Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chương 3

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ

HOẠT ĐỘNG MƠI GIỚI CHỨNG KHỐN CỦA

CƠNG TY CHỨNG KHỐN Ở VIỆT NAM

3.1. Định hướng phát triển hoạt động môi giới chứng khốn của cơng ty

chứng khốn và hồn thiện pháp luật về hoạt động mơi giới chứng khốn của

cơng ty chứng khoán ở Việt Nam

3.1.1. Định hướng phát triển hoạt động mơi giới chứng khốn của cơng ty

chứng khốn ở Việt Nam

3.1.1.1. Phát triển hoạt động môi giới chứng khoán để thu hút các nhà đầu

tư đầu tư vào thị trường chứng khốn

TTCK đi vào hoạt động đã góp phần hồn thiện cơ cấu của thị trường tài

chính và tạo ra một kênh huy động vốn dài hạn cho đầu tư phát triển, góp phần đẩy

mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Để TTCK dần khẳng định và trở

thành kênh huy động vốn quan trọng của nền kinh tế thì hoạt động MGCK có vai

trò rất quan trọng trong việc thu hút các NĐT đầu tư vào TTCK mang lại nguồn vốn

lớn của cả trong và ngoài nước vào TTCK Việt Nam.

Tâm lý của NĐT có tác động không nhỏ đến sự phát triển bền vững của TTCK.

Một trong những yếu tố tác động không nhỏ đến tâm lý của các NĐT vào TTCK đó chính

là hoạt động MGCK. Do vậy, để thu hút các NĐT thì hoạt động MGCK cần phải phát triển

mạnh mẽ, nâng cao năng lực môi giới, tạo dựng được niềm tin đối với các NĐT.

Vì vậy, trong thời gian tới để phát triển hoạt động MGCK cần hướng tới sự

chuyên nghiệp trong hoạt động môi giới gắn liền với việc tạo dựng niềm tin cho các

NĐT khi đầu tư vào TTCK.Điều này đòi hỏi người hành nghề chứng khốn trong

nước buộc phải nâng cao trình độ nghiệp vụ để cạnh tranh được với những người

hành nghề chứng khốn nước ngồi và có thể phục vụ, thu hút nhà ĐTNN đầu tư

vào TTCK Việt Nam. Ngồi ra, cần đa dạng hóa các sản phẩm chứng khoán, các sản

phẩm liên kết đầu tư, sản phẩm cơ cấu; triển khai các sản phẩm chứng khoán phái



92



sinh hợp đồng tương lai trên một số chỉ số mới và hợp đồng tương lai TPCP; triển

khai sản phẩm chứng quyền có bảo đảm; phát triển thêm các chỉ số cơ sở để làm tài

sản cơ sở cho phái sinh.

3.1.1.2. Phát triển hoạt động mơi giới chứng khốn của cơng ty chứng khốn

đáp ứng xu thế hội nhập và tồn cầu hóa

Xu thế tồn cầu hố và hội nhập là một đặc trưng cho sự phát triển kinh tế

thế giới thế kỷ 21. Cho nên nước ta một mặt chủ động hội nhập, mặt khác cũng chịu

sự tác động mạnh mẽ của xu thế hội nhập và toàn cầu hóa. Điều này có nghĩa là, các

quan hệ xã hội mang tính quốc tế, có yếu tố nước ngồi ở nước ta ngày càng nhiều,

phong phú, phức tạp. Trong bối cảnh mở cửa, hội nhập thì việc các tổ chức, cá nhân

nước ngồi vào Việt Nam với những mục đích khác nhau ngày càng nhiều và đa

dạng. Do đó, việc phát sinh các quan hệ xã hội trong hoạt động về MGCK đối với

các NĐT nước ngoài vào Việt Nam, hay các NĐT từ Việt Nam ra nước ngoài là

điều khơng tránh khỏi.

