Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Quan tâm đến đối tượng học sinh yếu của lớp, học sinh nhút nhát...động viên các em, đưa ra những trò chơi phù hợp với các em để các em có hứng thú tham gia hoạt động.

Quan tâm đến đối tượng học sinh yếu của lớp, học sinh nhút nhát...động viên các em, đưa ra những trò chơi phù hợp với các em để các em có hứng thú tham gia hoạt động.

Tải bản đầy đủ - 0trang

2.3.11. Trò chơi số 11: “Ngắm đúng mục tiêu”

2.3.12.Trò chơi số 12: “Đốn ý đồng đội”

2.3.13. Trò chơi số 13: “Đuổi hình bắt chữ”

b.4. Điểm mới của sáng kiến

Góp phần đổi mới phương pháp dạy học mơn Tốn ở THCS theo phương

hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh, tăng cường hoạt

động cá thể phối hợp với học tập giao lưu. Hình thành và rèn luyện kỹ năng vận dụng

kiến thức vào thực tiễn.

Góp phần gây hứng thú học tập mơn Tốn cho học sinh, việc đưa ra trò chơi

tốn học để các em được học mà chơi, chơi mà học.Trò chơi tốn học không những chỉ

giúp các em lĩnh hội được tri thức mà còn giúp các em củng cố và khắc sâu các tri thức

đó.

Tơi chọn sáng kiến nghiên cứu này nhằm giúp học sinh nắm kiến thức mơn

Tốn ngày càng vững vàng hơn, hăng say trong các giờ học toán, nâng cao chất lượng

giảng dạy và làm nền tảng vững chắc cho các lớp trên.

Điểm mới trong việc nghiên cứu và áp dụng sáng kiến này là sự lựa chọn các

trò chơi dạy học toán phù hợp với đối tượng học sinh của từng lớp trong cấp học

THCS và qua từng dạng bài, một sáng kiến mang tính mới mẻ mà từ trước tới nay ít

được vận dụng hoặc có vận dụng thì cũng đang dừng lại mang tính hình thức, chưa

thực sự mang lại hiệu quả cao.

b.5. Những ưu điểm và nhược điểm của việc sử dụng phương pháp trò chơi trong

giờ học

 Ưu điểm

Phương pháp trò chơi trong học tập tạo nhiều cơ hội để học sinh tham gia tích

cực, chủ động vào q trình dạy theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học và được

phát triển một cách tồn diện vì:

- Là phương pháp giáo dục phù hợp với tuổi học sinh;

- Tạo được sự thích thú, hấp dẫn, khơng khí vui vẻ;

- Khi chơi học sinh sẽ bộc lộ, thể hiện mình một cách tự nhiên;

- Giúp thay đổi hình thức hoạt động và trạng thái tình cảm với việc học;

- Học sinh tiếp thu bài học một cách tích cực và tự giác;

- Tạo cơ hội giúp học sinh rèn luyện kỹ năng và củng cố kiến thức;

- Giúp học sinh phát triển tâm lí, thái độ đạo đức: có trách nhiệm cao với đồng

đội tơn trọng kỷ luật của nhóm, đội và luật chơi, giúp đỡ đồng đội…

Bằng trò chơi, việc học tập được tiến hành một cách nhẹ nhàng, sinh động; bớt

khô khan nhàm chán, học sinh được lơi cuốn vào q trình học tập một cách tự nhiêm,

hứng thú và có tinh thần trách nhiệm, đồng thời giải tỏa được những mệt mỏi, căng

thẳng trong học tập.

Qua trò chơi học sinh có cơ hội để thệ nghiệm những thái độ, hành vi. Từ đó

hình thành được ở các em niềm tin vào những thái độ, hành vi tích cực tạo ra động cơ



tốt cho những hành vi ứng xử trong cuộc sống. Học sinh được rèn luyện khả năng

quyết định lựa chọn cho mình cách ứng xử đúng đắn, phù hợp trong tình huống. Hình

thành năng lực quan sát, được rèn luyện kỹ năng nhận xét, đánh giá hành vi.

Trò chơi còn giúp tăng cường khả năng giao tiếp cho học sinh.

 Hạn chế

Trong quá trình chơi sẽ dễ gây ồn ào, làm ảnh hưởng đến các lớp khác.

Học sinh có thể ham vui thái quá kéo dài thời gian chơi làm ảnh hưởng đến các

hoạt động khác của tiết học.

Tác dụng giáo dục của trò chơi có thể bị hạn chế hay thậm chí phản tác dụng

nêú việc lựa chọn trò chơi khơng phù hợp hoặc tổ chức trò chơi khơng tốt.

