Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT, ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH, ĐỊA CHẤT THỦY VĂN, KHOÁNG SẢN KHU VỰC MINH LƯƠNG- VĂN BÀN- LÀO CAI

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT, ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH, ĐỊA CHẤT THỦY VĂN, KHOÁNG SẢN KHU VỰC MINH LƯƠNG- VĂN BÀN- LÀO CAI

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hình I-1: Sơ đồ khu vực nghiên cứu

1.1.2. Đặc điềm địa hình

Khu Minh Lương Sa Phìn nằm trong dãy Hồng Liên Sơn một dãy núi cao và hiểm

trở bậc nhất ở Tây Bắc Việt Nam trên địa hình núi cao từ 500m đến trên 2000m. Riêng

khu Minh Lương địa hình chủ yếu là núi thấp và đồi sót đọ cao từ 500 ÷ 1200m.

Đặc điểm địa hình:

Địa hình hình đồi núi thấp, đồi sót: Phân bố chủ yếu trên nền đá gốc các trầm tích lục

nguyên carbonat, lục nguyên vụn núi lửa của hệ tầng Nậm Qua. Thấp nhất là thung lũng

Ming Lương có độ cao 450 ÷ 500m, địa hình khá bằng phẳng, tạo nên cánh đồng rộng

phía Đơng Bắc diện tích thăm dò. Xung quang thung lũng là sườn núi thấp và những dải



6



đồi sót. Đặc điểm địa hình ở đây: phía Đơng Bắc là sườn thoải, đỉnh tròn, đơi khi tạo nên

những bãi bằng trên đỉnh, phía Tây – Tây Nam sườn dốc đỉnh nhọn.

Nhìn tổng quá khu vực Minh Lương có dạng kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam.

Đi từ Đông Nam về Tây Bắc địa hình cao dần từ 500 ÷ 1200 m . Theo các mặt cắt theo

phương Đông Bắc- Tây Nam địa hình có dạng chữ V với độ dốc của sườn từ 30 0 ÷ 400,

chênh cao địa hình từ 500 ÷ 700m. Với địa hình dốc, phân cắt mạnh nên mức độ lộ đá gốc

khá tôt, rất thuận tiện cho việc quan sát địa chất phát hiện khoáng sản và thiết kế các cơng

tình thăm dò.

1.1.3. Mạng sơng, suối

Khu vực Minh Lương có mạng sơng suối khá phát triển. Các suối lớn : Suối Nậm

Qua, Suối Nậm Say Luông.

- Suối Nậm Qua bắt nguồn từ triền núi cao phía Tây Bắc (khu vực Than Uyên)

chảy qua địa hình huyện Văn Bàn và đổ ra sông Hồng. Đoạn chảy qua khu Minh Lương

có chiều dài khoảng 1200m, theo hướng Tây Bắc – Đơng Nam, ơm lấy rìa Đơng Bắc khu

Minh Lương.

- Suối Nậm Say Luông: Suối bắt nguồn từ đỉnh Lang Cung phía Đơng Nam vùng,

chảy về hướng Tây Bắc qua suốt chiều dài vùng nghiên cứu và dổ vào Nậm Qua ở phía

Đơng Minh Lương.

- Các suối nhánh: Nậm Mu, Nậm Điệp bắt nguồn từ dãy núi cao phía Tây Nam

chảy về Đông Bắc gặp suối Nậm Say Luông ở thung lũng Minh Lương. Ngồi ra còn có

nhiều khe nhỏ ở hai sườn núi, chảy xuống suối Nậm Say Lng và Nậm Qua. Nhìn

chung các suối nhanh thường hẹp, dốc, nhiều thác cao.

1.1.4. Đặc điểm khí hậu

Khu Minh Lương thuộc vùng miền núi Tây Bắc Việt Nam nên có khí hậu nhiệt đới

gió mùa, khí hậu trong năm chia làm hai mùa rõ rệt.

- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 trong năm. Nhiệt độ trung bình là 25 0 C, ban

đêm nhiệt độ từ 180 ÷ 200 C. Lượng mưa trong mùa trung bình là 124mm, nhiều nhất vào

tháng 9 lượng mưa trung bình trong tháng là 220mm. Trên các khe, suối nước dâng cao

đơi khi có lũ , rất nguy hiểm cho người qua lại.