Việc có điều kiện tham gia nhiều các tổ chức quốc tế: Một mặt, giúp chúng ta

có điều kiện bắt nhịp xu hướng phát triển chung của thế giới; mặt khác, đòi hỏi

chúng ta phải theo những quy chuẩn chung của các nước đã phát triển vì vậy người

MGCK cũng cần nâng cao năng lực bản thân để khơng chỉ là những người MGCK

trong nước mà còn là những người MGCK quốc tế. Cùng với đó, đòi hỏi hoạt động

MGCK của CTCK ở Việt Nam cần phải nâng cao, đổi mới và hồn thiện để có thể

thực hiện được đầy đủ và nghiêm chỉnh những cam kết quốc tế. Từ đó thể thực hiện

hoạt động MGCK ở cả trong và ngoài nước.

Theo cam kết khi gia nhập WTO về dịch vụ chứng khốn, Việt Nam mở cửa

tồn bộ cho NĐT nước ngồi được thành lập CTCK, cơng ty quản lý quỹ do NĐT

nước ngoài sở hữu 100% vốn. Đến nay, TTCK Việt Nam đã có 3 CTCK và 4 cơng

ty quản lý quỹ do NĐT nước ngồi sở hữu 100% vốn điều lệ. Các nhà ĐTNN này

đến từ các thị trường phát triển hơn Việt Nam như: Mỹ, Hàn Quốc, Malaysia, Hồng

Kông (Theo UBCK nhà nước).

Đi cùng với việc chuyển vốn sang Việt Nam để sở hữu các CTCK, CTQLQ,



93



những người hành nghề chứng khốn nước ngồi sẽ vào Việt Nam để làm việc

khiến số lượng nhà ĐTNN mở tài khoản giao dịch chứng khoán trên TTCK Việt

Nam ngày càng gia tăng. Không những vậy, việc mở cửa thị trường vốn cũng sẽ tạo

điều kiện cho người hành nghề chứng khốn Việt Nam có điều kiện ra nước ngoài

làm việc khi họ đầu quân vào các tập đoàn tài chính đa quốc gia hoặc những tổ chức

kinh doanh chứng khốn trong nước có vốn đầu tư ra nước ngồi.

Điều này đòi hỏi người hành nghề chứng khốn trong nước buộc phải nâng

cao trình độ nghiệp vụ để đáp ứng xu thế hội nhập và tồn cầu hóa.

3.1.1.3. Ứng dụng và phát triển khoa học công nghệ trong hoạt động mơi

giới chứng khốn

Cũng như các ngành nghề khác trong đời sống xã hội, sự phát triển của khoa

học công nghệ trong lĩnh vực tài chính (Fintech) đang diễn ra mạnh mẽ. Theo đó,

nhiều phần việc tại các tổ chức tài chính đã được tự động hóa, cùng với đó là các

sản phẩm tài chính càng ngày càng đa dạng dưới sự hỗ trợ của Fintech.

Đối với Việt Nam, trong gần 10 năm trở lại đây, việc các SGDCK và các CTCK

triển khai các công nghệ, phần mềm mới đã làm giảm một khối lượng lớn người hành

nghề chứng khoán khi việc nhập lệnh tại sàn giao dịch chứng khoán đã khơng còn diễn

ra mà thay vào đó là lệnh của NĐT có thể nhập ở một nơi bất kỳ, hệ thống công nghệ

của các CTCK sẽ nhận và được chuyển thẳng vào các SGDCK để khớp lệnh.

Các giao dịch khác về tiền của NĐT cũng có thể trực tiếp xử lý qua máy tính

hoặc điện thoại mà khơng cần làm việc với nhân viên tại quầy. Tại một số cơng ty,

các tính tốn và phân tích, đánh giá cổ phiếu từ phân tích kỹ thuật và cơ bản cũng

từng bước được các phần mềm xử lý để đưa ra các khuyến nghị cho khách hàng.

