Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
II. TÁC GIẢ CỦA SÁNG KIẾN

II. TÁC GIẢ CỦA SÁNG KIẾN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong tập luyện

bơi tự cứu đuối nước cho học sinh Tiểu học.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo báo cáo của tổng Cục thống kê về phòng chống tai nạn thương tích

trẻ em ở Việt Nam cho thấy, trung bình mỗi năm có khoảng 7.300 trẻ nhỏ và trẻ

vị thành niên tử vong do tai nạn thương tích và ngày càng có xu hướng gia tăng

(năm sau thường cao hơn năm trước), trong đó tai nạn đuối nước là nguyên nhân

hàng đầu, chiếm 48,8%. Tỷ lệ chết đuối ở trẻ em nước ta cao gấp 10 lần các

nước phát triển. 70% trẻ chết đuối và suýt chết đuối ở lứa tuổi dưới 15. Có 53%

các trường hợp chết đuối xảy ra khi trẻ em chơi gần ao hồ, sơng suối, kênh

mương khơng có sự bảo vệ của người lớn. Ðây thực sự là tình trạng đáng báo

động, bởi hầu hết trẻ bị đuối nước là do sự bất cẩn của cha mẹ và người chăm

sóc trẻ. Ngồi ra còn do mơi trường xã hội tiềm ẩn nhiều rủi ro nhưng chưa có

biện pháp can thiệp, trẻ chưa được dạy kỹ năng phòng tránh, kiến thức sơ cứu còn

hạn chế,… Hằng năm, số trẻ đuối nước khá phổ biến và diễn ra khắp nơi, nhất là

ở vùng sông nước.

Từ tháng 4/2016 trở lại đây, những vụ đuối nước thương tâm như vụ 9 em

học sinh tắm sông tại Quảng Ngãi thiệt mạng đã khiến cho những bậc làm cha

mẹ khơng khỏi xót xa. Hay như mới đây nhất, là vụ lật tàu du lịch trên sông Hàn

6/2016 đã cướp đi sinh mạng của 2 chị em ruột cháu Trịnh Kim Phượng (7 tuổi)

và Trịnh Tiến Huy (4 tuổi) quê ở Bắc Kạn…

Năm 2017, theo kết quả điều tra của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc tại Việt Nam

(UNICEF), trung bình mỗi năm ở Việt Nam có khoảng trên 7.000 trẻ em bị chết

đuối (chiếm tỷ lệ 22,6% tai nạn thương tích), đứng sau tỷ lệ tử vong do tai nạn

giao thông là 26,7%.

Theo thống kê từ Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Hòa Bình, chỉ

trong tháng 4 - 5/2018, tồn tỉnh đã xảy ra 7 vụ đuối nước, làm 8 người tử vong

tại các huyện: Đà Bắc, Kỳ Sơn, Lạc Sơn, Lương Sơn. Tất cả nạn nhân của các

vụ đuối nước xảy ra từ đầu năm đến nay đều là trẻ em sinh các năm 2003, 2005,

2006, 2007, 2010, 2014, 2016. Tại Đắk Lắk, theo thống kê của Sở Lao động Đinh Tuyết Mai



2



Trường tiểu học Khánh Phú



Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong tập luyện

bơi tự cứu đuối nước cho học sinh Tiểu học.

Thương binh và Xã hội tỉnh này, trong 2 năm 2016 – 2017, tồn tỉnh có 2.046 trẻ

em bị tai nạn thương tích, trong đó có 112 em tử vong. Tử vong do đuối nước là

97 trường hợp, chiếm gần 86% trẻ em tử vong do tai nạn thương tích. Phần lớn

các vụ đuối nước xảy ra từ trẻ 10 đến 14 tuổi, nhiều vụ việc thương tâm xảy ra

làm 2 đến 3 em ra đi cùng một lúc.

Còn trên địa bàn tỉnh Gia Lai, trong gần 6 tháng đầu năm 2018, đã có 27 trường

hợp do đuối nước, trong đó đa số là học sinh. Những trường hợp đuối nước trên

có điểm chung là thường gặp nạn ở các ao, hồ do người dân đào để phục vụ tưới

hoa màu.