7



- Mùa khô từ tháng 11 kéo sang tháng 4 năm sau. Nhiệt độ xuống thấp, trung bình

là 180 trên các đỉnh núi cao nhiệt độ xuống tới 0 0 C. Lượng mưa trung bình trong mùa

41,26mm. Các trận mưa khơng nặng hạt, kéo dài làm cho khơng khí ẩm và lạnh, trong

mùa này thường có sương mù dày đặc từ chiều hơm trước đến 9h sáng hơm sau gây khó

khăn cho việc đi lại, làm việc trong rừng.

1.1.5. Đặc điểm giao thơng

Có thể đi từ Hà Nội theo quốc lộ 3 đến Nghĩa Lộ, theo đường 134 Nghĩa Lộ đi

Than Uyên, gặp đương 279 đi về Minh Lương. Hệ thống đường giao thong nội vụ kém

phát triển chỉ có thể đi ô tô theo quốc lộ 279 từ Văn Bàn qua trung tâm xã Minh Lương và

từ trung tâm xã đi đến xã Nậm Sây. Do địa hình núi non hiểm trở, nê phương tiện vận

chuyển chính vẫn là ngựa thồ và đi bộ .

1.1.6. Đặc điểm dân cư, tình hình kinh tế xã hội

a) Đặc điểm dân cư

Khu Minh Lương có 4 dân tộc anh em cùng sinh sống, với số dân không đông

nhưng phân bố không đồng đều trên địa bàn. Do đặc tính riêng của từng dân tộc, tiếng

nói, phong tục, tập quán và quan hệ họ hang, các dân tộc ít người thường sống quy tụ

thành làng bản riêng biệt, đôàn kết giysp đỡ nhau trong cuộc sống.

b) Tình hình kinh tế xã hội

Kinh tế khu Minh Lương trong những năm gần đây đã có nhiều chuyển biến tích

cực. Song tốc độ phát triển kinh tế chậm, đời sống nhân dân đã được cải thiện, nhưng vẫn

còn nhiều khó khăn, nhiều hộ gia đình thuộc diện nghèo. Kinh tế nơng nghiệp là chính.

Hiện tại kinh tế hộ gia đình cơ bản đã được xóa đói và đang phấn đầu giảm nghèo. Ở

Minh Lương lương thực sản xuất ra không những thỏa mãn nhu cầu tại chỗ, mà còn có dư

để bán ra hững vùng lân cận.

Trong vùng có một cơ sở cơ khí có thể sửa chữa, gia cơng máy móc nhỏ phục vụ

bà con ở địa phương và các máy cho chủ lò vàng.

Việc thơng thương hàng hóa giữa miền xi và miền ngược ngày càng phát triển,

các loại nhu yếu phẩm đền có thể mua được tại Minh Lương.



8



Về văn hóa xã hội: Nhờ chính sách của Đảng và chính phủ, song song với phát

triển kinh tế, đời sống văn hóa của đồng bào các dân tộc ngày càng được nâng cao.

Trường học, trạm xá của các xã đều được xây dựng kiên cố, khang trang. Các lớp học xóa

mù chữ đưa về từng bản vùng cao, hầu hết trẻ em được đi học. Ở Minh Lương có một

trung tâm y tế của huyện Văn Bàn tại đây có đủ điều kirện khám chữa bệnh thơng thường

và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho đồng bào trong vùng. Khu vực Minh Lương đã có điện

lưới quốc gia.

1.2.



