Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
(ii) Kênh tín dụng

(ii) Kênh tín dụng

Tải bản đầy đủ - 0trang

43



với những đối tượng khác trên thị trường tài chính (Schmidt & ctg, 1999). Do đó,

hệ thống ngân



hàng đóng một vai trò quan trọng trong việc truyền dẫn các xung động CSTT. Điều

này cũng hàm ý rằng những thay đổi trong bản chất của các trung gian tài chính có

thể có những tác động quan trọng đối với sự vận hành của cơ chế truyền dẫn tiền tệ

(Singh & ctg, 2008). Sự phát triển tài chính trong những thập niên gần đây có xu

hướng củng cố sự phát triển của thị trường vốn, được thể hiện ở sự gia tăng vai trò

của các nhà đầu tư tổ chức (ví dụ các quỹ hưu trí và các quỹ tương hỗ) và khối

lượng giao dịch tài chính lớn hơn trên các thị trường này. Sự xuất hiện của các

trung gian tài chính phi ngân hàng ngày càng nhiều, các doanh nghiệp và nhà đầu

tư càng có xu hướng tìm kiếm nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu của họ trên thị

trường vốn do tính linh hoạt và đa dạng các loại cơng cụ đầu tư và cho vay, đồng

thời khả năng đáp ứng nhu cầu đầu tư nhanh hơn, cũng như ít bị giới hạn quy mơ.

Do đó, vai trò của hệ thống ngân hàng trong việc cung cấp vốn cho nền kinh tế

ngày càng giảm. Đồng nghĩa với việc giảm sự phụ thuộc của khách hàng vay đối

với hệ thống ngân hàng, kéo theo giảm vai trò của kênh cho vay ngân hàng trong

truyền dẫn CSTT.

Singh & ctg (2008) cho rằng bất kỳ sự phát triển trên thị trường tài chính mà

làm giảm sự khơng hồn hảo của thị trường tín dụng, như tăng tính minh bạch của

các doanh nghiệp, các quy định cho phép các doanh nghiệp tiếp cận dễ dàng hơn với

nguồn tài trợ từ thị trường vốn và cải tiến cơng nghệ trong kinh doanh có thể cải

thiện tiếp cận thị trường và do đó có khả năng làm giảm tầm quan trọng của kênh

cho vay ngân hàng.

Trong khi đối với hệ thống ngân hàng, thị trường vốn phát triển cũng tạo

điều kiện để họ chuyển sang các hoạt động đầu tư và thu phí khác, như thu phí

dịch vụ thanh tốn và các sản phẩm và dịch vụ quản lý rủi ro cho các nhà đầu tư,

thay vì các nghiệp vụ thu lãi truyền thống (Sellon, 2002). Sự phát triển của thị

trường vốn cũng đã cung cấp một nguồn tài trợ thay thế cho các ngân hàng, do đó

làm giảm áp lực đối với nguồn vốn huy động và tăng khả năng sẵn có của vốn vay.

Những thay đổi này có ý nghĩa quan trọng đối với vai trò của các ngân hàng trong

cơ chế truyền dẫn tiền tệ. Cạnh tranh từ thị trường vốn, như cạnh tranh gia tăng từ

các tổ chức tài chính khác, có thể ảnh hưởng đến cách các ngân hàng định giá

khoản vay và cách lãi suất cho vay của ngân hàng phản ứng với lãi suất CSTT.



(iii)



Kênh tỷ giá



Tồn cầu hóa tài chính – một đặc tính của phát triển tài chính - có thể tăng

cường hiệu lực của kênh tỷ giá thông qua hiệu ứng độ nhạy cảm ngoại tệ ròng (net

foreign currency exposure effects) (Georgiadis & Mehl, 2016). Một đặc điểm nổi bật

của tồn cầu hố tài chính là các tài sản ngoại tệ trong bảng cân đối của các tổ chức

và cá nhân trong nền kinh tế ngày càng gia tăng, hay nói cách khác, các nền kinh tế

ngày càng tăng trường thế ngoại tệ ròng (net long in foreign currency), làm tăng

hiệu quả CSTT: các nền kinh tế gặp phải những tổn thất trong định giá và những

hiệu ứng tài sản lớn hơn trên bảng cân đối tài sản bên ngoài của họ để phản ứng với

tỷ giá tăng khi CSTT bị thắt chặt, do đó gây ra tác động sản lượng lớn hơn (hiệu

ứng độ nhạy cảm ngoại tệ ròng). Sự khác biệt trong thành phần tiền tệ của tài sản

và nợ nước ngoài của nền kinh tế làm phát sinh tác động định giá trong phản ứng

với biến động tỷ giá. Meier (2013) phân tích vai trò của các tác động định giá tỷ

giá đối với truyền dẫn CSTT trong tồn cầu hố tài chính. Tác giả cho thấy tồn

cầu hóa tài chính cho phép các tác nhân điều hòa tiêu dùng bằng cách vay mượn từ

nước ngoài. Đồng thời, việc định giá cao đồng nội tệ trong phản ứng với CSTT thắt

chặt gắn liền với mất mát do định giá tỷ giá trên bảng cân đối tài sản bên ngoài của

nền kinh tế, làm tăng hiệu lực CSTT nếu nền kinh tế trường thế ngoại tệ ròng.