Nghỉ hè luôn là thời điểm được các bạn học sinh, sinh viên háo hức chờ

đợi, bởi đây là thời gian các bạn tạm gác lại chuyện đèn sách để vui chơi thỏa

thích, tự thưởng cho mình bằng những chuyến du lịch khám phá thiên nhiên, học

hỏi cuộc sống thực tế qua các chuyến tham quan dã ngoại… sau một năm nỗ lực

phấn đấu học tập. Còn gì sảng khối khi được tắm và ngâm mình trong dòng

nước mát lạnh vào những buổi trưa hè nóng nực để quên đi những lo toan muộn

phiền trong cuộc sống. Tuy vậy, đơi lúc vì q mải mê vui chơi hoặc thiếu trang

bị kiến thức về đuối nước đã dẫn đến một số tai nạn đáng tiếc.



Đuối nước là một trong những nguyên nhân thương tích gây tử vong hàng đầu ở trẻ em.



Vậy đuối nước là gì?

Theo tổ chức y tế thế giới, đuối nước là hiện tượng mà khí quản của người

lớn hay trẻ nhỏ bị một chất lỏng (thường là nước) xâm nhập vào dẫn tới khó thở.

Đinh Tuyết Mai



3



Trường tiểu học Khánh Phú



Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong tập luyện

bơi tự cứu đuối nước cho học sinh Tiểu học.

Hậu quả của ngạt thở lâu có thể là tử vong (chết đuối) hoặc không tử vong,

nhưng gây tổn hại nghiêm trọng cho hệ thần kinh. Ngồi ra, cũng có quan niệm

ngắn gọn hơn, đuối nước là tình trạng thiếu oxy do cơ thể bị chìm trong nước.

Nguyên nhân gây đuối nước:

- Đuối nước hay xảy ra đối với trẻ lớn tuổi do bản tính hiếu động, tò mò;

đối với trẻ nhỏ do tính thích nghịch nước hoặc do sự bất cẩn của gia đình. Cho

dù trẻ em khơng biết bơi lội hay biết bơi lội nhưng do sự chủ quan nên cũng

không lường trước hết được sự nguy hiểm của tai nạn. Ngồi ra, mơi trường

sống chung quanh cũng ln ln có những yếu tố nguy cơ rình rập gây nên tai

nạn đuối nước cho trẻ em như chậu nước, chum vại, bể nước, giếng nước...

khơng có nắp đậy an tồn; sơng, hồ, suối, ao nước... khơng được rào chắn và

khơng có biển báo nguy hiểm. Hơn nữa, tình trạng xây dựng các cơng trình, đào

bới khai thác cát, đất đá tràn lan, sự vô ý thức của con người... đã để lại các hố

ao sâu gây nguy hiểm như hố vôi tơi, hố lấy đất làm gạch ngói, hố lấy cát, hố lấy

nước tưới hoa màu… khơng có hàng rào cũng là những nơi dễ gây nên tai nạn

đuối nước.

- Tai nạn do đuối nước có thể xảy ra trong các trường hợp: ngạt nước,

những người không biết bơi ngã xuống nước, hoặc trẻ em ngã cắm đầu vào chậu

nước hay bồn tắm; ngất đột ngột khi vừa tiếp xúc với nước; lặn sâu dưới nước

khi hết hơi không ngoi lên kịp bị ngạt; bơi quá mệt, cơ thể mất nhiệt do nước

lạnh, bị chuột rút rồi ngất đi…

- Ngoài ra, phải kể đến một thực trạng: đó là khi các em cứu lẫn nhau, do

chưa có kiến thức trong việc cấp cứu, sơ cứu người bị chết đuối, dẫn đến tình

trạng số lượng trẻ bị chết đuối tăng lên.