Đặc điểm địa chất khu vực khảo sát, tìm kiếm

Đặc điểm địa chất khu vực được thể hiện trên sơ đồ địa chất khu Minh Lương



(Hình I-2)



9



Hình I-2: Sơ đồ địa chất khu vực Minh Lương- Văn Bàn- Lào Cai



10



1.2.1. Địa tầng

Các đá trầm tích phun trào chiếm 1 số khối lượng nhỏ so với cá đá khác ở khu

Minh Lương. Chúng là các trầm tích lục nguyên xen carbonat tuổi Jura muộn- Creta sớm

thuộc hệ tầng Nậm Qua và các thành tạo vụn bờ rời hệ thống Đệ tứ.

a. Hệ Jura thống trên, hệ Creta thống dưới- Hệ tầng Nậm Qua (J3-K1 nq)

Hệ tầng Nậm Qua do Nguyễn Vĩnh xác lập năm 1972 để mô tả các đá trầm tích lục

nguyên ,trầm tích vụn núi lửa và núi lửa phân bố rộng rãi trên dải phía bắc đới Tú Lệ .các

mặt cắt điển đình của hệ tầng :Nậm Qua –Lùng Củng,Minh Lương-Tong Chung Hồ được

mô tả gồm 2 tập.

Tập 1: sỏi sạn kết hạt thô,lẫn cuội cát bột kết,đá phiến sét đen.

Tập 2: đá phiến set đen ,bột kết chứa vật liệu núi lửa hạt nhỏ đến vừa chuyển tiếp

lên là một tập orthophyr, orthophyr thạch anh xen kẽ nhịp nhàng.

b. Hệ Đệ tứ

Trong khu Minh Lương các trầm tích hệ Đệ tứ chiếm diện tích khơng đáng kể, ở

phía Đơng Nam, chúng tập trung chủ yếu ở 2 thung lũng Minh Lương và Nậm Say, ngồi

ra còn phân bố trên những dải hẹp dọc theo các suối trong vùng. Chúng là các trầm tích

bở rời, chủ yếu có nguồn gốc bồi tích, lũ tích và ít sườn tích theo thứ tự thành tạo, có thể

chia các trầm tích trên làm 2 phần:

+ Thống Pleistocen

Các trầm tích thuộc thống Pleistocen phân bố trên những diện tích hẹp thuộc tích

bậc thềm của suối Nậm Qua. Có thể phân các tích tụ Pleistocen là 2 phần, từ dưới lên như

sau:



11



Phần dưới gồm: Cuội, tảng, cát sạn đa thành phần,chúng được kết yếu bởi cát, sét.

Kích thước cuội tảng khơng đồng đều:từ 1cm đến 40cm50cm, độ mài mòn kém. Trong

phần này đơi nơi có chứa vàng sa khống chiều dày dưới 1m3m.

Phần trên gồm:Cát, bột, sét màu nâu đỏ có chỗ bị laterit hóa yếu chiều dày phần

này từ 2m4m.

Tổng chiều dày của tích tụ Pleisttocen khoảng 3m6m.

+ Thống Holocen

Các trầm tích Holocen gồm chủ yếu tướng tích tụ lòng muối, bãi bồi, chúng phân

bố trên diện rộng ở Minh Lương,tạo ra ở đây cách đồng bằng phẳng. Ngồi ra còn thấy

trong các thung lũng Nậm Say, Phình Hồ và dọc theo suối lớn.

Các tích tụ aluvi phân bố chủ yếu ở thung lũng Minh Lương, từ dưới lên có thể

quan sát được 2 phần:

Phần dưới là các tích tụ hạt nhỏ thơ tướng lòng song gòm cát, sạn sỏi và một số

cuội tảng đa thành phần. Kích thước cuội tảng khơng đồng đều, độ mài tròn khá tốt.

Phần trên là các tích tụ hạt nhỏ tướng bãi bồi gồm cát, sét tạo thành lớp đất trồng

màu mỡ.

Các tích tụ proluvi gặp trong các thung lũng nhỏ ở Ngồi Thâu, Phình Hồ, Phù Lai

Ngài, chúng là tập hợp tảng, dăm, cuội lẫn bùn sét với bề dày và quy mô nhỏ, dày khoảng

25m.

Ngồi vàng sa khống trong phần dưới của các tích tụ Holocen bản thân của các

tích tụ này: cuội, sỏi, cát sét đã được nhân dân địa phương khai thác làm vật liệu xây

dựng.

