Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về kế toán bán hàng trong doanh nghiệp

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về kế toán bán hàng trong doanh nghiệp

Tải bản đầy đủ - 0trang

Nghiên cứu Khoa học



ThS. Chu Thị Huyền



- Doanh thu: Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ

kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thơng thường của doanh

nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. [Điều 03- Chuẩn mực kế toán Việt Nam

VAS 14 “doanh thu và thu nhập khác”. Ban hành và công bố theo Quyết định số

149/2001/QĐ-BTC, ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính]

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Là toàn bộ doanh thu bán thu bán hàng

và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp trong kỳ. [Trích trang 290 - Giáo trình kế tốn

tài chính của trường Đại học Thương mại- Xuất bản năm 2010- Do TS.Nguyễn Tuấn

Duy, TS.Đặng Thị Hòa chủ biên]

Doanh thu thuần từ việc bán hàng và cũng cấp dịch vụ: Là chỉ tiêu phản ánh số

doanh thu bán hàng, thành phẩm và cung cấp dịch vụ đã trừ các khoản giảm trừ ( chiết

khấu thương mai, giảm giá hàng bán…) trong kỳ báo cáo, làm căn cứ tính kết qủa hoạt

động kinh doanh của doanh nghiệp.

- Giá vốn hàng bán : là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh trị giá thực tế của sản

phẩm, hàng hóa, dịch vụ, bất động sản đầu tư đã tiêu thụ trong kỳ. [Trích trang 250Giáo trình kế tốn tài chính của trường Đại học Thương mại- Xuất bản năm 2010- Do

TS.Nguyễn Tuấn Duy, TS.Đặng Thị Hòa chủ biên]

- Chi phí bán hàng: Là hao phí cần thiết nhằm thực hiện q trình tiêu thụ sản

phẩm hàng hóa. Chi phí bán hàng bao gồm: Chi phí về lương và khoảng trích theo

lương, chi phí vận chuyển hàng hóa tiêu thụ, chi phí về nguyên vật liệu, nhiên liệu

dùng trong việc bán hàng, vận chuyển hàng hóa tiêu thụ, quảng cáo, hội chợ, bảo trì,

bảo hành, khuyến mãi ở bộ phận bán hàng… [Trích trang 224- Giáo trình kế tốn tài

chính của trường Đại học Thương mại- Xuất bản năm 2010- Do TS.Nguyễn Tuấn Duy,

TS.Đặng Thị Hòa chủ biên].

1.1.2 Đặc điểm, yêu cầu, nhiệm vụ của kế toán bán hàng

1.1.2.1 Đặc điểm của nghiệp vụ bán hàng

1.1.2.1.1 Các phương thức bán hàng trong doanh nghiệp



 Phương thức bán buôn



7



Nghiên cứu Khoa học



ThS. Chu Thị Huyền



Bán bn hàng hóa qua kho: là phương thức bán bn mà hàng hóa được xuất từ

kho bảo quản của doanh nghiệp. Bán bn hàng hóa qua kho có thể được thực hiện

dưới hai hình thức là:

+ Theo hình thức gửi hàng: Theo hình thức này, căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã

ký kết hoặc theo đơn đặt hàng, doanh nghiệp xuất kho bán hàng hóa, dùng phương tiện

vận tải của mình hoặc đi th ngồi, chuyển hàng đến kho của bên mua hoặc một địa

điểm nào đó bên mua quy định trong hợp đồng. Hàng hóa chuyến bán trong trường

hợp này vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Chỉ khi nào được bên mua kiếm

nhận, thanh tốn hoặc chấp nhận thanh tốn thì số hàng chuyển giao mới được coi là

tiêu thụ, người bán mất quyền sở hữu hàng hóa.

+ Theo hình thức nhận hàng: Theo phương thức này, bên mua cử đại diện đến

kho của doanh nghiệp để nhận hàng. Doanh nghiệp xuất kho hàng hóa giao trực tiếp

cho người đại diện của bên mua. Sau khi đại diện bên mua nhận đủ hàng, thanh tốn

tiền hoặc chấp nhận nợ, hàng hóa được xác định là tiêu thụ.