- Trẻ em chết đuối vì người lớn lơ là đuối nước đang gia tăng trong cộng

đồng do nhiều nguyên nhân như mơi trường khơng an tồn, người lớn chưa giám

sát trẻ một cách chặt chẽ, kiến thức phòng tránh, sơ cứu của người dân còn hạn

chế, nhiều trẻ khơng biết bơi,…

Đinh Tuyết Mai



4



Trường tiểu học Khánh Phú



Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong tập luyện

bơi tự cứu đuối nước cho học sinh Tiểu học.

- Thơng thường thì gia đình là nơi trẻ em được bảo vệ tốt nhất, nhưng một

thực tế là hiện nay nhiều gia đình chưa quan tâm, quản lý và giám sát trẻ đúng

mức. Đây cũng là chính là yếu tố khiến tỷ lệ tai nạn đuối nước ngày càng tăng.

Nước ta là khu vực có rất nhiều sơng, suối, giếng, ao, hồ, hệ thống kênh

rạch chằng chịt, là mơi trường khơng an tồn đối với trẻ nhỏ. Ngay cả những

dụng cụ chứa nước trong gia đình như bể, lu, vại,… khơng có nắp đậy cũng gây

nguy hiểm cho trẻ. Chỉ một vài giây lơi lỏng của người lớn là trẻ em có thể rơi

xuống ao, hồ, sơng, suối, giếng nước,… và có thể bị ngạt và chết đuối chỉ sau 2

phút rơi xuống nước.

Do vậy việc hướng dẫn tập bơi tự cứu là việc làm cần thiết, cấp bách cho

trẻ em nói chung và học sinh tiểu học nói riêng.

Tập luyện Bơi lội tự cứu đuối nước thường xuyên, đúng phương pháp

khoa học góp phần bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho HS, thúc đẩy sự phát

triển các tố chất thể lực, đặc biệt là các tố chất vận động (sức nhanh, sức mạnh,

sức bền, độ mềm dẻo, tính khéo léo). Tập luyện bơi tự cứu giúp học sinh có khả

năng tự cứu đuối tốt hơn, nâng cao thành tích bơi lội phát rõ rệt.

Vậy để rèn luyện sức khỏe, phát triển kĩ thuật và nâng cao thành tích bơi,

đồng thời phòng chống đuối nước cho trẻ em chúng ta nên sử dụng những bài

tập gì và vận dụng chúng như thế nào vào phương pháp dạy bơi tự cứu?

Để giải quyết vấn đề này tôi đưa ra: “Một số biện pháp nhằm nâng cao

hiệu quả trong tập luyện bơi tự cứu đuối nước cho học sinh Tiểu học”, với

mong muốn là giúp cho học sinh có kĩ năng, phương pháp rèn luyện, thực hành

kĩ năng bơi . Qua đó, giúp cho học sinh nắm vững được kĩ thuật bơi tự cứu để có

thể phòng chống đuối nước mọi lúc mọi nơi một cách khoa học và bền vững.



IV. NỘI DUNG SÁNG KIẾN

Đinh Tuyết Mai



5



Trường tiểu học Khánh Phú



Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong tập luyện

bơi tự cứu đuối nước cho học sinh Tiểu học.

A. GIẢI PHÁP CŨ THƯỜNG LÀM



1. Giải pháp đã thực hiện

Hiện nay việc phòng chống đuối nước đã và đang được sự quan tâm của lãnh

đạo ngành, trường và đa số phụ huynh học sinh nên cơ sở vật chất trang thiết bị

đã có sự đầu tư nhằm phục vụ cho việc tổ chức lớp bơi, cùng với sự nhiệt tình

của một số giáo viên và sự yêu thích, đam mê bơi lội của học sinh là điều kiện

thuận lợi cho việc tổ chức phổ cập bơi.

Trong những năm học trước bản thân tôi đã thực hiện những giải pháp:

* Triển khai các bài học lý thuyết về bơi lội, phòng chống đuối nước và các

tai nạn thương tích trong cuộc sống:

+ Khuyến cáo các bạn học sinh không nên chơi đùa gần ao, hồ, sông



suối, những nơi tiềm ẩn rủi ro đuối nước.

+ Chỉ bơi ở những nơi có người và phương tiện cứu hộ, tuân thủ các

quy định của bể bơi, khu vực bơi.