1.2.2. Các thành tạo magma



12



Hai phần ba diện tích khu tìm kiếm lộ các đá núi lửa của phức hệ Nậm Say, bao gồm

chủ yếu là các đá vụn núi lửa tướng phun nổ, các đá phun trào thực thụ và á phun trào

chiếm khoảng 1/3 diện tích ở phía Tây Nam khu. Các đá xâm nhập chỉ lộ trên diện nhỏ ở

khe xâm thực sâu và gặp trong lỗ khoan, chúng gồm chủ yếu là granit kiềm của phúc hệ

Phu Sa Phìn. Các thành tạo magma trong diện tích tìm kiếm được khoanh vẽ và xếp vào

các phức hệ sau:

- Phức hệ đá núi lửa Nậm Say (Rt/J3- K1ns): Ryotrachyt, ryolit, trachyt và tuf của

chúng.

- Phức hệ Phu Sa Phìn (qSysG/K2pp) gồm: Syenit, granosyenir, granit-granophyr.

*Phức hệ đấ núi lửa Nậm Say (Rt/J3- K1ns)

Trong khu Minh Lương đá của phức hệ chiếm diện tích chủ yếu, phân bố thành hai

thành dải kéo dài phương Tây Bắc-Đông Nam, liên tục dọc theo đứt gãy Nậm Say Luông

và kẹp giữa chúng là đá trầm tích lục nguyên- cacbonat của hệ tầng Nậm Qua. Tham gia

vào phức hệ có đá thuộc các tướng:Trầm tích vụn núi lửa, phun trào thực sự, á núi lửa.

Các đá trầm tích vụn núi lửa nằm chuyển tiếp trên các đá trầm tích nguyên-cacbonat

của hệ tầng Nậm Qua.ngồi ra còn những thấu kính nhỏ nằm xen kẹp với đá phun trào.

Thành phần chính là từ hạt mịn đến trung bình, trong tập từ hạt vừa có những lớp, thấu

kính cuội kết núi lửa.

Tướng phun trào thực sự gồm các đá: ryolit, trachyt dạng phân dải,dòng chảy với

lượng ban tinh ít và nhỏ. Các đá này thường xem kẽ nhau và khơng có ranh giới rõ rang.

Tướng á núi lửa gồm các đá ryotrachyte dạng khối,với ban tinh felspat lớn,đén dạng á

núi lửa. Xen trong q trình phun trào có những đợt bùng nổ mà sản phẩm của chúng là

nhữn g thấu kính hoặc lớp mỏng từ nằm xen kẹp với ryotrachyt.

Bề dày của phức hệ khoảng 300m500m

Về tuổi địa chất :Thống nhất với các tài liệu đã công bố trước đây là Jura muộnCreta sớm (J3- K1).

Khoáng sản liên quan: cho đến nay đã tìm được nhiều mạch quặng Sulphyr-vàng,

wolfram, chì kẽm trong diện phân bố các đá núi lửa của phức hệ Nậm Say, song chưa có



13



bằng chứng về tiềm năng sinh khống của phức hệ, có lẽ quặng hóa trong vùng liên quan

nguồn gốc với hoạt động nhiệt dịch hậu phun trào.

Trong khu Minh Lương đá của phức hệ chiếm diện tích không đáng kể, phân bố

chủ yếu bao gồm ba khối ở phía tây bắc và một khối ở rìa Đơng Nam, diện lộ hẹp từ vài

ngàn đến vài chục ngàn m2 xuyên cắt các đá núi lửa phức hệ Nậm Sây (Rt/J3- K1ns)

Dựa vào thành phần thạch học và quan hệ giữa các đá trong phức hệ có thể thấy

phức hệ được thành tạo trong hai pha xâm nhập.

Pha 1(qSy/K2pp1): Bao gồm hai khối nhỏ cỡ vài ngàn m 2, một khối phân bố ở rìa

Tây Bắc và một khối ở rìa Đơng Nam. Gồm các đá syenitporphyr, granosyenit dạng

porphyr.

Pha 2 (qSy/ K2pp1): Đá của pha 2 lộ thành 2 khối nhỏ ở phía Tây Bắc, có dạng kéo

dài phương á vĩ tuyến và á kinh tuyến với diện tích khoáng vài chục ngàn m2.