Bán bn hàng hóa vận chuyển thẳng: Doanh nghiệp sau khi mua hàng, không

đưa về kho mà chuyển thẳng cho bên mua. Phương thức này cũng có thể được thực

hiện theo hai hình thức là:

+ Theo hình thức giao tay ba: Theo hình thức này, doanh nghiệp sau khi mua

hàng, giao trực tiếp cho đại diện của bên mua tại kho người bán. Sau khi đại diện bên

mua ký nhận đủ hàng, bên mua đã thanh toán tiền hàng hoặc chấp nhận nợ, hàng hóa

được xác nhận là tiêu thụ.

+ Theo hình thức gửi bán thẳng: Theo hình thức này, doanh nghiệp sau khi mua

hàng, nhận hàng mua, dùng phương tiện vận tải của mình hoặc thuê ngoài vận chuyển

hàng đến giao cho bên mua ở địa điểm đã được thỏa thuận. Hàng hóa chuyển bán

trong trường hợp này vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Khi nhận được tiền

của bên mua thanh toán hoặc giấy báo của bên mua đã nhận được hàng và chấp nhận

thanh tốn thi hàng hóa chuyển đi mới được xác định là tiêu thụ.



 Phương thức bán lẻ:



8



Nghiên cứu Khoa học



ThS. Chu Thị Huyền



Bán hàng thu tiền tập trung: Hình thức này tách rời nghiệp vụ kinh tế- thu tiền và

giao dịch hàng cho người mua. Nhân viên bán hàng giao hàng cho khách, khách hàng

chưa thanh toán ngay mà trả tiền sau.

Bán lẻ thu tiền trực tiếp: Nhân viên bán hàng, giao hàng cho khách và trực tiếp

nhận tiền của khách.

Bán lẻ tự phục vụ (tự chọn): Khách hàng tự chọn lấy hàng hóa, mang đến bàn

tính tiền và thanh toán tiền hàng. Nhân viên thu tiền kiểm hàng, tính tiền, lập hóa đơn

bán hàng và thu tiền của khách.

 Phương thức bán hàng trả góp: Theo hình thức này, người mua hàng được

phép trả tiền mua thành nhiều lần cho người bán. Ngoài số tiền thu theo giá bán

thường nhật, người bán còn thu thêm của người mua một khoản do lãi trả chậm.

Doanh nghiệp vẫn ghi nhận doanh thu bán hàng theo giá bán trả ngay và ghi nhận

doanh thu hoạt động tài chính phần lãi trả chậm.



 Phương thức hàng đổi hàng: Đây là phương thức tiêu thụ trong đó người bán

đem vật tư, sản phẩm, hàng hóa của mình để đổi lấy vật tư, hàng hóa, sản phẩm của

người mua. Nếu là trao đổi hàng hóa tương tự (khơng có chênh lệch giá tri trao đổi) thì

khơng được coi là giao dịch tạo doanh thu. Nếu như là trao đổi hàng hóa khơng tương

tự ( có chênh lệch giá trị trao đổi) thì được coi là thương lượng tạo doanh thu, được ghi

nhận lãi, lỗ.



 Phương thức bán hàng đại lý, ký gửi

Bán hàng đại lý, ký gửi là phương thức mà bên chủ hàng (bên bán giao đại lý)

xuất hàng cho bên nhận đại lý, ký giửi (bên đại lý) để bán. Bên đại lý sẽ được lợi thù

lao dưới hình thức hoa hồng hoặc chênh lệch giá.

Đối với bên giao đại lý, hàng giao cho đơn vị đại lý vẫn thuộc quyền sở hữu của

doanh nghiệp và chưa công nhận là đã bán. Doanh nghiệp chỉ hạch toán vào doanh thu

lúc bên nhận đại lý trả tiền hoặc được bằng lòng trả tiền. Doanh nghiệp có bổn phận

nộp thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có).



9



Nghiên cứu Khoa học



ThS. Chu Thị Huyền



Đối với bên nhận đại lý, số hàng nhận đại lý không thuộc quyền sở hữu của

doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp có nghĩa vụ bảo quản, giữ hàng, bán hộ. Số hoa

hồng được hưởng là doanh thu trong hợp đồng bán hộ của doanh nghiệp. Lúc nhận

được hoa hồng kế toán sẽ ghi nhận doanh thu.

