Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Quy định của BLDS 2015 về biện pháp bảo lưu quyền sở hữu

Quy định của BLDS 2015 về biện pháp bảo lưu quyền sở hữu

Tải bản đầy đủ - 0trang

tài sản. Cái mà bên mua hướng đến cũng chính là quyền sở hữu tài sản một cách

hợp pháp.

Đúng như tên gọi của biện pháp, sau khi tài sản được giao cho người mua

( mua trả góp, mua trả chậm,trả dần…), cho đến khi người bán nhận đủ tiền thanh

toán thì quyền sở hữu đối với tài sản vẫn thuộc về người bán. Bên mua có quyền

chiếm hữu, quyền đưa tài sản vào khai thác công dụng. Quyền sở hữu chỉ được

chuyển giao cho người mua sau khi thanh toán xong tiền.

Tài sản trong các hợp đồng mua bán có áp dụng biện pháp bảo lưu quyền

sở hữu thông thường là những tài sản có giá trị lớn và có đăng ký quyền sở hữu,

như ô tô, xe máy, nhà ở, quyền sử dụng đất…

+ Phương thức bảo lưu: Người bán có thể bảo lưu bằng cách giữ giấy tờ

đăng ký tài sản hoặc là không sang tên tài sản trên giấy tờ cho người mua.

+ Hình thức bảo lưu: Bảo lưu quyền sở hữu phải được lập thành văn bản

riêng hoặc được ghi trong hợp đồng mua bán.

+ Ý nghĩa: Bảo lưu quyền sở hữu phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ

ba. Tại nghị định 163/2006/NĐ-CP cũng đã có quy định về hiệu lực của các giao

dịch bảo đảm. Trường hợp hợp đồng mua bán có bảo lưu quyền sở hữu được đăng

ký tại cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày giao kết hợp

đồng mua bán thì bên bán có bảo lưu quyền sở hữu có thứ tự ưu tiên thanh toán

cao nhất khi xử lý tài sản bảo đảm (Khoản 2 Điều 13 Nghị định 163/2006/NĐCP). Sau khi thực hiện hợp đồng mua bán trả góp, trả chậm, trả dần, quyền sở hữu

với tài sản vẫn thuộc về bên bán. Bên mua có thể đem tài sản đó để tham gia vào

các giao dịch khác, hoặc để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ khác. Khi xử lý

tài sản đó, thì bên bán tài sản đó vẫn được ưu tiên thanh toán cho đến khi chuyển

giao quyền sở hữu cho bên mua; Nếu bên mua không thực hiện đúng nghĩa vụ của

mình thì bên bán có quyền truy đòi tài sản và được quyền thanh toán theo quy

định của BLDS 2015.

1.2. Nội dung quy định của BLDS 2015 về biện pháp bảo lưu

quyền sở hữu.

Về xác lập bảo lưu quyền sở hữu

Phạm vi áp dụng biện pháp bảo lưu quyền sở hữu



Trang | 3



Khoản 1 Điều 331 BLDS 2015 quy định “Trong hợp đồng mua bán, quyền

sở hữu tài sản có thể được bên bán bảo lưu cho đến khi nghĩa vụ thanh toán được

thực hiện đầy đủ”.

Quy định này gián tiếp cho thấy, biện pháp bảo lưu quyền sở hữu này chỉ có

thể áp dụng đi kèm với hợp đồng mua bán tài sản. Trong khi đó, nếu chỉ xét về

bản chất của tên gọi “bảo lưu quyền sở hữu”, có thể hình dung biện pháp này có

thể áp dụng đi kèm với các giao dịch liên quan đến chuyển quyền sở hữu tài sản.

Điều này có nghĩa là, đối với tất cả các giao dịch có liên quan đến việc chuyển

quyền sở hữu tài sản thì các chủ thể đều có thể thực hiện quyền “bảo lưu quyền sở

hữu” của mình. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn nhận ở góc độ này thì chưa đủ, bảo lưu

quyền sở hữu được áp dụng có tính chất của một biện pháp bảo đảm, tức là cùng

với dấu hiệu nhận biết là áp dụng với các giao dịch mà trong đó có động tác

chuyển quyền sở hữu tài sản còn cần thêm dấu hiệu là các giao dịch này phải làm

phát sinh nghĩa vụ của bên được chuyển giao quyền sở hữu. Tức là nó được hình

thành trên cơ sở các hợp đồng song vụ. Với các phân tích trên, hợp đồng mua bán

chỉ là loại điển hình của hợp đồng song vụ có chuyển giao quyền sở hữu tài sản.