3. Hiệu quả kinh tế và xã hội dự kiến đạt được

- Hiệu quả kinh tế:

Tổ chức trò chơi trong hoạt động học tập thường khá đơn giản, không tốn kém,

khơng đòi hỏi nhiều kinh phí mua sắm dụng cụ học sinh lại hứng thú trong lúc chơi

tìm kiếm kiến thức cho việc học.

Giúp các em có kỹ năng khi tham gia tích cực vào các hoạt động của nhà

trường như hoạt động trải nghiệm, hoạt động Ngoại khóa, kéo các em vào hoạt động

có ích trách xa những trò chơi ảo gây tốn kém tiền của gia đình, ảnh hưởng đến tâm

sinh lí như chơi Game, điện tử…

- Hiệu quả xã hội:

Trò chơi học tập là một loại hình hoạt động vui chơi có nhiều tác dụng trong các giờ

học của học sinh.Trò chơi học tập tạo ta khơng khí vui tươi, hồn nhiên, sinh động trong giờ

học mà còn kích thích được trí tưởng tượng, tò mò, ham hiểu biết ở trẻ.

Với những kinh nghiệm trên tôi đã góp phần nâng cao chất lượng của giờ dạy

học tốn nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung. Đồng thời tạo sự say mê hứng

thú cho học sinh khi học tốn và từ đó học sinh ngày càng u thích mơn tốn hơn

thơng qua các trò chơi học tập.

Tổ chức tốt trò chơi học tập khơng chỉ làm cho các em hứng thú hơn trong học

tập mà còn giúp các em tự tin hơn, có được cơ hội tự khẳng định mình và tự đánh giá

nhau trong học tập.

Trên thực tế những giờ dạy đan xen tổ chức chò chơi tốn học tơi thấy học sinh

rất thích thú, rất hào hứng đón nhận trò chơi và kiến thức dần dần được các em nắm

bắt thông qua các hoạt động đó một cách nhẹ nhàng và hiệu quả.

Ngồi những trò chơi đã giới thiệu ở trên, tơi còn tìm tòi, sáng tạo một số trò

chơi phục vụ cho một số mơn học khác. Việc sáng tạo tổ chức các trò chơi tuy vất vả

nhưng tơi vẫn tìm thấy niềm vui ở trong công việc và càng thấy yêu nghề hơn bởi vì

thơng qua các trò chơi, quan hệ thân thiện gắn bó giữa thầy và trò, giảm bớt áp lực đối

với học sinh, giúp các em hăng say trong học tập, khơng còn tránh né giáo viên mỗi

khi mắc sai lầm khuyết điểm... Học sinh cảm thấy mình sống hòa đồng gần gũi với tập

thể và tự giác sửa chữa những sai lầm khuyết điểm” (vì nhiều lúc giáo viên cũng tham

gia cùng chơi với học sinh). Tình cảm bạn bè giữa học sinh với học sinh ngày càng

gần gũi, gắn bó hơn. Những giờ học thoải mái, sơi nổi, hiệu quả ngày càng tăng. Chất

lượng học tập của các em ngày được nâng lên, hạn chế tình trạng học sinh tiếp thu kiến



thức một cách thụ động, trong giờ học khơng còn hiện tượng học sinh ngủ gật, uể oải

hay mất tập trung trong học tập. Không những thế mà còn giúp học sinh nhút nhát, cá

biệt hòa mình vào tập thể. Số lượng học sinh u thích mơn tốn ngày một tăng lên.

Ngồi những trò chơi trên, việc sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học cũng

giúp GV tổ chức được các trò chơi hay bằng những hình ảnh sinh động và hấp dẫn

như: Rung chng vàng, Chiếc nón kỳ diệu...đã tạo cho học sinh sự hứng thú hơn rất

nhiều trong các giờ học toán.

Dưới đây là một số bảng so sánh kết quả trước và sau khi áp dụng sáng kiến:

Bảng so sánh kết quả điều tra hứng thú học tập mơn Tốn của học sinh.

Kết quả điều tra hứng thú học tập mơn Tốn

của học sinh trường THCS

Bình

Khơng

Rất thích

Thích

thường

thích



Năm học

2016 - 2017

(151 học sinh)

Chưa thực hiện sáng

kiến

2017- 2018

(134 học sinh)

Đã thực hiện sáng kiến



SL



22



47



51



31



%



14,6



31,1



33,8



20,5



SL



35



53



28



18



%



26,1



39,6



20,9



13,4



Tôi nhận thấy rằng khi đưa các trò chơi vào các tiết học tốn khơng những giúp

các em khắc sâu kiến thức mà còn giúp các em phát triển được nhiều phẩm chất đạo

đức như tình đồn kết, thân ái, tính trung thực, tinh thần trách nhiệm.Kết quả học tập

bộ mơn Tốn được nâng lên rõ rệt:

Bảng so sánh kết quả học tập mơn Tốn của học sinh

Năm học

2016 – 2017

(151 học sinh)