Thành phần gồm: Granit granophyr, granit felspat kali, granit aplit sang màu. Các

đá trên xuên cắt các đá pha 1và các đá núi lửa của phức hệ Nậm Say, làm cho đá này bị

biến đổi: Sừng hóa, thạch anh hóa, mica hóa (nhiều chỗ gặp đá phiến thạch anh hai mica

có granat) mạnh mẽ.

Về tiềm năng sinh khoáng đối với kim loại kiềm Ta, Nb, Ba, Pb, Zn, Mo.

Theo kết quả nghiên cứu của nhiều nhà địa chất khống hóa vàng có khả năng,có

lien quan với hoạt động nhiệt dịch hậu magma của phức hệ xâm nhập á núi lửa này.

Về tuổi của phức hệ theo bản đồ địa chất tỷ lệ 1:200.000 Tờ Yên Bái (Nguyễn

Vĩnh và nnk,1972) xếp vào Creta muộn (K2).

*Các mạch nhiệt dịch

Các mạch thạch anh nhiệt dịch khá phổ biến trong khu thăm dò .căn cứ vào đặc

điểm phân bố và thứ tự thành tạo,có thể phân ra 2 hệ thống mạch :

- Hệ thống mạch thạch anh có phương Tây Bắc- Đông Nam. Các mạch thạch anh

trong hệ thống này khá phát triển, nhiều nhất là ở góc Tây Bắc diện tích các mạch có

chiều dày 0,5cm đến trên 1m có khi đến 6m kéo dài vài chục mét đến hang trăm mét theo

phương Tây Bắc- Đông Nam gần với phương kinh tuyến (trùng với phương cấu trúc của

vùng). Góc cắm của chúng rất lớn (700÷ 900) hơi nghiêng về phía Đơng.

Thạch anh màu trắng đục, trắng trong, đơi chỗ hơi vàng ám khói, có nhiều mạch

bị đập vỡ nứt nẻ mạnh. Một số mạch có xâm tán các khống vật quặng pyrit, hematit,

14



magnetit, pyrit ở đây khá tự hình, thường gặp trong mạch những tinh thể pyrit hồn

chỉnh, kích thước, từ 0,5cm1cm.

Kết quả phân tích mẫu hấp thụ nguyên tử và nung luyện cho biết trong các mạch

này hàm lượng vàng rất thấp (0,1g/t0,4g/t).

- Hệ thống mạch thạch anh có phương á vĩ tuyến. Các mạch thạch anh có phương

kéo dài á vĩ tuyến, hơi lệch Đông Bắc- Tây Nam gồm các mạch không lớn, đôi khi là hệ

mạch vỏ. Chúng xuyên cắt các mạch thạch anh phương Đông Bắc- Tây Nam và cắt tất

cả các đối tượng chúng gặp phải, chứng tỏ hệ mạch này được thành tạo sau cùng. Thạch

anh ở đây màu trắng xám, vàng xám, ám khói. Trong chúng có nhiều lỗ hổng, có chỗ xốp

dạng tổ ong. Đây chính là các mạch thạch anh chứa khống hóa sulphyr-vàng và là đối

tượng nghiên cứu chính của đề án. Chúng sẽ được mô tả ở phần đặc điểm các than quặng

vàng gốc.

1.2.3. Cấu trúc địa chất

Diện tích vùng Minh Lương-Sa Phìn có chiều rộng 4,5km kéo dài 22km dọc theo

đứt gãy Nậm Say Luông. Theo Nguyễn Đình Hợp(1998) diện tích này nằm ở rìa Đơng

Bắc đới cấu trúc Tú Lệ tiếp giáp với đới Phan Xi Pan, trên đó tồn tại các phức hệ vật

chất.kiến trúc có tuổi jura muộn-creta sớm đến paleogen. Hoạt động kến tạo trong vùng

khá mạnh mẽ. Các hoạt động phá hủy cộng với hoạt động magma xâm nhập đã làm bình

đồ cấu trúc của vùng trở lên phức tạp.