Cách mạng công nghiệp 4.0 còn mới với Việt Nam. Tuy nhiên, trong lĩnh

vực tài chính nói chung, ngành chứng khốn nói riêng được đánh giá sẽ chịu tác

động mạnh mẽ của cuộc cách mạng cơng nghiệp lần thứ tư này, từ chính sách điều

hành, công tác quản lý đến hỗ trợ dịch vụ công và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Trước làn sóng cách mạng công nghiệp 4.0, các thành viên tham gia thị trường phải

chủ động triển khai áp dụng công nghệ để đáp ứng đa dạng nhu cầu của khách hàng,



94



xây dựng mơ hình quản lý mới, xây dựng hệ thống chia sẻ thông tin cho nhau một

cách gắn kết, minh bạch và nâng cao vai trò của các mơi giới giỏi.

3.1.2. Định hướng hồn thiện pháp luật về hoạt động mơi giới chứng

khốn của cơng ty chứng khốn ở Việt Nam

3.1.2.1. Bảo đảm pháp luật về MGCK của CTCK thực sự hoàn thiện, khắc

phục được những bất cập

Để phát triển hoạt động MGCK của CTCK thì việc hồn thiện khung pháp lý

là điều kiện tiên quyết. Hoạt động MGCK của CTCK chỉ có thể phát khi nhà nước

ban hành được một hệ thống văn bản pháp lý đầy đủ, đồng bộ, có tính tiên liệu và

hiệu lực pháp lý cao,…ổn định trong thời gian dài. Mục tiêu điều chỉnh pháp luật

đối với hoạt động MGCK của CTCK là: bảo vệ NĐT; bảo đảm thị trường công

bằng, hiệu quả và minh bạch; giảm thiểu rủi ro hệ thống. Vì vậy, pháp luật về hoạt

động MGCK của CTCK cần đáp ứng những chỉ tiêu sau để đảm bảo cho sự phát

triển bền vững:

- Pháp luật về hoạt động MGCK của CTCK phải đồng bộ với toàn bộ hệ

thống pháp luật của Việt Nam, tương thích với chuẩn mực quốc tế và tiếp thu những

nhân tố hợp lý của pháp luật nước ngoài.

Ngày nay, pháp luật chứng khoán của các nước khá gần gũi với nhau. Đặc

biệt, ISOCO đã đưa ra nhiều hướng dẫn liên quan đến các khía cạnh khác nhau của

chứng khốn và TTCK, như các mục tiêu và nguyên tắc quản lý TTCK, nguyên tắc

tổ chức và hoạt động của tổ chức định mức tín nhiệm, ngun tắc điều chỉnh cơng

cụ phái sinh... Các nguyên tắc và hướng dẫn này được nhiều nước trên thế giới vận

dụng và cụ thể hóa trong pháp luật của họ. Do vậy, để TTCKVN có thể gia nhập

TTCK khu vực và thế giới thuận lợi, thì pháp luật chứng khốn Việt Nam khơng

nên q xa lạ với các hướng dẫn của ISOCO và pháp luật của các nước.

- Pháp luật về hoạt động MGCK của CTCK phải là công cụ hữu hiệu bảo

đảm quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT

NĐT là nhân vật chính trên TTCK, quyết định sự tồn tại và phát triển của

TTCK. NĐT có tổ chức là một thiết chế rất quan trọng để bảo đảm cho TTCK phát



95



triển ổn định và hiệu quả. Tuy nhiên, NĐT trên TTCK Việt Nam mặc dù đã phát

triển mạnh mẽ về mặt số lượng nhưng tỷ trọng của các NĐT có tổ chức còn rất

khiêm tốn, chỉ chiếm 4% số lượng tài khoản giao dịch. Thực trạng này là do cơ sở

pháp lý cho hoạt động đầu tư của NĐT cũng như các thiết chế bảo vệ quyền và lợi

ích hợp pháp của NĐT chưa đầy đủ. Nếu lợi ích hợp pháp của NĐT không đảm bảo,

khả năng thu hút đầu tư vào thị trường cũng sẽ gặp nhiều khó khăn. Vì vậy pháp

luật cần có cơ chế hiệu quả để thu hút được NĐT tham gia TTCK.