+ Khi đi tắm biển hay sông, người biết bơi hay không cũng chỉ nên

tắm gần bờ, đặc biệt là ở biển, vì dù biết bơi cũng rất khó để bơi do sóng

biển đánh liên tục. Nhiều người thường nằm trên phao khi tắm biển. Điều

này cũng khá nguy hiểm vì bạn sẽ dễ bị cuốn ra xa mà khơng biết, nhiều

khả năng bạn sẽ bị sóng đánh úp, những cơn sóng dồn dập khiến bạn

khơng biết xử lý như thế nào và sẽ bị uống nước nhiều, mất sức.

+ Chấp hành tốt các quy định về an toàn khi tham gia các phương tiện

giao thông đường thủy như mặc áo phao.

* Cho học sinh học các động tác kỹ thuật mô phỏng trên sân tập nhà

trường.



Đinh Tuyết Mai



6



Trường tiểu học Khánh Phú



Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong tập luyện

bơi tự cứu đuối nước cho học sinh Tiểu học.

* Lồng ghép, tích hợp các nội dung bơi lội phòng chống đuối nước; An

tồn giao thơng; Bảo vệ môi trường; Kỹ năng sống vào trong từng tiết

học.

* Tổ chức các lớp học thực hành bơi vào dịp hè. Vào cuối năm học tổ

chức phát phiếu cho các em có nhu cầu có thể xuống hồ bơi gần trường học

các lớp thực hành bơi từ phổ tu đến nâng cao vào các ngày trong tuần

2. Ưu nhược điểm của các giải pháp

* Ưu điểm:

- Dễ xếp tiết, dễ quản lý cho giáo viên và học sinh.

- Dễ lồng ghép kiến thức vào các tiết học.

- Có thể linh động về thời gian

- Học sinh có thể nắm được cơ bản về lý thuyết phòng chống đuối nước và

các tai nạn thương tích thường gặp trong cuộc sống

* Nhược điểm:

+ việc học bơi tự cứu đuối nước chỉ được lồng ghép trong chương trình mơn

thể thao tự chọn và chỉ giới hạn trong những khoảng thời gian ngắn. Học sinh

chỉ được học các động tác kỹ thuật mô phỏng trên sân tập nhà trường. Thời gian

dạy môn bơi trong các nhà trường phụ thuộc vào thời tiết, khí hậu. Ở miền Bắc,

thường chỉ thực hiện việc dạy bơi từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 10 hàng năm.

+ Trong q trình lên lớp, giáo viên vẫn còn thực hiện các bước lên lớp một

cách cứng nhắc, tuần tự đi từ bước này sang bước khác, làm cho giờ học chưa

hứng thú, nhàm chán, nặng nề. Trong các giờ học thực hành bơi, g iáo viên

chỉ động viên phụ huynh đưa trẻ đến các bể bơi để được chơi, tiếp xúc và làm

quen với nước. Chỉ một số ít học sinh được gia đình cho đi học bơi của các huấn

Đinh Tuyết Mai



7



Trường tiểu học Khánh Phú



Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong tập luyện

bơi tự cứu đuối nước cho học sinh Tiểu học.

luyện viên tại bể bơi. Chính vì thế mà tỷ lệ học sinh được thực hành và biết bơi

là rất thấp.

+ Trên địa bàn huyện nhà có rất nhiều sơng hồ nhưng lại khơng có rất ít hồ

bơi để các em vui chơi, tập luyện và thực hành những kỹ thuật đã học. Môn bơi

lội lại khơng phải là mơn học chính khố và các trường khơng có đủ điều kiện

vật chất để giảng dạy vì thế mà phong trào tập luyện chưa thường xun, khơng

có hệ thống bài bản và phương pháp cần thiết để hỗ trợ môn bơi lội này.

+ Cũng từ khó khăn về cơ sở vật chất dẫn tới số lượng học sinh tham gia tập

luyện môn bơi là rất ít, mặc dù rất muốn tham gia nhưng lại không được phép

của Cha, mẹ vì sợ nguy hiểm đến tính mạng mà vì thế phong trào tập luyện hầu

như khơng có chỉ khi thi đấu mới tập luyện vì thế chưa có nhiều hạt nhân chủ

chốt khi tham gia các cuộc thi.