1.1.2.1.2 Các phương thức thanh toán áp dụng trong doanh nghiệp

Thơng thường, việc thanh tốn tiền mua hàng trong nước được thực hiện theo hai

phương thức:

Phương thức thanh toán trực tiếp: Sau khi nhận được hàng mua, doanh nghiệp

thương mại thanh toán ngay tiền cho người bán, có thể bằng tiền mặt, bằng chuyển

khoản, có thể thanh toán bằng hàng (hàng đổi hàng).

Phương thức thanh toán trả chậm: Doanh nghiệp đã nhận hàng nhưng chưa

thanh toán tiền cho người bán. Việc thanh tốn trả chậm có thể thực hiện theo điều

kiện tín dụng ưu đãi theo thoả thuận.

Ví dụ: Điều kiện “1/10, n/20” có nghĩa là trong 10 ngày đầu kể từ ngày chấp

nhận nợ, nếu người mua thanh tốn cơng nợ sẽ được hưởng chiết khấu thanh toán là

1%. Từ ngày thứ 11 đến hết ngày thứ 20, người mua phải thanh tốn tồn bộ công nợ

là “n”. Nếu hết 20 ngày mà người mua chưa thanh tốn nợ thì họ sẽ phải chịu lãi suất

tín dụng.

1.1.2.1.3 Phương thức xác định giá vốn hàng bán

Theo VAS 02 có 4 phương pháp xác định giá vốn hàng bán

- Phương pháp tính theo giá đích danh

- Phương pháp bình qn gia quyền

Giá hàng hóa, ngun vật liệu xuất dùng thực tế = Giá bình quân x Số lượng

hàng xuất dùng

Các cách tính giá bình qn bao gồm: bình quân cả kỳ dự trữ, bình quân sau

mỗi lần nhập và bình quân cuối kỳ trước.

- Phương pháp nhập trước, xuất trước

10



Nghiên cứu Khoa học



ThS. Chu Thị Huyền



- Phương pháp nhập sau, xuất trước

1.1.2.1.4 Phương pháp xác định giá bán

Giá bán hàng hoá là một trong những nhân tố có tác động lớn đến thị trường. Giá

cả kích thích hoặc hạn chế cung, cầu, do đó ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của

doanh nghiệp. Vì vậy, đối với doanh nghiệp, việc xác định giá bán một cách hợp lý sẽ

đảm bảo khả năng tiêu thụ, tránh ứ đọng vốn, hạn chế thua lỗ, bù đắp chi phí và có lãi.

Giá bán được xác định theo cơng thức sau:

Giá bán = Giá mua + Thặng số thương mại

Trong đó:

Thặng số thương mại = Giá mua x Tỷ lệ % thặng số thương mại

Trong thực tế kinh doanh, việc quyết định một mức giá phù hợp là một vấn đề

phức tạp đòi hỏi nhà kinh doanh phải có tầm nhìn bao qt, phải có khả năng kiểm

sốt nghiên cứu các yếu tố để quyết định mức giá cho phù hợp. Việc xác định mức giá

phải đạt các mục tiêu sau:

- Giá bán phải kích thích khối lượng hàng hố bán ra.

- Xác định giá bán phải đảm bảo cho doanh nghiệp thu được lợi nhuận. Giá bán

cao hay thấp tuỳ thuộc vào khối lượng bán ra và phương thức bán hàng. Nhưng phải

đảm bảo nguyên tắc bù đắp được các chi phí bỏ ra và hình thành lợi nhuận dự kiến, tuy

nhiên phải phù hợp với giá cả thị trường.

Đối với các doanh nghiệp tính thuế theo phương pháp khấu trừ thì giá mua, giá

bán và các chi phí liên quan (nếu có) là giá chưa có thuế. Đối với doanh nghiệp tính

thuế theo phương thức trực tiếp thì giá bán, giá mua và các chi phí liên quan (nếu có)

là giá đã có thuế.

1.1.2.2 Yêu cầu quản lý nghiệp vụ bán hàng

Nghiệp vụ bán hàng tiêu thụ hàng hoá liên quan đến từng khách hàng, từng

phương thức thanh toán và từng mặt hàng nhất định. Do đó, cơng tác quản lý nghiệp

vụ bán hàng đòi hỏi phải quản lý các chỉ tiêu như quản lý doanh thu, tình hình thay đổi

trách nhiệm vật chất ở khâu bán, tình hình tiêu thụ và thu hồi tiền, tình hình cơng nợ

và thanh tốn cơng nợ về các khoản thanh tốn cơng nợ về các khoản phải thu của



11



Nghiên cứu Khoa học



ThS. Chu Thị Huyền



người mua, quản lý giá vốn của hàng hoá đã tiêu thụ…Quản lý nghiệp vụ bán hàng

cần bám sát các yêu cầu sau:

+ Quản lý sự vận động của từng mặt hàng trong quá trình xuất- nhập- tồn kho

trên các chỉ tiêu số lượng, chất lượng và giá trị.