1.2.3.1. Cấu trúc uốn nếp

Trong khu Minh Lương không quan sát được nếp uốn hoàn chỉnh do hoạt động

mạnh mẽ của các đứt gãy nên các phức hệ vật chất kiến trúc bị chia cắt thành nhiều khối

nhỏ.trong mỗi khối này,các đá thường bị vò nhàu, dập vỡ, ép phiến và đơi khi có những

nếp uốn nhỏ. Các nếp uốn kiểu này phát triển trong các tập phiến sét,bội kết của hệ tầng

Nậm Qua.chúng đều có trục kéo dài từ phương Tây Bắc- Đông Nam, hai cánh không dốc

lắm và khá cân xứng (khoảng 400÷ 550)

1.2.3.2. Các đứt gãy phá hủy

Khu Minh Lương nằm trên hệ thống đứt gãy Nậm Say Luông, trong đó đứt gãy

chính chạy dọc theo suối Nậm Say Lng, các đứt gãy phân nhánh hai bên cánh tạo nên

15



hệ thống đứt gãy kiểu xướng cá. Tại đây còn quan sát được một đoạn của đứt gãy Làng

Mu-Bản Hộc, đây cũng chính là một đứt gãy lớn,khống chế cấu trúc của khu.

Để mô tả các đứt gãy, gọi các đứt gãy lớn mang tính phân đới là đứt gãy cấp I (F 1)

các đứt gãy kéo theo có cùng phương với đứt gãy cấp I là đứt gãy gây cấp II (F 2), các đứt

gãy phân nhánh là đứt gãy cấp III (F3).

a. Đứt gãy cấp I:

Trong vùng có 2 đứt gãy cấp I: đứt gãy Nậm Say Luông và đứt gãy Nậm Mu.

- Đứt gãy Nậm Say Luông (F11)

Đứt gãy F11 phân bố dọc theo suối Nậm Say Luông kéo dài theo phương Tây Bắc Đông Nam qua suốt chiều dài diện tích. Đây là một đứt gãy phân chia hai đới Phan Xi

Pan và Tú Lệ.

Tại cầu treo Nậm Say, đoạn đường qua bản Phù Sa La Ngài đi Sa Phìn và nhiều

nơi khác đứt gãy đã tạo nên 1 đới dăm kết rộng (5m đến 20m). Ở Phình Hồ, trên một đoạn

suối đã quan sát được vết tích của mặt trượt,cắm dốc đứng (85 0÷ 900) hơi nghiêng về Tây

Nam. Cánh Đông Bắc của đứt gãy nâng lên, ở phân cao lộ chủ yếu là các đá xâm nhập

của phức hệ Phu Sa Phìn và đá phun trào phức hệ Nậm Say.

Ở phần tiếp thấp sát với đứt gãy, lộ các trầm tích của hệ tầng Nậm Qua. Cánh Tây

Nam hạ xuống và được lấp đầy bởi đá núi lửa của phức hệ Nậm Say.

Từ cầu treo Nậm Say (giao nhau với đứt gãy Nậm Say Nọi) trở về phía Tây Bắc

đến đứt gãy Nậm Mu, đứt gãy F1 1 cắm về Đơng Bắc với góc dốc 70 0÷ 750 ở đoạn này có

lẽ do tác động thêm bởi đứt gãy Nậm Mu, đã tạo nên một đới dập vỡ rộng hang ngàn

mét.trong đới này phát triển nhiều đứt gãy nhánh (F2) xuất phát từ thung lũng Nậm Say

rồi xòe ra chạy gần song song với đứt gãy chính về phía Tây Bắc, và bị chặn lại bởi đứt

gãy Nậm Mu.

- Đứt gãy Nậm Mu (F12)

Đứt gãy F12 chạy dọc theo suối Nậm Mu, Ngòi Diên, kéo dài theo phương á vĩ tuyến.

Đứt gãy cắt qua các trầm tích của hệ tầng Nậm Qua và các đá núi lửa của phức hệ Nậm

Say.

b. Các đứt gãy cấp II:

16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT, ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH, ĐỊA CHẤT THỦY VĂN, KHOÁNG SẢN KHU VỰC MINH LƯƠNG- VĂN BÀN- LÀO CAI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×