+ Điều kiện tập luyện chưa đảm bảo, trang thiết bị, đồ dùng dạy học mơn

thể dục nói chung và phân mơn bơi tự cứu đuối nước nói riêng còn ít nên hạn

chế trong tập luyện của các em cũng như trong công tác giảng dạy của GV.



+ GV chưa phân hóa đối tượng học sinh. Giữa các em khối 1,2 khối 3,4

và khối 4,5 đặc điểm tâm lí, cơ thể khác nhau như thế nào để đưa ra biện

pháp luyện tập phù hợp.

+ Đối với học sinh khối 1,2,3 khơng có tiết thể thao tự chọn nên khó

sắp xếp được lồng ghép nội dung bơi vào các tiết dạy

+ Học sinh chưa thấy rõ tầm tầm quan trọng của việc học b ơi tự cứu nên

chưa chủ động, tập trung, tích cực, tự giác học tập.

+ Nhà trường lại chưa có bể bơi để chủ động cho học sinh thực hành Bơi lội

tự cứu đuối nước. Số lượng học sinh có điều kiện học thêm thực hành tại hồ bơi

còn hạn chế.

B. GIẢI PHÁP MỚI CẢI TIẾN



1. Làm tốt công tác tuyên truyền dạy bơi cho học sinh

Mặc dù đứng trước thực tế khó khăn đó nhưng những năm qua, ngành

GD&ĐT luôn quan tâm chỉ đạo đẩy mạnh cơng tác phòng chống đuối nước cho

trẻ em và cơng tác dạy bơi ở các nhà trường. Song song với việc tích cực tham

Đinh Tuyết Mai



8



Trường tiểu học Khánh Phú



Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong tập luyện

bơi tự cứu đuối nước cho học sinh Tiểu học.

mưu cho các cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản, chỉ thị hướng dẫn và

triển khai thực hiện việc dạy bơi, tăng cường phòng chống đuối nước trẻ em

trong nhà trường, ngành GD&ĐT đã quán triệt sâu sắc đến toàn thể các đơn vị

giáo dục, học sinh, phụ huynh về hướng dẫn của Bộ GD&ĐT và các văn bản,

chỉ thị của UBND tỉnh, huyện về tăng cường phòng, chống đuối nước trong nhà

trường. Hàng năm, ngành GD&ĐT đều tổ chức tập huấn về cơng tác phòng

chống đuối nước cho giáo viên và học sinh các nhà trường theo từng cấp học; tổ

chức các giải bơi cho học sinh các trường trung học phổ thông nhằm phát hiện,

bồi dưỡng những học sinh có năng khiếu để làm nòng cốt cho các nhà trường,

đồng thời, chọn học sinh vào đội tuyển tham dự các giải bơi do cấp huyện, tỉnh

tổ chức.

Cùng với nhà trường, các cấp, các ngành, đồn thể chính quyền địa

phương tuyên truyền cho phụ huynh học sinh thấy được tầm quan trọng, lợi ích

của việc học bơi của con em mình để cha mẹ học sinh cùng vào cuộc, tạo mọi

điều kiện và tích cực phối hợp với nhà trường, giáo viên trong việc tổ chức dạy

bơi cho học sinh.

Bên cạnh đó tơi đã tích cực làm cơng tác xã hội hóa tranh thủ sự trợ giúp

của doanh nghiệp đóng trên địa bàn xã đặc biệt là doanh nghiệp Đỗ Xuân Thuội

nơi có bể bơi hỗ trợ một phần kinh phí và tạo điều kiện bố trí dành nhiều thời

gian luyện tập hợp lý cho học sinh thực hành tại bể bơi.

Khuyến khích động viên học sinh, cha mẹ học sinh đăng kí các lớp học

bơi trong hè để tăng cường sức khỏe, rèn luyện kĩ năng bơi cho các em.