+ Nắm bắt theo dõi chặt chẽ từng phương thức bán hàng,từng thể thức thanh

toán,từng khách hàng và từng loại hàng hố tiêu thụ.

+ Đơn đốc thanh tốn, thu hồi đầy đủ tiền hàng.

+Tính tốn xác định từng loại hoạt động của doanh nghiêp.

+ Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nước theo chế độ quy định.

1.1.2.3 Nhiệm vụ của kế toán bán hàng

- Ghi chép, phản ánh kịp thời, chính xác và đầy đủ tồn bộ tình hình bán hàng

của doanh nghiệp trong kỳ, cả về giá trị và số lượng hàng hóa, dịch vụ , bn bán, trên

tổng số và trên từng loại mặt hàng, từng phương thức bán hàng.

Doanh nghiệp thường kinh doanh đa mặt hàng (cả doanh nghiệp sản xuất lẫn

doanh nghiệp thương mại) vì vậy việc ghi chép, phản ánh chi tiết đến từng loại mặt

hàng cả về số lượng và giá cả là điều rất quan trọng. nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc ra

quyết định của doanh nghiệp đến mặt hàng đó- nên quyết định mở rộng hay hạn chế

mặt hàng đó, từ đó có những chiến lược cụ thể với từng mặt hàng, từng đơn vị kinh

doanh để phù hợp với thị yếu của khách hàng nhằm đem lại lợi nhuận cao nhất cho

doanh nghiệp.

- Tính tốn và phản ánh chính xác tổng giá trị thanh tốn của hàng hóa, dịch vụ

bán ra, bao gồm cả doanh thu bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ, thuế GTGT đầu ra

của từng nhóm mặt hàng khác nhau , từng hóa đơn bán hàng hay từng khách hàng,

từng đơn vị trực thuộc…Điều này giúp cho doanh nghiệp có được một cái nhìn tổng

quan nhất về hoạt động kinh doanh của đơn vị, từ đó doanh nghiệp có thể đưa ra

những biện pháp để khắc phục điểm yếu, phát huy điểm mạnh của mình.

- Xác định chính xác giá mua thực tế của lượng hàng hóa đã được tiêu thụ, đồng

thời phân bổ chi phí mua hàng cho hàng tiêu thụ nhằm xác định kết quả bán hàng.



12



Nghiên cứu Khoa học



ThS. Chu Thị Huyền



- Kiểm tra chặt chẽ, đơn đốc tình hình thu hồi đồng thời quản lý tiền hàng, quản

lý khách nợ, theo dõi chi tiết từng khách hàng, lô hàng, số tiền khách nợ, thời hạn và

tình hình trả nợ.

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì cơng nợ là điều tất yếu xảy ra , chính vì

vậy, đòi hỏi doanh nghiệp phải có quản lý cơng nợ thật tốt để sử dụng nguồn vốn một

cách hiệu quả nhất, tránh gây lãng phí nguồn vốn làm suy giảm lợi nhuận của doanh

nghiệp.

- Tập hợp đầy đủ, chính xác, kịp thời các khoản chi phí bán hàng thực tế đã phát

sinh trong kỳ và kết chuyển (hay phân bổ) chi phí bán hàng cho hàng tiêu thụ, làm căn

cứ để xác đinh kết quả kinh doanh.

- Cung cấp thông tin cần thiết về tình hình bán hàng hóa, dịch vụ, phục vụ cho

việc chỉ đạo và điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

- Tham mưu cho các lãnh đạo, cấp trên về các giải pháp để thúc đẩy quá trình bán

hàng.

 Nhiệm vụ của kế toán bán hàng rất quan trọng đối với doanh nghiệp, là thước

đo về sự thành công của doanh nghiệp, các con số phản ánh một cách chân thực, sinh

động nhất về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là căn cứ quan trọng để

doanh nghiệp đưa ra các quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh giúp doanh nghiệp

tạo được vị thế trên thị trường.

