Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khái niệm về CTCK ở một số nước được hiểu như sau: Theo quy định của

pháp luật chứng khoán Nhật Bản thì “CTCK là bất kỳ cơng ty cổ phần nào đó được

Bộ trưởng Bộ tài chính cấp giấy phép kinh doanh chứng khốn”. Trong khi đó, Luật

chứng khốn Trung Quốc thì quy định “CTCK là cơng ty trách nhiệm hữu hạn hoặc

công ty cổ phần làm nghiệp vụ kinh doanh chứng khốn, được quy định trong luật

cơng ty và quy định Điều 117 Luật chứng khoán” [19, tr.14]

CTCK là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập

và hoạt động theo quy định của Luật chứng khoán và theo quy định của một số pháp

luật có liên quan để thực hiện một hoặc một số nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán

sau theo giấy phép của Ủy ban chứng khoán nhà nước cấp như: MGCK, tự doanh

chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán [7].

Như vậy, CTCK được hiểu là một tổ chức tài chính trung gian được thành

lập theo pháp luật, thực hiện một và/hoặc một số hoạt động trênTTCK.

CTCK là một tổ chức tài chính trung gian hoạt động trên TTCK - một thị

trường có mức độ nhạy cảm cao và có ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế. Do vậy, CTCK

thuộc loại hình kinh doanh có điều kiện, tức là để có thể tiến hành một hoặc một số các

hoạt động trên TTCK, CTCK phải đáp ứng các điều kiện do luật pháp qui định cũng

như những nguyên tắc ứng xử riêng có của ngành chứng khốn. Điều kiện này chính là

những đặc điểm khác biệt giữa hoạt động của CTCK với hoạt động của các loại hình

doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác. Đặc điểm này bao gồm:

Thứ nhất, CTCK là tổ chức trung gian về giao dịch:

TTCK hoạt động với đặc điểm khác biệt với các thị trường khác là người

mua và người bán không trực tiếp gặp nhau để thoả thuận giá và tiến hành giao

dịch, mà họ phải giao dịch thông qua hệ thống các CTCK. CTCK có nhiệm vụ nhận

lệnh của người mua và người bán, sau đó nhập các lệnh này vào hệ thống. Hệ thống

sẽ tự động so khớp các lệnh với nhau, cuối cùng sẽ đưa ra một mức giá khớp tốt

nhất với một khối lượng khớp nhất định.

Thứ hai, CTCK là trung gian cung cấp thông tin:

CTCK với trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, cùng với đội ngũ nhân viên có



7



trình độ cao trong việc thu thập xử lý và phân tích thơng tin liên quan đến chứng

khốn thành những thơng tin có ích, phục vụ cho việc ra quyết định đầu tư của

CTCK cũng như của NĐT. CTCK sẽ cung cấp thông tin cho khách hàng thông qua

nghiệp vụ môi giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư… Nhờ đó, khách hàng

có thể được sử dụng những thơng tin một cách có hiệu quả với chi phí thấp hơn rất

nhiều so với việc họ tự thu thập, xử lý thông tin.

Thứ ba, CTCK là tổ chức trung gian về vốn giữa người mua và người bán:

Đặc điểm này của CTCK được thể hiện trong nghiệp vụ cho vay ứng trước,

cho vay ký quỹ… CTCK sẽ hỗ trợ vốn cho khách hàng khi khách hàng đã thực hiện

lệnh bán thành công nhưng tiền chưa kịp về tài khoản hoặc trong trường hợp khách

hàng muốn mua số chứng khoán nhiều hơn số tiền đang có dựa trên một tỷ lệ nhất

định. CTCK sẽ hưởng lãi suất trên số vốn hỗ trợ cho NĐT. Điều này sẽ giúp khách

hàng có thêm cơ hội đầu tư, đồng thời tạo thu nhập cho CTCK.

Thứ tư, CTCK có thể giảm thiểu rủi ro cho khách hàng:

Với những ưu thế về thơng tin, nguồn vốn, CTCK có thể giảm thiểu rủi ro

cho khách hàng thông qua hoạt động uỷ thác đầu tư, bảo lãnh phát hành chứng

khốn. CTCK có thể tập trung vốn của khách hàng có nhu cầu, sau đó thực hiện

giảm thiểu rủi ro cho khách hàng thông qua các danh mục đầu tư hiệu quả hơn, chia

sẻ rủi ro với các tổ chức phát hành thông qua hoạt động bảo lãnh phát hành.