Bên cạnh đó, hợp đồng trao đổi tài sản theo quy định tại Điều 455 BLDS 2015

cũng có những tính chất như đã phân tích trên đây. Nếu áp dụng đúng quy định tại

Điều 331 BLDS 2015, bảo lưu quyền sở hữu không được phép áp dụng đối với

hợp đồng trao đổi tài sản. Tuy nhiên, khoản 4 Điều 455 BLDS 2015 quy định:

“Mỗi bên đều được coi là người bán đối với tài sản giao cho bên kia và là người

mua đối với tài sản nhận về. Các quy định về hợp đồng mua bán từ Điều 430 đến

Điều 439, từ Điều 441 đến Điều 449 và Điều 454 của Bộ luật này cũng được áp

dụng đối với hợp đồng trao đổi tài sản”.

Như vậy, theo các quy định nêu trên, bảo lưu quyền sở hữu tài sản được áp

dụng cả đối với hợp đồng trao đổi tài sản.

Hình thức của xác lập

Khoản 2 Điều 331 BLDS 2015 quy định:“Bảo lưu quyền sở hữu phải được

lập thành văn bản riêng hoặc được ghi trong hợp đồng mua bán”. Như vậy, đây là

một trong số ít các trường hợp mà pháp luật quy định hình thức phải bằng văn bản

đối với giao dịch.

Trang | 4



Việc yêu cầu xác lập bằng văn bản đối với biện pháp bảo lưu quyền sở hữu

là một yêu cầu hợp lý. Bởi lẽ, cần có bằng chứng xác thực cho một hành vi đặc

biệt của bên có nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu tài sản trong việc không thực

hiện nghĩa vụ này. Trên thực tiễn, yêu cầu này sẽ dẫn đến những trường hợp sau:

Thứ nhất, hồn tồn khơng có vấn đề gì nếu theo quy định của pháp luật hợp

đồng mua bán hay hợp đồng trao đổi tài sản phải lập thành văn bản, khi đó điều

khoản bảo lưu quyền sở hữu được ghi vào văn bản – hợp đồng mua bán.

Thứ hai, trong trường hợp hợp đồng mua bán không buộc phải xác lập bằng

văn bản, khi đó các bên sẽ có hai lựa chọn:

Một là, xác lập hợp đồng mua bán bằng văn bản (mặc dù luật không yêu cầu)

và tương ứng với hợp đồng này là điều khoản hay hợp đồng bảo lưu quyền sở

hữu;

Hai là, chấp nhận tình trạng hợp đồng mua bán lập bằng miệng nhưng hợp

đồng (hay điều khoản) bảo lưu quyền sở hữu lại xác lập bằng văn bản.

Về thời điểm xác lập bảo lưu quyền sở hữu tài sản

Biện pháp bảo lưu quyền sở hữu phải được xác lập trước thời điểm thực hiện

việc chuyển giao quyền sở hữu tài sản. Về logic, biện pháp bảo lưu quyền sở hữu

tài sản phải xác lập đồng thời (vì ghi cùng) với hợp đồng mua bán tài sản. Tuy

nhiên, chúng tôi cho rằng, để phù hợp với thực tiễn hiện nay, thời điểm xác lập

biện pháp bảo lưu quyền sở hữu, một cách hợp lý, chỉ cần trước thời điểm chuyển

giao quyền sở hữu là được.

Hiệu lực của biện pháp bảo lưu quyền sở hữu

Vấn đề hiệu lực của biện pháp bảo đảm này được xem xét ở góc độ hiệu lực

đối kháng hay quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ.

Về hiệu lực đối kháng

Khoản 3 Điều 331 BLDS 2015 quy định “Bảo lưu quyền sở hữu phát sinh

hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký”.

