kém, biểu hiện như mắc xương ở cổ họng. Tiếng sủa rất đặc

trưng, giống như tiếng hú do dây thần kinh họng bắt đầu bị liệt.

Con vật mang bộ mặt đặc trưng của chó dại: Trễ hàm, lưỡi thè ra, chảy nhiều

nước dãi, hai mắt đỏ ngầu, tai dựng ngược, bụng thóp lại.

Nơi bị cắn ngứa nên chó thường liếm, cắn và cọ sát vào đó; nhiều khi rụng hết

lơng, chảy máu.

Chó sợ gió, sợ nước, bỏ nhà chạy lung tung có khi hàng chục kilomet, đơi khi

cắn và nuốt cả vật lạ. Chó gầy sút nhanh rồi chuyển sang bại liệt.

Thời kì bại liệt

Con vật liệt các cơ vận động, liệt hô hấp và kiệt sức do các vận động của cơn

dại hoặc do không ăn uống gì dẫn đến chết.

- Thể dại lặng



Đây là một dạng bệnh không thấy rõ các dấu hiệu lên cơn dại như trong thể dại

điên cuồng và thường xuất hiện nhiều ở chó con.

Con vật thích nằm trong bóng tối, hàm trễ, lưỡi thè ra và nước dãi chảy tự do. Chó

khơng sủa, khơng cắn được nên gọi là thể dại lặng.

Sau đó con vật gầy sút nhanh chóng, nằm xuống lịm dần rồi chết.

Sau khi lên cơn dại, đa số trường hợp bệnh kéo dài 5 – 7 ngày, có khi hạn hữu

chỉ 2 ngày hoặc có trường hợp 14 ngày sau đó con vật chết.

2.2.3.2. Dại ở mèo

Mèo ít bị dại hơn chó do lối sống thu mình và thời gian nung bệnh thường ngắn

hơn.

Con vật bỏ nhà đi lang thang, lao vào tấn công, cắn xé người và các con vật

khác mà nó gặp, kêu gào thảm thiết, cuối cùng chết trong tình trạng liệt tồn thân.

2.2.3.3. Dại ở trâu bò

Trâu bò thường hung dữ đứng khơng n, mắt nhìn trừng trừng, húc vào bất cứ

vật gì hoặc là người lại gần; sau đó chuyển sang thể bại liệt và chết.

2.2.3.4. Dại ở người

Người lúc đầu thấy mệt mỏi, chán ăn nhức đầu, sốt và đau cơ, ngứa và đau ở

vết cắn mặc dù đã lành. Bệnh nhân cảm thấy hồi hộp; lo lắng, dễ bị kích thích mất

ngủ, bứt rứt. Bệnh cũng xảy ra ở 2 thể:

Dại điên cuồng: Bệnh nhân có những biểu hiện rối loạn ý thức, sợ nước, sợ

gió; vùng vẫy cắn xé từng lúc và rú lên như chó sủa, khạc nhổ lung tung do tăng

tiết nước bọt nhưng khó nuốt. Cuối cùng bệnh nhân rơi vào tình trạng lú lẫn, ngừng

tim, ngừng thở đột ngột và tử vong.

Thể bại liệt: Thường thấy dị cảm ở vết cắn, đau cột sống. Liệt khởi phát từ chi

bị cắn và dần lan sang tất cả các chi khác, hầu họng, cơ mặt và cơ hơ hấp gây sặc

và chết.

2.2.4. Bệnh tích

- Bệnh tích đại thể

Xác chết gầy, bẩn, có vết đánh hoặc tự cắn, thịt gan có màu nhợt nhạt.

Dạ dày khơng chứa vật gì hoặc vật lạ khơng tiêu hóa như rơm, rạ, mẫu gỗ, mẫu

xương, đá.

Niêm mạc dạ dày và ruột phù nề, xuất huyết lấm chấm.

- Bệnh tích vi thể



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2. BỆNH CẢM NHIỄM VIRUS

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×