Thứ năm, CTCK là trung gian thanh toán:

CTCK là một thành viên của Sở Giao dịch Chứng khoán và thành viên của

Trung tâm Lưu ký Chứng khốn, qua đó thực hiện chức năng của một trung gian

thanh toán. Chức năng này được thể hiện thơng qua việc thanh tốn giữa người mua

và người bán trên TTCK. Trên cơ sở dữ liệu của Sở Giao dịch Chứng khoán và

Trung tâm Lưu ký Chứng khoán gửi về, CTCK sẽ thực hiện việc hạch toán tiền và

chứng khoán cho người bán và người mua.

Thứ sáu, Đặc điểm về xung đột lợi ích giữa CTCK và khách hàng:

CTCK cung cấp dịch vụ môi giới cho khách hàng, tuy nhiên CTCK cũng

chính là một NĐT đặc biệt thơng qua hoạt động tự doanh chứng khoán. Cả CTCK



8



và khách hàng đều có chung mục tiêu khi tham gia thị trường là tìm kiếm lợi nhuận,

do đó đơi khi xảy ra xung đột lợi ích giữa CTCK và khách hàng.

Ngồi ra, giữa khách hàng và CTCK cũng xảy ra xung đột lợi ích như trên

khi CTCK vừa cung cấp dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán, vừa thực hiện nghiệp

vụ tự doanh chứng khốn. Xung đột lợi ích này rất dễ xảy ra khi nhân viên CTCK

không đề cao đạo đức nghề nghiệp và tư vấn bất lợi cho khách hàng nhằm thu lợi

cho CTCK. Đặc điểm này tạo ra sự khác biệt trong hoạt động của CTCK với các

doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực khác.

Thứ bẩy, CTCK là tổ chức kinh doanh có điều kiện, thể hiện bởi các yếu tố:

- Điều kiện về vốn

Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thương mại

không bị các ràng buộc về vốn pháp định. Tuy nhiên, do hoạt động của CTCK

không chỉ ảnh hưởng tới chính CTCK mà còn ảnh hưởng đến một bộ phận rất lớn

NĐT, vì vậy pháp luật các nước đều đưa ra quy định về vốn pháp định đối với các

CTCK nhằm đảm bảo các CTCK khi thành lập đều là các cơng ty có tiềm lực tài

chính, qua đó bảo vệ lợi ích cho NĐT.

Ở mỗi nước việc qui định mức vốn này có thể chung cho một CTCK khi tiến

hành đăng ký thành lập (khơng kể CTCK đó thực hiện một, hai hay tất cả các hoạt

động trên TTCK), ví dụ như Hàn quốc, mức vốn tối thiểu cho một CTCK là 50 tỷ

won, hoặc có thể qui định riêng cho từng loại hình kinh doanh cụ thể (Ở Việt Nam,

theo Luật Chứng khốn có hiệu lực từ 01/01/2007, sửa đổi bổ sung Luật Chứng

khốn ngày 24/10/2010 có hiệu lực từ ngày 01/07/2011, mức vốn pháp định cho

hoạt động môi giới là 25 tỷ VNĐ; tự doanh là 100 tỷ VNĐ, bảo lãnh phát hành là

165 tỷ VNĐ, tư vấn đầu tư là 10 tỷ VNĐ).

- Điều kiện về chun mơn hố và nhân sự

Nếu như ở các doanh nghiệp sản xuất, giữa các khâu trong quá trình sản xuất

sản phẩm phải có mắt xích kết nối và sản phẩm ra đời đều trải qua tất cả các công

đoạn, khơng được phép thiếu một cơng đoạn nào thì tại CTCK, mỗi nghiệp vụ đều

có những đặc điểm riêng trong hoạt động. Đối với hoạt động môi giới và tư vấn đầu



9



tư thì khách hàng chủ yếu là các cá nhân nhỏ lẻ và mục tiêu của họ là tìm kiếm lợi

nhuận trên TTCK. Ngược lại, đối với hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp thì

khách hàng chủ yếu lại là các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng các dịch vụ cổ phần

hoá, tái cấu trúc, phát hành, niêm yết, M&A… Như vậy, giữa các bộ phận trong

CTCK có sự chun mơn hố và độc lập tương đối.