(iv)



Kênh giá tài sản



Hawkins & Settlement (2001) phân tích tác động của sự phát triển của các

cơng cụ và hình thức thanh tốn mới trên thị trường tài chính đối với cơ chế truyền

dẫn tiền tệ và cho rằng các hình thức tài chính điện tử ảnh hưởng đến hành vi của

các tác nhân ở chỗ họ mạnh dạn tiêu dùng và đầu tư nhiều hơn, do đó nhấn mạnh

vai trò của kênh tài sản trong việc truyền dẫn các xung động tiền tệ. Mặt khác, sự

phát triển của các cơng cụ thanh tốn mới giúp giảm đáng kể chi phí giao dịch,

khuyến khích các nhà đầu tư nhỏ hơn đầu tư trực tiếp vào thị trường chứng khốn,

có thể làm tăng tầm quan trọng của hiệu ứng giàu có trong cơ chế truyền dẫn tiền

tệ.

(v)



Kênh kỳ vọng

Những đặc điểm của một hệ thống tài chính phát triển như đa dạng các cơng



cụ tài chính, các hình thức thanh tốn, sự ra đời của hàng loạt các cơng cụ phái sinh



mở ra nhiều kênh phân phối rủi ro, sự phát triển mạnh mẽ của các trung gian tài

chính phi ngân hàng tạo ra nhiều kênh tài trợ thay thế hay mức độ hội nhập ngày

càng tăng giữa các hệ thống tài chính trong nước và tồn cầu khiến cho kỳ vọng của

công chúng về hướng tương lai của thị trường là khác biệt và khó dự đốn hơn.

Dòng vốn phản ứng với chênh lệch lãi suất và kỳ vọng về tỷ giá hối đoái làm cho

việc thực hiện CSTT để đạt được các mục tiêu trong nước cũng khó khăn hơn. Sự

tiến bộ của cơng nghệ do tác động của phát triển tài chính làm thay đổi hành vi của

người tiêu dùng bởi vì chúng cho phép người tiêu dùng phòng vệ tốt hơn trước

những tác động của biến động lãi suất (Boivin & Giannoni, 2006). Sự phát triển

này tác động đến việc quản lý kỳ vọng của thị trường trở nên khó khăn và do đó,

việc định hướng chính sách theo kỳ vọng của thị trường có thể khơng còn chính xác

(Kuang, 2008).

Tóm lại, sự phát triển nhanh chóng trong lĩnh vực tài chính làm khó khăn

thêm trong kiểm soát tiền tệ và làm cho việc giải thích các thay đổi trong biến tiền

tệ và đánh giá hiệu lực của CSTT đối với nền kinh tế phức tạp hơn. Kiểm soát tiền

tệ đang bị suy yếu bởi những khó khăn trong việc xác định và đo lường tổng lượng

tiền tệ, bởi sự bất ổn lớn hơn và khả năng không lường trước được trong cầu tiền và

quá trình cung tiền. Những thay đổi hoặc chuyển động khơng thể đoán trước

trong cầu tiền và/hoặc cung tiền làm cho việc theo đuổi mục tiêu định lượng của

chính sách trở nên khó khăn, và có thể khơng thực hiện được, đặc biệt nếu phạm vi

chính sách dưới một năm. Gắn với khung phân tích IS-LM, cả hai đường IS và LM

giờ đây khó lường hơn và ít ổn định hơn trước, và theo thời gian, độ dốc của

đường LM đang trở nên dốc hơn trong khi đường IS đang trở nên phẳng hơn. Nhìn

chung, tất cả các mối quan hệ chính giữa các biến tiền tệ (các định nghĩa khác nhau

về tiền, tín dụng và lãi suất) và giữa các biến tiền tệ và phi tiền tệ (ví dụ tiền và

hoạt động kinh tế, tiền tệ và giá cả, lãi suất và hoạt động kinh tế, v.v) đang trải qua

những thay đổi đáng kể. Do đó, những khó khăn gây ra bởi quá trình PTTC đối với

việc đạt được mục tiêu CSTT là nghiêm trọng cho tất cả các biến tiền tệ (Akhtar,

1983).

Cuối cùng, những tác động tiềm năng của phát triển tài chính đến hiệu lực

truyền dẫn CSTT được tổng hợp ở bảng 2.1, trong đó các khía cạnh phát triển tài

chính có thể tăng cường hoặc giảm thiểu vai trò của các kênh truyền dẫn khác nhau.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

(ii) Kênh tín dụng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×