- Pháp luật cần bảo đảm tính cơng bằng, hiệu quả và minh bạch của TTCK

Tính cơng bằng có mối liên hệ mật thiết với các cơ chế bảo vệ NĐT và các biện

pháp ngăn ngừa hành vi kinh doanh không lành mạnh trong hoạt động MGCK của

CTCK. Một TTCK lành mạnh khi mà các quy chế và thiết chế vận hành của nó khơng

có sự phân biệt đối xử đối với các chủ thể tham gia thị trường. Tính hiệu quả của thị

trường được thể hiện ở chỗ thông tin liên quan luôn kịp thời và rộng rãi và được phản

ánh trong giá của dịch vụ MGCK với chi phí hợp lý. Tính minh bạch của thị trường là

NĐT và các chủ thể có khả năng tiếp cận thông tin một cách dễ dàng. Cung cấp thông

tin là nghĩa vụ bắt buộc của nhà phát hành, CTCK và các chủ thể khác.

- Pháp luật phải có khả năng ngăn ngừa và kiểm soát được rủi ro hệ thống

Để ngăn ngừa rủi ro hệ thống có thể gây ra bởi TTCK hoặc có thể tác động

đến TTCK, pháp luật cần: Xây dựng một cơ chế kiểm soát và dự báo sớm rủi ro hệ

thống. Công tác này phải gắn liền với thẩm quyền và trách nhiệm của một cơ quan

cụ thể trên cơ sở có sự phối hợp với các cơ quan quản lý chuyên ngành; Tăng cường

phát triển các công cụ ngăn ngừa rủi ro; Tiêu chuẩn hóa các điều kiện gia nhập thị

trường của hàng hóa và các chủ thể; Xây dựng và hồn thiện các chuẩn mực hành vi

của các chủ thể tham gia thị trường, nhằm ngăn ngừa và chống các hành vi kinh

doanh không lành mạnh như thao túng thị trường, nội gián, lừa dối,…; Tiếp tục duy

trì và nâng cao hợp lý các điều kiện về chỉ tiêu tài chính đối với các CTCK và chủ

thể hoạt động chuyên nghiệp khác trên TTCK; Xây dựng cơ chế quản trị nội bộ

trong các công ty đại chúng, công ty niêm yết, các ngân hàng và các định chế tài

chính khác nhằm ngăn ngừa và kiểm soát rủi ro từ nội bộ các tổ chức này; Xây



96



dựng cơ chế quản lý đa tầng có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý với các

tổ chức tự quản trong quản lý và giám sát TTCK; Tạo cơ sở pháp lý cho sự hợp tác

quốc tế giữa cơ quan quản lý của Việt Nam với cơ quan quản lý của nước ngoài

trong việc trao đổi thơng tin, phối hợp giám sát, kiểm sốt thị trường.

3.1.2.2. Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu của q trình cải cách hành chính

Cải cách hành chính và hiện đại hóa nền hành chính là vấn đề mang tính phổ

biến trên tồn thế giới, được mọi quốc gia quan tâm, nhưng mức độ và nhu cầu cải

cách, hiện đại hóa nền hành chính ở mỗi nước lại rất khác nhau, tùy thuộc vào các

q trình chính trị, kinh tế- xã hội đang diễn ra; hình thức cấu trúc nhà nước; truyền

thống lịch sử của quốc gia đó và nhiều nhân tố chủ quan, khách quan khác

nhau.Nhưng tựu trung, cải cách hành chính phải phục vụ nhiệm vụ phát triển và đổi

mới toàn diện đất nước, phục vụ đắc lực cải cách kinh tế, tăng cường năng lực quản

lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ

nghĩa, phát triển đất nước theo hướng cơng nghiệp hố, hiện đại hoá. Để thực hiện

nhiệm vụ này, pháp luật trong từng lĩnh vực phải được xây dựng và hoàn thiện để

tạo nên một tổng thể hệ thống pháp luật đáp ứng u cầu cải cách hành chính góp

phần tăng cường hiệu lực của bộ máy quản lý nhà nước. Pháp luật về hoạt động

MGCK của CTCK khơng nằm ngồi hệ thống pháp luật nói chung. Vì vậy, việc

hồn thiện pháp luật về hoạt động MGCK của CTCK cũng là đòi hỏi khách quan

của cải cách hành chính, góp phần tạo ra một cuộc cải cách hành chính đồng bộ, xây

dựng một nền hành chính trong sạch, vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả. Tất nhiên yêu

cầu của công cuộc đổi mới về pháp luật được tiến hành từng bước, song phải được

xem xét toàn diện. Đổi mới hoàn thiện pháp luật về hoạt động MGCK của

CTCKcũng phải đặt trong sự vận động chung.

Cải cách hành chính sẽ giúp cải thiện mơi trường đầu tư trên TTCK ngày

càng thơng thống, năng lực cạnh tranh được nâng cao. Các thủ tục hành chính

khơng cần thiết trong hoạt động MGCK cần được đẩy mạnh rà sốt và tinh giản;

đơn giản hóa các thủ tục liên quan đến doanh nghiệp kinh doanh chứng khoán, thủ

tục đầu tư vào TTCK của cả NĐT Việt Nam và Nước ngoài cần rút ngắn;...



97



3.1.3. Học tập kinh nghiệm của các nước trên thế giới về ban hành các

quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động mơi giới chứng khốn của CTCK

Trên thế giới đã có những thị trường chứng khoán phát triển lâu đời hơn

chúng ta cũng đã gặp phải những bất cập tương tự trong giai đoạn phát triển của

mình. Tuy nhiên khi xây dựng thị trường chứng khốn, chúng ta nên đầu tư nghiên

cứu mơ hình và cách thức tổ chức quản lý thị trường chứng khoán của các nước để

xây dựng mơ hình chứng khốn phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước. việc

học hỏi kinh nghiệm tổ chức và quản lý của các nước trong khu vực và trên thế giới

có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự phát triển thị trường chứng khốn của Việt

Nam. nhìn vào mơ hình hoạt động của họ chúng ta sẽ biết mình cần phải làm những

gì và tránh những gì để phát triển theo xu hướng như thế nào là phù hợp với thị

trường chứng khoán thế giới. mặc dù thị trường chứng khoán của chúng ta khơng

hồn tồn giống bất kỳ một mơ hình chú phán nào của các nước trên thế giới xong

những bước phát triển của thị trường lại có tính quy luật. Biết vận những kinh

nghiệm phát triển hợp lý vào hồn cảnh của Việt Nam thì sẽ hạn chế được những

mặt tiêu cực và phát huy được những mặt tích cực trên thị trường chứng khốn

mang lại lợi ích cao nhất cho nhà đầu tư cũng như CTCK.

Một trong những giải pháp hữu ích nữa là phát triển nghiệp vụ môi giới.

Điệp Vụ môi giới là hoạt động quan trọng và phổ biến đóng góp quan trọng cho

việc tăng tính thanh khoản cho thị trường và mở rộng quy mô giao dịch của thị

trường. Các CTCK đã thể hiện được vai trò trung gian trên TTCK, Tuy nhiên để

phát triển thêm nghiệp vụ này thì các CTCK cần phải thực hiện biện pháp hữu ích

như: Mở rộng giao dịch qua mạng Internet. Đây là một hình thức giao dịch phổ biến

trên thế giới nhưng ở nước ta hình thức này mới xuất hiện còn mới mẻ đối với các

nhà đầu tư. Bên cạnh đó các CTCK chưa chú trọng và triển khai dịch vụ này. Giao

dịch qua mạng Internet có ưu điểm vượt trội là các nhà đầu tư khơng có thời gian để

đến giao dịch trực tiếp tại cơng ty chứng khốn mà vẫn có thể thực hiện được giao

dịch. Trong tương lai giao dịch chứng khoán qua mạng Internet chắc chắn sẽ được

ưa chuộng vì đây là một cách thức để các CTCK có thể cạnh tranh đồng thời cũng

sẽ thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào hoạt động của thị trường.