Các nghiệp vụ của CTCK đều là những nghiệp vụ phức tạp, có độ rủi ro cao,

ảnh hưởng tới NĐT và TTCK, do đó đòi hỏi các cán bộ và nhân viên làm việc trong

CTCK phải là những người có năng lực, trình độ, kinh nghiệm và am hiểu về lĩnh

vực tài chính cũng như pháp luật. Pháp luật về chứng khoán cũng đưa ra yêu cầu

cán bộ làm việc tại CTCK khi thực hiện các nghiệp vụ cần có chứng chỉ hành nghề

tương ứng để đảm bảo kiến thức, trình độ khi thực hiện nghiệp vụ với khách hàng.

Đặc biệt là vấn đề đội ngũ lãnh đạo tại CTCK: Yêu cầu về đội ngũ lãnh đạo

trong bất kỳ lĩnh vực nào đều phải có kiến thức chun mơn, có đạo đức trong

kinh doanh, khơng vi phạm pháp luật và có trình độ quản lý. Yêu cầu về đội ngũ

lãnh đạo ở các CTCK cũng như vậy. Tuy nhiên, đối với lĩnh vực chứng khốn,

ngồi những u cầu trên, đội ngũ lãnh đạo ở các CTCK còn phải có chứng chỉ

hành nghề và phải có giấy phép đại diện do cơ quan có thẩm quyền cấp. Và yêu

cầu đối với đội ngũ lãnh đạo về trình độ học vấn và kinh nghiệm công tác phải cao

hơn đội ngũ nhân viên.

- Điều kiện về cơ sở vật chất

Để có thể đăng ký làm thành viên của SGDCK, các CTCK đều phải đáp ứng

được các yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật và hệ thống phần mềm nhằm đảm bảo việc kết

nối và giao dịch được thơng suốt. Qua đó đảm bảo lợi ích của NĐT cũng như không

ảnh hưởng tới giao dịch chung trên SGDCK. Điều kiện về cơ sở vật chất cũng là

một rào cản đáng kể với các công ty có ý định gia nhập vào lĩnh vực chứng khốn,

bởi ngồi chi phí đầu tư ban đầu lớn, các CTCK còn phải bỏ ra các chi phí bảo trì và

nâng cấp hệ thống thường xuyên.

Bên cạnh đó, cơ sở vật chất kỹ thuật của CTCK còn là hệ thống các trang

thiết bị hiện đại phục vụ cho quá trình truyền lệnh của khách hàng, thông báo kết



10



quả giao dịch cũng như giúp khách hàng kiểm tra số dư tài khoản hoặc tìm kiếm

thơng tin… Ngồi ra, khi thị trường chưa được phi vật chất hố chứng khốn thì

CTCK cũng cần phải đảm bảo điều kiện về hệ thống kho két để đảm bảo lưu giữ an

tồn chứng khốn cho các NĐT.

1.1.1.2. Phân loại cơng ty chứng khốn

Dựa vào loại hình tổ chức, hiện nay có hai loại hình tổ chức CTCK, đó là:

- Cơng ty cổ phần: Cơng ty cổ phần là một pháp nhân độc lập với các chủ sở

hữu là cổ đông. Và các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản

khác của cơng ty trong phạm vi số vốn góp vào cơng ty.

- Cơng ty trách nhiệm hữu hạn: Loại hình cơng ty này đòi hỏi trách nhiệm

của các thành viên giới hạn trong số vốn họ đã góp vào cơng ty.

Công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn có quy chế pháp lý về tổ

chức hoạt động chặt chẽ nên việc tuân thủ chế độ thông tin và báo cáo khá chặt chẽ.

Phân loại theo hình thức kinh doanh

- Công ty MGCK: là CTCK chỉ thực hiện việc trung gian, mua bán chứng

khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng.

- Công ty bảo lãnh phát hành chứng khốn là CTCK có lĩnh vực hoạt động

chủ yếu là thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh để hưởng phí hoặc chênh lệch giá.

- Cơng ty kinh doanh chứng khốn là CTCK chủ yếu thực hiện nghiệp vụ tự

doanh, có nghĩa là tự bỏ vốn và tự chịu trách nhiệm về hậu quả kinh doanh.