1.2 Kế toán bán hàng trong doanh nghiệp

1.2.1 Kế toán bán hàng theo quy định chuẩn mực kế toán Việt Nam

1.2.1.1 Kế toán bán hàng theo quy định VAS 01-“Quy định chung”



 Các nguyên tắc kế toán cơ bản:

Cơ sở dồn tích: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến

tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế tốn

vào thời điểm phát sinh, khơng căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền

hoặc tương đương tiền. Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ảnh tình hình tài

chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

13



Nghiên cứu Khoa học



ThS. Chu Thị Huyền



Doanh thu được ghi nhận tại thời điểm phát sinh giao dịch, không quan tâm đến

thời điểm tiền nhận được. Kế toán theo cơ sở dồn tích khơng quan tâm tiền đã thu

được hay chưa, mà thời điểm ghi nhận doanh thu được xác định là thời điểm phát sinh

giao dịch. Doanh thu được ghi nhận khơng nhất thiết cùng lúc với dòng tiền vào doanh

nghiệp, nhất là trong trường hợp giao dịch bán chịu, vì thời điểm ghi nhận doanh thu

theo nguyên tắc này là thời điểm đơn vị chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa thay vì

thời điểm nhận được tiền. Bên cạnh đó xảy ra trường hợp có những khoản doanh thu

“không thực” khi khách hàng không trả tiền (cố tình hay thực sự khơng có khả năng

trả) hoặc trả không đủ số tiền đã nợ.

Hoạt động Liên tục: Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là doanh

nghiệp đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong

tương lai gần, nghĩa là doanh nghiệp khơng có ý định cũng như không buộc phải

ngừng hoạt động hoặc phải thu hẹp đáng kể quy mơ hoạt động của mình. Trường hợp

thực tế khác với giả định hoạt động liên tục thì báo cáo tài chính phải lập trên một cơ

sở khác và phải giải thích cơ sở đã sử dụng để lập báo cáo tài chính.

Giá gốc: Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc. Giá gốc của tài sản được tính

theo số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý

của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận. Giá gốc của tài sản không được

thay đổi trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực kế tốn cụ thể.

Phù hợp: Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau. Khi ghi

nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan

đến việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo

ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến

doanh thu của kỳ đó.

Kế tốn bán hàng phải phù hợp với yêu cầu kế toán của doanh nghiệp và phải

phù hợp với chế độ kế toán của Nhà Nước do Bộ Tài chính ban hành. Doanh nghiệp

muốn thay đổi chế độ kế toán phải được sự đồng ý của cơ quan thuế.

Nhất quán: Các chính sách và phương pháp kế toán doanh nghiệp đã chọn phải

được áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế tốn năm. Trường hợp có thay đổi



14



Nghiên cứu Khoa học



ThS. Chu Thị Huyền



chính sách và phương pháp kế tốn đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của

sự thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính.

Kế toán bán hàng phải đảm bảo thống nhất theo quy định của nhà nước và thống

nhất giữa các phần hành kế tốn của doanh nghiệp. Từ đó kế tốn nghiệp vụ bán hàng

trở nên đồng bộ hơn, dễ kiểm tra và kiểm soát số liệu hơn.

Thận trọng: Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các

ước tính kế tốn trong các điều kiện khơng chắc chắn. Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi:





Phải lập các khoản dự phòng nhưng khơng lập q lớn;







Khơng đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập;







Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí.



Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả

năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về

khả năng phát sinh chi phí.

Trọng yếu: Thơng tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thơng tin

hoặc thiếu chính xác của thơng tin đó có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo tài chính,

làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính. Tính trọng

yếu phụ thuộc vào độ lớn và tính chất của thơng tin hoặc các sai sót được đánh giá

trong hồn cảnh cụ thể. Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét trên cả

phương diện định lượng và định tính.



 Các yêu cầu kế tốn cơ bản:

Trung thực: Các thơng tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo trên

cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất

nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh.

Các số liệu kế toán bán hàng cần ghi chép một cách trung thực và đúng với bản

chất kinh tế giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước và quản lý doanh nghiệp nhận thức



15



Nghiên cứu Khoa học



ThS. Chu Thị Huyền



đúng về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó có thể đưa ra các quyết định và

hướng phát triển đúng đắn cho doanh nghiệp.