98



Ngoài ra có thể phát triển thêm các dịch vụ hỗ trợ khác như: ứng trước tiền

bán chứng khoán; cho vay bảo chứng; cho vay thế chấp bất động sản và cho vay

cầm cố chứng khoán.Thực chất của hoạt động này là hoạt động tín dụng vì thế các

cơng ty chứng khốn có thể kết hợp với các ngân hàng trong quá trình thực hiện

nghiệp vụ này theo hướng dẫn nhanh gọn về thủ tục, chặt chẽ về pháp lý và nhanh

chóng cho các nhà đầu tư. Điều này khiến cho nhà đầu tư kịp thời quay vòng vốn,

góp phần tăng nhanh doanh số giao dịch.

Xây dựng chính sách phí và lệ phí cho nhà đầu tư mang tính cạnh tranh lành

mạnh cũng là một giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả hoạt động của cơng ty

chứng khốn. Chính sách thu phí hoạt động mơi giới cần theo hướng: Mức phí tối

thiểu dùng để hạn chế các giao dịch nhỏ và khơng kinh tế. Mục đích của mức phí

này là để từ chối thực hiện các giao dịch nhỏ; mức phí theo tỷ lệ giao dịch để tránh

sự đồng nhất về mức phí giữa nhà đầu tư lớn với nhà đầu tư nhỏ, đây là một chính

sách thu phí rất hiệu quả trong trường hợp cần kiến thức cao dịch trong giai đoạn

đầu để phát triển nghiệp vụ môi giới; mức phí tối đa để khuyến khích các giao dịch

lớn, mức phí này có thể được áp dụng cho các định chế tài chính chuyên nghiệp như

ngân hàng, bảo hiểm, công ty quản lý quỹ.

3.2. Một số giải pháp nhằm hồn thiện pháp luật về hoạt động mơi giới

chứng khốn của cơng ty chứng khốn ở Việt Nam

3.2.1. Hồn thiện pháp luật về hợp đồng mơi giới chứng khốn của cơng

ty chứng khốn

- Một là, Pháp luật cần ghi nhận các nghĩa vụ tiền hợp đồng đối với các chủ

thể trong hợp đồng cung cấp dịch vụ MGCK của các CTCK. Bên cung ứng dịch vụ

và bên thuê dịch vụ buộc phải thực hiện các nghĩa vụ do luật định ngay cả khi hợp

đồng dịch vụ giữa các bên chưa ký kết. Các nghĩa vụ tiền hợp đồng cần được quy

định đối với hợp đồng dịch vụ MGCK bao gồm: Nghĩa vụ cung cấp thông tin, tài

liệu trung thực, cung cấp các chứng chỉ, giấy phép liên quan đến thực hiện dịch vụ

và đưa ra các chỉ dẫn của bên thuê dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ; Nghĩa vụ thu

thập thông tin liên quan đến thực hiện dịch vụ của bên cung ứng dịch vụ; Nghĩa vụ



99



giữ bí mật thơng tin, bảo quản tài liệu, giấy phép hoặc chứng chỉ do bên thuê dịch

vụ cung cấp của bên cung ứng dịch vụ; Nghĩa vụ xây dựng các phương án thực hiện

dịch vụ của bên cung ứng dịch vụ. Việc ghi nhận nghĩa vụ xây dựng phương án dịch

vụ đòi hỏi pháp luật phải có sự linh hoạt dựa trên đặc thù dịch vụ MGCK cũng như

thói quen trong hoạt động nghề nghiệp hoặc hoạt động kinh doanh; Nghĩa vụ cảnh

báo rủi ro của bên cung ứng dịch vụ cho bên thuê dịch vụ; Nghĩa vụ cảnh báo sự

kiện bất thường của bên thuê dịch vụ đối với bên cung ứng dịch vụ; Nghĩa vụ điều

chỉnh nội dung đã đàm phán trong hợp đồng dịch vụ khi hoàn cảnh thay đổi.