Chưa thực hiện sáng

kiến

2017- 2018

(134 học sinh)

Đã thực hiện sáng kiến



Giỏi



Khá



Tb



Yếu



SL



16



42



71



22



%



10,6



27,8



47



14,6



SL



29



53



52



0



%



21,6



39,6



38,8



0



Qua kết quả đạt được như trên, tôi thấy vào đợt khảo sát giữa HKII thì số học

sinh yếu đã khơng còn, số học sinh khá giỏi tăng rõ rệt. So với những lần khảo sát

trước thì kết quả trên là rất đáng mừng. Điều đó cho thấy những cố gắng đổi mới trong

phương pháp dạy học của tôi đã có kết quả khả quan.

4. Điều kiện và khả năng áp dụng



Việc tổ chức trò chơi trong các giờ học tốn là vơ cùng cần thiết. Song khơng

nên q lạm dụng phương pháp này, ở mỗi giờ học ta chỉ nên tổ chức cho các em chơi

từ 1 đến 2 trò chơi trong khoảng từ 3 đến 5 phút. Do vậy người giáo viên cần có kỹ

năng tổ chức, hướng dẫn các em thực hiện các trò chơi thật hợp lý và đồng bộ, phát

huy được tối đa vai trò của học sinh.

Khi tổ chức trò chơi học tập nói chung và mơn tốn nói riêng, chúng ta phải

dựa vào nội dung bài học, vào điều kiện cơ sở vật chất của trường, thời gian trong từng

tiết học mà lựa chọn hoặc thiết kế các trò chơi cho phù hợp. Song để tổ chức được trò

chơi tốn học có hiệu quả đòi hỏi mỗi người giáo phải có kế hoạch, chuẩn bị thật chu

đáo cho mỗi trò chơi.

Qua việc nghiên cứu và áp dụng có hiệu quả trong bộ mơn Tốn, bản thân tơi

nhận thấy sáng kiến này có thể áp dụng rộng rãi cho một số môn học khác. Bên cạnh

những ưu điểm nói trên thì việc sử dụng các trò chơi học tập trong giờ học Tốn nói

trên còn mang tính phổ biến, tính khả thi cao: từ khâu chuẩn bị, thiết kế đến tổ chức trò

chơi đều khá dễ dàng cho cả thầy và trò, luật chơi đơn giản, gần gũi được chế biến từ

luật chơi của các trò chơi dân gian hoặc trò chơi trên truyền hình…sáng kiến có thể áp

dụng được cho nhiều đối tượng, cùng một lúc có thể nhiều người được chơi – được

học, rất phù hợp với lứa tuổi và tâm sinh lí học sinh cấp trung học cơ sở, có thể áp

dụng cho nhiều môn học, lại phù hợp với tất cả các vùng miền.

Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn

toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.

XÁC NHẬN CỦA LÃNH ĐẠO ĐƠN VỊ CƠ

SỞ



Thị trấn Me, ngày 29 tháng 4 năm 2019

Người nộp đơn



Đinh Thị Thanh Huyền



PHỤ LỤC

Phụ lục 1.

2.3.1. Trò chơi số 1: “ Chạy tiếp sức”

Chuẩn bị:

Giáo viên chia lớp thành n nhóm( Để đảm bảo trật tự trong giờ học và quản lý

học sinh thì tơi thường chọn 4 nhóm chơi), mỗi nhóm 4 học sinh, sao cho mỗi nhóm

đều có học sinh giỏi, học sinh khá, học sinh trung bình…Trong mỗi nhóm học sinh tự

đánh số từ 1 đến 4.

Giáo viên chuẩn bị 4 nội dung công việc được đánh số từ 1 đến 4. Mỗi nội dung

được phô tô thành 4 bản và cho vào một phong bì riêng.

Các cơng việc được chọn theo ngun tắc: Thực hiện công việc 1 được kết quả 1, dùng

kết quả 1 để thực hiện công việc 2, dùng kết quả 2 để thực hiện công việc 3, dùng công

việc 3 để thực hiện công việc 4.

Học sinh chuẩn bị bảng nhóm, phấn, bút dạ.

Cách chơi:

Tổ chức mỗi nhóm học sinh ngồi theo hàng dọc, hàng ngang hay vòng tròn

quanh 1 cái bàn tuỳ theo điều kiện riêng của lớp.

Giáo viên phát đề số 1 cho học sinh số 1 của các nhóm, đề số 2 cho học sinh số 2 ….

Khi có hiệu lệnh, học sinh số 1 của các nhóm nhanh chóng mở đề số 1, giải rồi

chuyển giá trị x tìm được cho bạn số 2 của nhóm mình. Khi nhận được giá trị x đó, học

sinh số 2 mới được phép mở đề, thay giá trị của x vào, giải phương trình để tìm y rồi

chuyển đáp số cho bạn số 3 của nhóm mình. Học sinh số 3 cũng làm tương tự … Học

sinh số 4 chuyển giá trị tìm được của t cho giáo viên.