Như vậy, việc đăng ký bảo lưu quyền sở hữu không được xem như một quy

định bắt buộc về hình thức để thoả thuận này có hiệu lực. Nó chỉ là cơ sở để làm

phát sinh giá trị đối kháng của biện pháp bảo lưu quyền sở hữu với người thứ ba.

Điều này có nghĩa là nếu khơng được đăng ký, biện pháp bảo đảm này chỉ có giá

trị trong quan hệ giữa các bên tham gia giao dịch.

Bên cạnh đó, BLDS 2015 chưa xác định rõ giá trị của hiệu lực đối kháng

trong trường hợp bên mua tài sản bán lại tài sản này cho người khác. Theo chúng

Trang | 5



tôi, giải pháp cần công nhận là người mua tài sản phải chấp nhận quyền của bên

bán (đang vẫn là chủ sở hữu đối với tài sản).

Quyền và nghĩa vụ của các bên trong bảo lưu quyền sở hữu

Đối với bên bán: Bên bán có quyền “đòi lại tài sản” được quy định tại Điều

332 BLDS 2015:

+ Bên bán có quyền đòi lại tài sản trong trường hợp bên mua khơng hồn

thành nghĩa vụ thanh toán đủ số tiền theo thỏa thuận.

+ Bên bán có quyền yêu cầu bên mua bồi thường thiệt hại trong trường hợp

bên mua làm mất mát, hư hỏng tài sản.

Bên bán có nghĩa vụ hồn trả cho bên mua số tiền bên mua đã thanh toán

sau khi trừ giá trị hao mòn tài sản do sử dụng.

Đối với bên mua: Quyền và nghĩa vụ của bên mua được quy định tại Điều

333 BLDS 2015:

+ Bên mua có quyền sử dụng tài sản và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản

trong thời hạn bảo lưu quyền sở hữu có hiệu lực.

+ Bên mua có nghĩa vụ phải gánh chịu những rủi ro xảy ra với tài sản trong

thời hạn bảo lưu quyền sở hữu, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Về quyền lấy lại tài sản của bên bán

Điều 332 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp bên mua khơng hồn thành

nghĩa vụ thanh tốn cho bên bán theo thỏa thuận thì bên bán có quyền đòi lại tài

sản. Bên bán hoàn trả cho bên mua số tiền bên mua đã thanh toán sau khi trừ giá

trị hao mòn tài sản do sử dụng. Trường hợp bên mua làm mất, hư hỏng tài sản thì

bên bán có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại”.

Với điều khoản bảo lưu quyền sở hữu thì bên có quyền vẫn ln là chủ sở

hữu tài sản. Trong trường hợp này, bản thân quyền sở hữu tài sản là đối tượng của

giao dịch bảo đảm để bảo đảm cho nghĩa vụ thanh toán của bên mua. Vì vậy, nếu

người mua hồn tất nghĩa vụ thanh toán, quyền sở hữu được chuyển giao, ngược

lại, nếu vi phạm nghĩa vụ thanh toán, với tư cách là chủ sở hữu, bên bán được lấy

lại tài sản. Tính chất bảo đảm cao hơn rất nhiều lần so với các biện pháp bảo đảm

thông thường (như cầm cố, thế chấp)1.

Trên thực tế, việc áp dụng điều khoản bảo lưu quyền sở hữu trong thời gian

qua hay bị nhầm lẫn với một kỹ thuật khác có cơ chế gần tương tự. Việc bảo lưu

quyền sở hữu thường đi kèm với việc trả chậm (hay thanh toán nhiều lần trong

1 Giáp Minh Tâm (2017), Bảo lưu quyền sở hữu theo pháp luật dân sự Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật



học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.18.