- Hai là, Pháp luật cần ghi nhận tiêu chuẩn dịch vụ MGCK nhằm tạo nên

hành lang pháp lý cho các chủ thể của hoạt động MGCK trong quá trình thỏa thuận

hoặc cơ sở pháp lý giải quyết tranh chấp nếu có về vấn đề này. Pháp luật cần ghi

nhận các phương thức xác định tiêu chuẩn dịch vụ như theo thỏa thuận của các bên,

theo nguyên tắc thực hiện dịch vụ của CTCK. Tiêu chuẩn này có thể được xác định

theo tiêu chuẩn đã quảng cáo, công bố hoặc tiêu chuẩn chung nhất định của nhóm

các nhà cung ứng dịch vụ.

- Ba là, Pháp luật cần ghi nhận về thời điểm thực hiện dịch vụ MGCK của

CTCK. Vấn đề này, pháp luật Việt Nam nên học hỏi quy định trong PEL SC. Thời

điểm thực hiện dịch vụ MGCK phải là thời điểm mà bên cung ứng dịch vụ đã thu

thập đủ thông tin cần thiết và bảo đảm đầy đủ các điều kiện để thực hiện dịch vụ trừ

khi các bên có thỏa thuận khác.

- Bốn là, Pháp luật cần ghi nhận việc giao công việc cho người thứ ba là một

quyền trong hoạt động MGCK của CTCK. Người thứ ba phải đảm bảo đầy đủ các yếu

tố thuộc về chuyên môn, kinh nghiệm về hoạt động MGCK tương đương như CTCK

đang cung cấp. Trường hợp loại trừ là phía NĐT u cầu đích danh CTCK đó thực

hiện hoạt động MGCK thì chủ thể này khơng có quyền giao cho người thứ ba.

- Năm là, Cần xây dựng và hoàn thiện một chế định pháp lý về quan hệ uỷ

thác đầu tư chứng khoán để tạo ra một khung pháp lý điều chỉnh các hoạt động trên.

Cần quy định về phương thức ủy thác đầu tư một cách cụ thể theo hướng sau:

+ Thống nhất quan điểm đầu tư ủy thác là một phương thức đầu tư chứ



100



khơng phải là lĩnh vực đầu tư. Do đó, cần quy định rằng các giới hạn đầu tư đối với

từng lĩnh vực đầu tư sẽ bao gồm cả trường hợp trực tiếp đầu tư và trường hợp ủy

thác đầu tư.

+ Cần quy định về điều kiện đối với CTCK nhận ủy thác đầu tư để đảm bảo

sự an toàn đối với các khoản đầu tư ủy thác. Những điều kiện này bao gồm điều

kiện về loại hình, năng lực tài chính và kinh nghiệm trong lĩnh vực MGCK.

3.2.2. Hồn thiện một số quy định cụ thể khác về pháp luật hoạt động mơi

giới chứng khốn của cơng ty chứng khốn ở Việt Nam

- Một là, Hoàn thiện quy định về đào tạo cho đội ngũ người hành nghề MGCK:

+ Cần có quy định về chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đào tạo: Chuẩn hóa

các chương trình đào tạo hành nghề kinh doanh chứng khoán theo các chuẩn mực

cao nhất và từng bước mở cửa cho các tổ chức đào tạo chứng khốn nước ngồi có

uy tín; chuẩn hóa các quy định về đạo đức nghề nghiệp thông qua việc hướng dẫn

các CTCK ban hành quy định về đạo đức nghề nghiệp áp dụng cho người làm việc

tại CTCK nói chung và người hành nghề chứng khốn nói riêng; hướng dẫn cụ thể

việc giám sát nội bộ đối với người hành nghề trong việc tuân thủ các quy định và

đạo đức nghề nghiệp; tăng cường việc xử phạt vi phạm hành chính, quy trách nhiệm

của người hành nghề chứng khốn.