- Công ty trái phiếu là CTCK chuyên mua bán các loại trái phiếu.

- CTCK không tập trung là các CTCK hoạt động chủ yếu trên thị trường

OTC và họ đóng vai trò là các nhà tạo thị trường.

Dựa vào mơ hình tổ chức có thể chia CTCK thành hai loại hình như sau:

- CTCK đa năng: Theo mơ hình này, CTCK được tổ chức dưới hình thức một

tổ hợp dịch vụ tài chính tổng hợp, bao gồm: kinh doanh chứng khoán, kinh doanh

tiền tệ và các dịch vụ tài chính. Các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là

chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm, kinh doanh tiền tệ. Mơ hình này lại

được thể hiện dưới hai hình thức sau:



11



- Loại đa năng một phần: Các ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán, kinh

doanh bảo hiểm thì phải thành lập cơng ty con, hạch toán độc lập và hoạt động tách rời

với kinh doanh tiền tệ. Mơ hình này được gọi là mơ hình kiểu Anh, Canada, Úc.

- Loại đa năng hồn tồn: Theo mơ hình này, các ngân hàng được phép trực

tiếp kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ cũng như

dịch vụ tiền tệ khác. Đây là mơ hình kiểu Đức.

Mơ hình này có ưu điểm là ngân hàng có thể đa dạng hóa, kết hợp nhiều lĩnh

vực kinh doanh, từ đó giảm bớt rủi ro cho hoạt động kinh doanh và khả năng chịu

đựng các biến động TTCK khá cao. Tuy nhiên hạn chế của mơ hình này là tính

chun sâu khơng cao điều này làm cho TTCK kém phát triển do các ngân hàng vừa

là tổ chức tín dụng lại vừa kinh doanh chứng khốn. Mà các ngân hàng lại có xu

hướng thích nghiệp vụ cho vay hơn là thực hiện nghiệp vụ chứng khoán như: bảo

lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán….

Ở Việt Nam, các ngân hàng thương mại còn khá nhỏ, đặc biệt là khả năng

huy động vốn dài hạn rất thấp mà chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực thương mại

ngắn hạn, trong khi hoạt động của TTCK thuộc lĩnh vực vốn dài hạn. Chính vì vậy,

để đảm bảo cho hoạt động của các ngân hàng và TTCK, pháp luật về TTCK quy

định các ngân hàng thương mại muốn kinh doanh chứng khoán phải tách một phần

vốn tự có của mình ra thành lập một CTCK chun doanh trực thuộc nhưng hạch

tốn độc lập với ngân hàng.

Cơng ty chun doanh chứng khốn: Theo mơ hình này, hoạt động kinh

doanh chứng khốn sẽ do các cơng ty độc lập, chun mơn hóa trong lĩnh vực

chứng khốn đảm nhận; các ngân hàng không được trực tiếp tham gia kinh doanh

chứng khốn. Mơ hình này có ưu điểm là hạn chế sự rủi ro cho các ngân hàng; đồng

thời tạo sự chun mơn hóa cao cho TTCK. Mơ hình này được phát triển tại Mỹ,

Nhật, Canada … Xu thế hiện nay các nước đang tiến tới bỏ dần hàng rào ngăn cản

giữa kinh doanh tiền tệ và kinh doanh chứng khốn.

Tuy nhiên, hiện nay, các nước trên thế giới Có xu hướng hình thành các

tập đồn tài chính khổng lồ. Chính vì vậy TTCK cũng phải trở nên linh hoạt



12



hơn có nghĩa là cho phép kinh doanh trên nhiều lĩnh vực như chứng khoán, bảo

hiểm, tiền tệ……

1.1.1.3. Các hoạt động kinh doanh chủ yếu của cơng ty chứng khốn

Hoạt động chính của CTCK bao gồm: hoạt động mơi giới, tự doanh, bảo lãnh

phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán và tư vấn tài chính. Các hoạt động này có thể

được chia thành hai mảng hoạt động chính đó là hoạt động tự doanh và hoạt động

cung cấp dịch vụ chứng khốn (bao gồm các hoạt động còn lại của CTCK).