Khách quan: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo đúng

với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo.

Đầy đủ: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến kỳ kế tốn phải

được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bị bỏ sót.

Kịp thời: Các thơng tin và số liệu kế tốn phải được ghi chép và báo cáo kịp thời,

đúng hoặc trước thời hạn quy định, khơng được chậm trễ.

Kế tốn bán hàng cần cung cấp các thông tin kịp thời về các biến động trong

công tác bán hàng của doanh nghiệp nhằm đưa ra các chính sách kịp thời.

Dễ hiểu: Các thơng tin và số liệu kế tốn trình bày trong báo cáo tài chính phải

rõ ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng. Người sử dụng ở đây được hiểu là người có

hiểu biết về kinh doanh, về kinh tế, tài chính, kế tốn ở mức trung bình. Thơng tin về

những vấn đề phức tạp trong báo cáo tài chính phải được giải trình trong phần thuyết

minh.

Có thể so sánh: Các thơng tin và số liệu kế tốn giữa các kỳ kế toán trong một

doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp chỉ có thể so sánh được khi tính tốn và trình

bày nhất qn. Trường hợp khơng nhất qn thì phải giải trình trong phần thuyết minh

để người sử dụng báo cáo tài chính có thể so sánh thơng tin giữa các kỳ kế toán, giữa

các doanh nghiệp hoặc giữa thơng tin thực hiện với thơng tin dự tốn, kế hoạch.

Dựa vào số liệu kế toán bán hàng qua các kỳ kế tốn, quản lý doanh nghiệp có

thể so sánh được kết quả kinh doanh giữa các kỳ kỳ kế tốn.

 u cầu kế tốn quy định nói trên phải được thực hiện đồng thời. Ví dụ: Yêu

cầu trung thực đã bao hàm yêu cầu khách quan; yêu cầu kịp thời nhưng phải đầy .

1.2.1.2 Kế toán bán hàng theo quy định VAS 02-“Hàng tồn kho”

Theo chuẩn mực số 02 có 4 phương pháp xác định giá vốn:



16



Nghiên cứu Khoa học



ThS. Chu Thị Huyền



Phương pháp tính theo giá đích danh: theo phương pháp này sản phẩm, vật tư,

hàng hoá xuất kho thuộc lơ hàng nhập nào thì lấy đơn giá nhập kho của lơ hàng đó để

tính. Đây là phương án tốt nhất, nó tuân thủ nguyên tắc phù hợp của kế tốn; chi phí

thực tế phù hợp với doanh thu thực tế. Giá trị của hàng xuất kho đem bán phù hợp với

doanh thu mà nó tạo ra. Hơn nữa, giá trị hàng tồn kho được phản ánh đúng theo giá trị

thực tế của nó.

Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp này đòi hỏi những điều kiện khắt khe, chỉ

những doanh nghiệp kinh doanh có ít loại mặt hàng, hàng tồn kho có giá trị lớn, mặt

hàng ổn định và loại hàng tồn kho nhận diện được thì mới có thể áp dụng được

phương pháp này. Còn đối với những doanh nghiệp có nhiều loại hàng thì khơng thể

áp dụng được phương pháp này.

Phương pháp bình quân gia quyền: Theo phương pháp bình quân gia quyền, giá

trị của từng loại hàng tồn kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn

kho tương tự đầu kỳ và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong

kỳ. Giá trị trung bình có thể được tính theo thời kỳ hoặc vào mỗi khi nhập một lơ hàng

về, phụ thuộc vào tình hình của doanh nghiệp.

Giá hàng hóa, nguyên vật liệu xuất dùng thực tế = Giá bình quân x Số lượng

hàng xuất dùng

Các cách tính giá bình qn Bao gồm: bình qn cả kỳ dự trữ, và bình quân sau

mỗi lần nhập, bình quân cuối kỳ trước.

Phương pháp bình quân cả kỳ dự trữ

Đơn giá xuất kho

bình quân cả kỳ

=

dự trữ của một

loại hàng hóa, sản

phẩm



Giá trị hàng tồn đầu kì + giá trị hàng nhập trong kỳ



Số lượng hàng tồn đầu kỳ + số lượng hàng nhập trong kỳ



17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về kế toán bán hàng trong doanh nghiệp

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×