+ Hoàn thiện quy định về kéo dài thời gian đào tạo: Hiện nay thời gian đào

tạo để cấp chứng chỉ hành nghề MGCK hiện nay chỉ khoảng 11 – 12 buổi, thời gian

như vậy là chưa đảm bảo để một cá nhân khơng có chun mơn về ngành Tài chính,

ngân hàng,… có thể tiếp cận, hay có thể trở thành chuyên gia trong lĩnh vực MGCK.

Vì vậy, cần tăng thời gian đào tạo kết hợp lý thuyết và thực tiễn để có thể nâng cao

chất lượng đội ngũ hành nghề MGCK. Theo tác giả nên kéo dài thời gian đào tạo ít

nhất là 9 tháng để được cấp chứng chỉ hành nghề MGCK.

+ Hoàn thiện quy định phương thức đào tạo: Theo hướng phù hợp thông lệ

quốc tế, phù hợp với đặc thù và nhu cầu của người hành nghề chứng khốn. Nên

thiết kế thêm các khóa học từ xa, học trực tuyến, đồng thời tổ chức thi trực tuyến,

để tiết kiệm thời gian và tạo sự thuận lợi cho người học.



101



- Hai là, Cần điều chỉnh lại tỷ lệ nộp phí mơi giới về các SGDCK.

Để phù hợp hơn với quy mô thị trường và quy mô thanh khoản đã thay đổi

rất nhiều trong thời gian vừa qua. Cần điều chỉnh lại quy định mức phí các CTCK

phải nộp trên tổng phí mơi giới thu được về cho Hose và Hnx theo hướng giảm mức

nộp xuống 10% hoặc xuống 15%.

Nếu việc điều chỉnh tỷ lệ nộp phí mơi giới về các sở trở nên hợp lý, các công

ty chứng khốn có thể giảm phí mơi giới cho nhà đầu tư, đồng thời kiểm soát ký

quỹ ở mức chấp nhận được mà không phải chạy theo doanh số. Điều này sẽ giúp thị

trường phát triển lành mạnh, bền vững.

- Ba là, Cần có những quy định cơng khai về thơng tin của các nhân viên

MGCK tại CTCK.

Hiện nay, có rất nhiều CTCK sử dụng nhân viên tư vấn môi giới khơng được

cấp phép, thậm chí đang là sinh viên chưa tốt nghiệp đại học thông qua các giao kết

hợp đồng lao động là cộng tác viên, nhân viên thực tập, nhân viên học việc…trong khi

khách hàng lại không thể biết ai là người có giấy phép hành nghề. Vì vậy để bảo vệ các

NĐT tham gia vào TTCK được sử dụng tốt nhất dịch vụ MGCK theo tác giả cần:

+ UBCK rà sốt, kiểm tra lại tình hình sử dụng nhân sự tại các CTCK, yêu

cầu các công ty phải đăng tải rõ thông tin và các nhân viên đã được cấp giấy phép,

chưa được cấp phép. Phải thông báo rõ ràng với khách hàng từ lúc ký hợp đồng mở

tài khoản là nhân viên quản lý tài khoản đã được cấp chứng chỉ hành nghề của

UBCK hay chưa.

+ Trong giấy phép hành nghề của UBCK cấp có ghi số seri, số chứng minh

nhân dân, tên tuổi địa chỉ của người được cấp phép. Đây chính là cơ sở để quản lý,

truy cứu trách nhiệm mỗi khi có vụ việc phát sinh bất kể người được cấp phép đang

làm gì, ở đâu.

+ UBCK cần thường xuyên cập nhật danh sách theo dõi các cá nhân được

cấp chứng chỉ hành nghề trên website của mình. Cơng bố cơng khai các nhân viên

MGCK có hành vi vi phạm trên phương tiện truyền thông và cấm hành nghề trong

một khoản thời gian nhất định.



102



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×