2. Chú trọng hướng dẫn kỹ thuật động tác “Bơi tự cứu”

- Yêu cầu HS biết các động tác và thực hiện các động tác ở mức độ tương

đối chính xác và biết vận dụng trong giờ học thể dục, sinh hoạt ở trường cũng

như thực hành tại bể bơi.

- Trước hết giáo viên cần hướng dẫn kỹ thuật các bước bơi tự cứu chính

xác, ngắn gọn dễ hiểu và đầy đủ. Cụ thể:



Đinh Tuyết Mai



9



Trường tiểu học Khánh Phú



Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong tập luyện

bơi tự cứu đuối nước cho học sinh Tiểu học.

- Điều đầu tiên dạy cho học sinh sự khác biệt cơ bản của môi trường nước

và môi trường khơng khí, sự khác biệt của hệ hơ hấp, cơ chế vận động của hai

mơi trường.

Thứ nhất: Bình tĩnh mở mắt, nín thở để phổi khơng bị sặc nước, dùng

bàn tay kết hợp lòng bàn chân phẩy để đẩy người nổi lên. Sau khi lên hít một hơi

bằng miệng sau đó từ từ thở ra bằng mũi. Mắt quan sát nhanh phương hướng

thuận lợi nhất để có thể di chuyển vào bờ an toàn.

Thứ hai: Tiếp tục thả lỏng người để nước đẩy lên sát mặt nước trở về tư

thế bập bênh bán an toàn, đầu nổi sát mặt nước, chân ở phía nước sâu. Thực chất

đây là thả nổi nhờ lực đẩy nổi Archimedes của nước, nhớ rằng bình tĩnh thì nổi,

hoảng loạn thì chìm.

Thứ ba: Dùng tay làm mái chèo, chân làm bánh lái quạt nước đẩy đầu

nhô khỏi mặt nước hoặc cũng có thể quạt nước xiên, đẩy người bơi đi dễ dàng

bởi trong nước người trở nên nhẹ hơn so với trên cạn. Hạn chế tối đa lực cản của

nước bằng các kỹ thuật cơ bản. Các hoạt động pải nhịp nhàng tránh loạn xạ để

lực đẩy và lực cản không triệt tiêu nhau dẫn đến không di chuyển được hoạc di

chuyển chậm.

Thứ 4: Khi đã lên bờ an toàn cần vệ sinh cơ thể sạch sẽ tránh bệnh tật, giữ

ấm và khơ thống cơ thể. Nếu thấy sức khỏe không tốt cần báo cáo với nhà

trường hoặc gia đình để được kịp thời thăm khám tại các cơ sở y tế.

3. Hướng dẫn học sinh tự tập luyện trước kỹ thuật “Bơi tự cứu”

- Tự tập luyện trước kỹ thuật “Bơi tự cứu” thế nào?

Trước hết là chữa bệnh sợ nước và học cách thở cho học sinh với nguyên

tắc: Trên mặt nước há to miệng hít vào, còn dưới mặt nước, thở ra từ từ bằng

mũi. Có thể tập trên cạn - khơng có nước, hoặc có thể úp mặt vào chậu nước để

tập. Lưu ý là học sinh dưới 15 tuổi chỉ được tập thở với chậu nước khi có người

lớn trơng coi, giám sát.

Tiếp đó, học cách nín thở dưới nước, cũng với một chậu nước nhỏ. Có thể

tập thở khi tắm sen, khi dội nước lên đầu.

10

Đinh Tuyết Mai



Trường tiểu học Khánh Phú



Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong tập luyện

bơi tự cứu đuối nước cho học sinh Tiểu học.

Với “Bơi tự cứu” thì chân (tay) chỉ cần đạp hay quạt nước nhẹ nhàng, cốt

giữ cho phần đầu, miệng có lúc nào đó nhơ khỏi mặt nước để thở là được. “Bơi

tự cứu” vì thế khơng tốn sức và gần với thả nổi nhiều hơn.

- Tại sao lại nên học bơi tự cứu trên cạn chứ không phải dưới nước?