Thời gian chơi được quy định trước (nên từ khoảng 1- 3phút), đội nào xong

trước là đội giành chiến thăng về mặt thời gian, khi hết giờ chơi giáo viên ra hiệu

lệnh dừng cuộc chơi. Giáo viên và cả lớp cùng đánh giá, cho điểm, đội chiến thắng là

đội hết ít thời gian mà có kết quả tốt nhất.

Tác dụng:

Trò chơi này giúp các em rèn tính độc lập, tự tin, bình tĩnh trong các tình huống

có thể bị rối (đức tính này rất cần thiết khi học sinh làm bài thi hoặc kiểm tra).

Rèn luyện tính trách nhiệm, ý thức tập thể cho học sinh, rèn sự nhanh nhạy,

chính xác.

Thay vì dùng phương pháp thảo luận nhóm nhỏ thơng thường thì trò chơi

“Chạy tiếp sức”sẽ giúp học sinh thảo luận nhóm một cách nhẹ nhàng, hiệu quả, khơng

bị gò ép, rập khn. Nhờ sự “tiếp sức” của mỗi thành viên, nhất là sự đóng góp, diễn

giải của những học sinh tích cực, học sinh khá-giỏi, các em học sinh trung bình, yếu,

kém sẽ có thêm cơ hội để nắm bắt kiến thức đã học, có cơ hội để được làm việc, được

hoạt động nhiều hơn.

Trò chơi này rất dễ chuẩn bị, dễ chơi, áp dụng được cho nhiều bài.Thường sử

dụng cho các hoạt động củng cố, luyện tập.

Áp dụng:



Ví dụ 1: Khi dạy tiết 16 “Ơn tập chương I -Đại số 9” để giúp học sinh hệ thống

kiến thức của chương, tơi đã cho học sinh chơi trò chơi với yêu cầu sau:

Điền biểu thức thích hợp vào chỗ trống (…) dưới đây:



TT

1

2

3

4

5



Nhóm (tên nhóm)

 x 0

 x = ..... (với a ≥ 0)

 2

 x a

AB = …. (với A≥ 0 và B≥ 0)

A 2 = ….....



A = …… (với A≥ 0 và B> 0)

B

A 2 .B =......... (với B≥ 0)



6



A B = .....

A B = .....



7



A

= ...

B



(Với A 0 và B 0)



Nhóm (tên nhóm)

A 2 = …….

A 2 .B =.......... (với B≥ 0)

 x 0

 x = ..... (với a ≥ 0)

 2

x



a



A B = .....

(Với A 0 và B 0)



A B = .....

A

= ...

B



AB = ….



(Với A< 0 va B 0)

(với AB ≥ 0 và B ≠ 0)

(với A≥ 0 và B≥ 0)



(Với A< 0 và B 0)

(với AB ≥ 0 và B ≠ 0)



A

= ...

B



(với A ≥ 0 và B > 0)



Ví dụ 2: (Cho tiết 46 Đại số 8 – Luyện tập)

Phong bì 1: Giải phương trình 2  x – 2   1  x  1 .

Phong bì 2: Thế giá trị x (bạn số 1 vừa tìm được) vào rồi tìm y trong phương

trình  x  3 y  x  y .

Phong bì 3: Thế giá trị của y (bạn số 2 vừa tìm được) vào rồi tìm z trong phương

trình



1

3z  1

3y 1

+

=

3

6

3



Phong bì 4: Thế giá trị của z (bạn số 3 vừa tìm được) vào rồi tìm t trong phương

1 2

 t  t  , với điều kiện t > 0.

3

Sau khi học sinh hoàn thành, nộp kết quả. Giáo viên chiếu đề bài và đáp án lên

màn hình. Cụ thể:

- Bạn số 1 giải phương trình 2  x – 2   1  x  1 được tập nghiệm là S   2 .

2

trình z  t  1 



- Bạn số 2 thế giá trị x  2 bạn số 1 vừa tìm được vào phương trình

 x  3 y  x  y và tìm y.

Ta có:  2  3 y  2  y � y  0, 5 .



- Bạn số 3 thế giá trị y  0,5 bạn số 2 vừa tìm được vào phương trình

1

3z  1

3y 1

+

=

và tìm z.

3

6

3



1

3



Ta có : 



3 z  1 3.0,5  1

2



�z .

6

3

3



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Quan tâm đến đối tượng học sinh yếu của lớp, học sinh nhút nhát...động viên các em, đưa ra những trò chơi phù hợp với các em để các em có hứng thú tham gia hoạt động.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×