- MGCK: MGCK là hoạt động mà CTCK làm trung gian thực hiện lệnh mua

bán chứng khoán cho khách hàng – NĐT. Thông qua hoạt động môi giới, CTCK

cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tư vấn đầu tư và kết nối giữa NĐT bán chứng khoán

với NĐT mua chứng khoán.

- Tự doanh chứng khoán: Tự doanh là việc CTCK tự tiến hành các giao dịch

mua bán chứng khoán cho chính mình nhằm thu lợi nhuận. Vì vậy trong q trình hoạt

động có thể dẫn đến xung đột lợi ích giữa việc giao dịch cho khách hàng và bản thân

công ty. Khác với nghiệp vụ môi giới CTCK chỉ làm trung gian thực hiện lệnh cho

khách hàng để hưởng hoa hồng, trong hoạt động tự doanh CTCK kinh doanh bằng

chính nguồn vốn của cơng ty. Vì vậy, CTCK đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn và đội ngũ

nhân viên có trình độ chun mơn, khả năng phân tích và đưa ra các quyết định đầu tư

hợp lý, đặc biệt trong trường hợp đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường.

- Quản lý danh mục đầu tư: Quản lý danh mục đầu tư là hoạt động quản lý

vốn của khách hàng thơng qua việc bán và giữ các chứng khốn của khách hàng vì

quyền lợi của khách hàng theo hợp đồng bằng văn bản với khách hàng với mục đích

làm cho vốn của khách hàng đạt mức sinh lời tối ưu nhất. Khách hàng sẽ không trực

tiếp thực hiện đầu tư mà ủy quyền cho CTCK đầu tư thay mình, đồng thời có nghĩa

vụ thanh tốn cho CTCK một khoản phí tính trên phần vốn của khách hàng mà cơng

ty quản lý dù danh mục có lãi hay khơng.

- Bảo lãnh phát hành chứng khoán: Bảo lãnh phát hành là việc CTCK có

chức năng bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán

chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khốn



13



trong giai đoạn đầu sau khi phát hành. Tổ chức phát hành sẽ phải trả cho CTCK phí

bảo lãnh. Mức phí này phụ thuộc vào chất lượng, quy mơ của đợt phát hành và tình

hình cụ thể của thị trường.

- Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán: Tư vấn đầu tư chứng khoán là các

hoạt động tư vấn liên quan đến chứng khoán như cung cấp cho NĐT kết quả phân

tích, cơng bố phát hành các báo cáo phân tích, hoặc khuyến nghị có liên quan đến

chứng khốn có thu phí. Phí tư vấn thường được tính trên tỷ lệ phần trăm doanh số

giao dịch chứng khoán của khách hàng.

- Các hoạt động phụ trợ: Bên cạnh các hoạt động chính nêu trên, CTCK còn

cung cấp các hoạt động phụ trợ khác như phân tích đầu tư, lưu ký chứng khoán,

quản lý thu nhập của khách hàng, nghiệp vụ tín dụng,…

Pháp luật một số nước quy định rõ nhiệm vụ kinh doanh chứng khoán nào

CTCK được phép thực hiện, nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán nào cấm được thực

hiện (Ví dụ Luật Chứng khốn Trung Quốc). Điều này nhằm tránh mâu thuẫn, xung

đột lợi ích giữa các hoạt động kinh doanh chứng khoán và hạn chế sự xâm phạm tới

quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT chứng khốn. Bên cạnh đó, cũng có nước cho

phép CTCK được thực hiện tất cả các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán nhưng

phải đảm bảo tách biệt các nghiệp vụ này (Ví dụ ở Việt Nam, Mỹ). Điểm chung

nhất trong pháp luật chứng khoán của hầu hết các nước đều có quy định kinh doanh

chứng khốn là ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Vì vậy, để kinh doanh chứng

khoán, CTCK phải thỏa mãn những điều kiện luật định và được cơ quan nhà nước

có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập và hoạt động. Ở Việt Nam, điều kiện, thủ

tục cấp phép hoạt động kinh doanh chứng khốn cho đến thời điểm hiện nay đã có

những cải cách nhất định (trước khi ban hành Luật chứng khoán, CTCK phải xin

cấp giấy phép kinh doanh chứng khoán và đăng ký kinh doanh theo quy định của

Luật Doanh nghiệp) [20, tr.179].