Đầu óc con người khó có thể tập trung làm tốt nhiều việc cùng lúc, vì vậy

với bao động tác cần thực hiện cùng lúc để khơng bị chìm, bị sặc đã làm cho

việc học bơi dưới nước trở nên quá khó đối với nhiều người. Tập trung vào thở thì

quên mất tay nên quạt thế nào; tập trung được vào tay thì lại quên chân, quên thở.

Học bơi trên cạn có thể chia các động tác, kỹ năng bơi thành các mảnh nhỏ,

rất nhỏ để tập tuần tự đến “nhuyễn” rồi lắp ghép chúng từng bước với nhau. Tập

thành thạo thở, quạt tay, đập chân, rồi ghép thở với tay, thở với chân, tay với

chân... và cuối cùng thành một vũ điệu của Thở - Tay - Chân trên cạn. Việc phát

hiện, chỉnh sửa các động tác sai khi tập trên cạn cũng dễ hơn dưới nước rất nhiều.

4. Quan tâm đến việc thực hành bơi dưới nước

* Tập thở

Hướng dẫn học sinh phải học điều khiển hơi thở, làm quen với việc chìm

xuống nước, khơng sợ nước. Sau đó, học cách thực hành hoạt động tay và chân,

phải nín thở, thả lỏng cơ thể, tự khắc người sẽ nổi lên. Xuống nước và nín thở,

thả lỏng cơ thể hồn tồn.

Kỹ năng cơ bản của việc hít thở dưới nước

- Chìm xuống và thở ra dưới nước (trước khi chìm xuống nước cần hít

một hơi thật sâu, sau đó chìm xuống, thở từ từ ra bằng mũi (nhả bong bóng ra từ

mũi).

- Nổi lên khỏi mặt nước, hít vào bằng miệng (cần phải hít thở thật nhanh

để có nhiều ô xy hơn).



Đinh Tuyết Mai



11



Trường tiểu học Khánh Phú



Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong tập luyện

bơi tự cứu đuối nước cho học sinh Tiểu học.



Thở ra bong bóng bằng mũi dưới nước, hít vào bằng miệng trên không

* Thực hành kỹ thuật tay đơn giản (tay bơi kiểu ếch).

+ Nhịp 1: Hai tay khép sát vào thân, các ngón tay khép vào nhau, hai lòng

bàn tay ép vào nhau vị trí bàn tay trước và sát ngực.

+ Nhịp 2: Thẳng hai tay từ ngực qua trán và duỗi về phía trước, lòng bàn

tay hướng xuống dưới.

+ Nhịp 3: Dùng hai lòng bàn tay kéo nước từ trên xuống dưới vòng đều

hai bên.

+ Nhịp 4: thu tay về nhịp 1(lưu ý hạn chế tối đa sự cản nước khi thu tay).

Lặp lại liên tục như vậy cho đến khi thành thục. Các em có thể làm như

vậy khi ở trên bờ hay khi xuống nước. Cách tập cánh tay này cần dùng lực mạnh

một chút. Khi tay duỗi nên thẳng với thân, ép sát vào thân thì mới đủ lực để đẩy

cơ thể về phía trước.

* Thực hành bơi chân

+ Nhịp 1: Hai chân duỗi thẳng, hai mũi chân duỗi thẳng.

+ Nhịp 2: Hai chân khép sát đồng thời duỗi thẳng mũi chân khi co.

+ Nhịp 3: Mở hai mũi chân ra hai bên đồng thời mở gối ra hai bên dùng

lòng bàn chân dạp nước.

+ Nhịp 4: Khép hai chân về tư thế của nhịp 1.

* Kết hợp bơi với bàn tay và bàn chân

Khi học sinh đã tập được cách bơi tay và chân riêng lẻ một cách thành

thục, trong vòng tối thiểu 30 phút cho mỗi bài tập, có thể tập kết hợp sau khi

chắc chắn rằng tay và chân đã làm đúng nhiệm vụ của mình.

Đinh Tuyết Mai



12



Trường tiểu học Khánh Phú



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

II. TÁC GIẢ CỦA SÁNG KIẾN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×