1.1.2. Hoạt động mơi giới chứng khốn của cơng ty chứng khốn

1.1.2.1. Khái niệm về hoạt động mơi giới chứng khốn của cơng ty chứng khốn

Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học: “Môi giới được hiểu là người



14



làm trung gian để cho hai bên tiếp xúc, giao thiệp với nhau”. Còn khái niệm chứng

khốn được hiểu như sau: “Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp

pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành”.

Như vậy, MGCK là việc CTCK làm trung gian để khách hàng có thể thực

hiện việc mua, bán chứng khốn của các tổ chức phát hành. Luật chứng khoán định

nghĩa: “MGCK là việc CTCK làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho

khách hàng”. MGCK được hiểu là hoạt động của CTCK và của nhân viên môi giới

trong sự tương quan chặt chẽ với nhau và với một đối tác chung là khách hàng –

NĐT để tác động vào sự vận hành và phát triển của TTCK. Hoạt động môi giới là

một giao dịch kinh doanh của một CTCK, trong đó CTCK đại diện cho khách hàng

tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại SGDCK hay trên thị trường OTC

mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm về kết quả khi đưa ra quyết định giao

dịch đó và phải trả một khoản phí gọi là phí giao dịch cho CTCK.

Đối với CTCK, các hoạt động xuất hiện theo những nhu cầu của NĐT và

theo sự phát triển của thị trường. Hoạt động môi giới được xem là hoạt động xuất

hiện đầu tiên đồng thời là hoạt động cơ bản nhất trong số các hoạt động mà một

CTCK tiến hành triển khai. Thông qua hoạt động môi giới, CTCK sẽ đảm đương

vai trò là nhà trung gian giúp cho NĐT thực hiện việc mua bán chứng khoán. CTCK

với lợi thế có mạng lưới thơng tin rộng khắp trên cả thị trường chính thức lẫn phi

chính thức có thể cung cấp cho NĐT một bức tranh toàn cảnh về TTCK và giúp

khách hàng có thể mua bán được chứng khoán ở bất kỳ thị trường nào.

PGS. TS. Lê Thị Thu Thủy cũng đưa ra nhận định của mình về hoạt động MGCK

của CTCK như sau: “Hoạt động MGCK của CTCK là hoạt động kinh doanh chứng

khốn, theo đó một CTCK đại diện cho khách hàng thực hiện giao dịch chứng khốn

thơng qua cơ chế giao dịch tại Sở giao dịch chứng khốn hay thị trường OTC và chính

khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả của việc giao dịch đó” [19].

Như vậy có thể đưa ra khái niệm về hoạt động MGCK của CTCK như sau:

Hoạt động MGCK của CTCK là hoạt động kết nối giữa những người cần mua và

những người cần bán chứng khoán mà ở đó CTCK đóng vai trò làm trung gian thực

hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng.



15



Qua khái niệm này có thể thấy khi thực hiện hoạt động MGCK nhà MGCK

chỉ đơn thuần làm trung gian để hưởng hoa hồng còn khách hàng là người u cầu

thực hiện và hồn toàn chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao dịch

đó. Theo đó, các CTCK đại diện cho khách hàng của mình tiến hành các giao dịch

thơng qua cơ chế giao dịch tại sàn chứng khoán hoặc thị trường OTC mà chính

khách hàng phải chịu trách nhiệm với kết quả giao dịch của mình. Vì vậy, hoạt động

MGCK của bất kỳ CTCK nào cũng gồm hai hoạt động nhỏ: (1) Đại diện cho khách

hàng; (2) Tư vấn, trợ giúp khách hàng trong quá trình đưa ra quyết định mua hay

bán chứng khoán.

1.1.2.2. Đặc điểm của hoạt động mơi giới chứng khốn của cơng ty chứng khốn

Mơi giới là một trong những hoạt động cơ bản nhất của CTCK. Hoạt động

này có ý nghĩa quan trọng trong việc thu hút khách hàng và tạo dựng hình ảnh cho

cơng ty. Khác với các hoạt động tài chính khác, hoạt động MGCK của CTCK có

những đặc điểm riêng biệt. Cụ thể:

Thứ nhất, Hoạt động MGCK là hoạt động môi giới hàng hóa đặc biệt là

chứng khốn. Trên TTCK hoạt động môi giới càng trở nên quan trọng bới những

đặc thù riêng của loại hình kinh doanh dịch vụ này. Có nhiều chủ thể, nhiều người

tham gia TTCK, tuy nhiên không phải ai cũng có những hiểu biết để phân tích, xác

định được giá cả của loại hàng hóa đặc biệt – chứng khốn. Đó chính là điều kiện để

cho hoạt động MGCK phát triển và dần trờ thành một nghiệp vụ đặc trưng của

TTCK. Cùng với sự phát triển của TTCK, hoạt động MGCK ngày càng mang tính

chuyên biệt cao và được mọi người chấp nhận.

Thứ hai,Hoạt động môi giới dẫn đến xung đột lợi ích giữa CTCK, người mơi

giới và khách hàng. Vai trò quan trọng của CTCK là làm trung gian giữa NĐT mua

và bán chứng khoán. Khi CTCK tham gia vào việc kinh doanh với mục tiêu cũng vì

lợi nhuận thì sẽ xảy ra mâu thuẫn giữa công ty và NĐT. Do vậy, CTCK phải tuân

thủ các quy định:

+ Tách biệt hoạt động tự doanh và môi giới: CTCK phải tách biệt hai hoạt

động này về nhân sự, về quy trình nghiệp vụ và quan trọng hơn cả là tách biệt giữa

nguồn vốn của khách hàng với công ty.



16



+ Ưu tiên khách hàng: CTCK phải đặt lợi ích của khách hàng lên hàng đầu như

cung cấp thông tin cho khách hàng một cách trung thực, chính xác và kịp thời nhất,

đảm bảo ưu tiên lệnh giao dịch của khách hàng trước lệnh giao dịch của công ty.

Thứ ba, hoạt động MGCK của CTCK là hoạt động khá an tồn. Khi tham gia

TTCK thì NĐT tự chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư của mình. Hoạt động mơi giới

của CTCK chỉ đóng vai trò là cầu nối giữa NĐT với nhau, giúp NĐT thực hiện

quyết định giao dịch của mình và khơng phải chịu trách nhiệm với kết quả đầu tư

của NĐT. Vì vậy, đòi hỏi đạo đức nghề nghiệp là yêu cầu hàng đầu đối với hoạt

động MGCK của các CTCK. Các quy tắc đạo đức nghề nghiệp bao gồm:

+ Cẩn trọng khi hành nghề: Phải hiểu rõ khách hàng về thông tin cá nhân cơ

bản, về tình hình tài chính, mục tiêu đầu tư. Trên cơ sở đó nhân viên mơi giới tư vấn

phù hợp cho khách hàng.

+ Trung thực, công bằng trong hoạt động mơi giới: Phải ưu tiên lợi ích của

khách hàng, tơn trọng tài sản của khách hàng, bảo vệ quyền lợi của khách hàng;

Phải cung cấp thơng tin đầy đủ, chính xác cho khách hàng, đặc biệt không gợi ý

khách hàng mua bán vì lợi ích riêng, khơng được xúi giục khách hàng mua, bán

chứng khoán để kiếm hoa hồng mà nên đưa những lời khuyên hợp lý để hạn chế

mức thấp nhất thiệt hại cho khách hàng, không thúc giục khách hàng mua bán q

nhiều một loại chứng khốn, khơng đưa ra những lời hứa hẹn đảm bảo lợi ích của

khách hàng sẽ nhận được; Khơng có hành vi và biểu hiện có thể gây ra sự hiểu lầm

về sự trung thực, độ tin cậy cho khách hàng.

+ Hoạt động phải mang tính chuyên nghiệp: Nhân viên thực hiện theo đúng

yêu cầu của khách hàng, tuân theo quy định về nghiệp vụ, quy định khác của công

ty. Nhân viên môi giới phải khơng ngừng nâng cao trình độ tay nghề, cũng như trình

độ chun mơn về chứng khốn và TTCK để có thể cung cấp cho khách hàng

những sản phẩm tốt nhất.

+ Phải bảo mật: Bảo quản hồ sơ, tài liệu của khách hàng; Không được thảo

luận bất kỳ thông tin nào về khách hàng với người khơng có liên quan; Không sử

dụng thông tin của khách hàng dưới bất cứ hình thức nào để tác động tới các giao

dịch vì lợi ích của nhân viên mơi giới, của cơng ty hay khách hàng khác.



17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×