Trang | 6



thời gian kéo dài), nhưng không phải tất cả các trường hợp trả nhiều lần (trả góp)

đều là bảo lưu quyền sở hữu. Có thể hình dung qua ví dụ đơn giản như sau: A mua

căn hộ chung cư của nhà đầu tư B, vì khơng có tiền thanh tốn một lần, với hỗ trợ

của nhà đầu tư, A được vay tiền với lãi suất ưu đãi của ngân hàng C với thoả

thuận là căn hộ sẽ được thế chấp cho ngân hàng C và A sẽ thanh toán tiền vay

bằng hình thức trả chậm. Với tình huống này, chúng ta có trong thực tế việc “trả

chậm” nhưng khơng có việc bảo lưu quyền sở hữu mà là một hợp đồng “mua đứt,

bán đoạn”. Do đó, nếu vì lý do gì đó A khơng thể tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả

nợ cho ngân hàng C thì C chỉ có thể tiến hành các thủ tục đòi nợ hoặc yêu cầu xử

lý tài sản thế chấp là căn hộ mà A đã mua chứ khơng có quyền lấy lại tài sản như

quy định tại Điều 332 BLDS 2015 nêu trên.

Ngoài ra, Điều 332 còn quy định “Trường hợp bên mua làm mất, hư hỏng

tài sản thì bên bán có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại” có thể sẽ gây ra những

tranh cãi trên trên thực tế. Bởi lẽ, có thể xảy ra hai trường hợp sau:

Thứ nhất, khi bên mua vẫn đang tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán, tài

sản bị mất đột ngột. Nếu vẫn tiếp tục thanh tốn cho đến hết thì bên bán sẽ chuyển

giao quyền sở hữu tài sản sang cho bên mua? Tài sản khơng còn, việc chuyển giao

quyền sở hữu liệu có còn ý nghĩa?

Thứ hai, nếu đang thực hiện nghĩa vụ thanh toán, tài sản bị mất, bên mua

ngưng thanh toán, bên bán đòi tài sản thì phát hiện ra tài sản bị mất. Tại đây,

quyền yêu cầu bồi thường sẽ phát sinh. Quy định này của Điều 332, một cách gián

tiếp, đẩy rủi ro cho bên mua tài sản kể từ thời điểm được giao tài sản. Trong khi

đó, bên bán với tư cách chủ sở hữu tài sản sẽ không gánh chịu rủi ro./.

2. Đánh giá các quy định của BLDS 2015 về biện pháp bảo lưu quyền sở

hữu

Trong BLDS 2005, quy định về Bảo lưu quyền sở hữu mới chỉ được đề cập

đến như một trường hợp đặc biệt của hợp đồng mua bán hàng hóa, cụ thể tại Điều

461 về hợp đồng mua trả chậm, trả dần. Như vậy, bảo lưu quyền sở hữu chưa

được công nhận là một biện pháp bảo đảm chính thức trong luật.

Khắc phục sự thiếu sót đó, cùng với tình hình thực tế trong xã hội ngày nay,

các nhà làm luật đã bổ sung thêm quy định về biện pháp Bảo lưu quyền sở hữu

Trang | 7



trong BLDS 2015. Xét về góc độ kinh tế, hợp đồng mua trả chậm, trả dần xem

như là một phương thức khuyến khích bán hàng của nhiều doanh nghiệp. Bên

mua dù chưa có đủ tiền nhưng vẫn có thể có được loại hàng hóa mà mình mong

muốn. Thông thường, lãi suất trong trường hợp mua trả chậm,trả dần là lãi suất ưu

đãi mang tính chất hỗ trợ cho bên mua tài sản trả chậm, trả dần.

Tuy nhiên, biện pháp này vẫn còn có những vướng mắc trong việc áp dụng,

đặc biệt là quy định về vấn đề quyền sở hữu.

Thứ nhất, theo quy định của BLDS 2015, tài sản được chuyển giao cho bên

mua nhưng quyền sở hữu vẫn thuộc về bên bán cho đến khi bên mua thanh tốn

đủ tiền. Có ý kiến cho rằng: “Việc công nhận điều khoản bảo lưu quyền sở hữu

trong hợp đồng mua bán là một biện pháp bảo đảm chưa hợp lý bởi người mua

chỉ đơn thuần có quyền chiếm hữu tài sản trong khi người bán vẫn có quyền sở

hữu tuyệt đối đối với tài sản theo thỏa thuận của các bên : biện pháp bảo đảm

phải phát sinh từ việc bên bảo đảm trao quyền đối với tài sản của mình cho bên

nhận bảo đảm chứ khơng thể là việc bên chủ sở hữu tài sản bảo lưu quyền sở hữu

của mình”2 . Vậy có nghĩa là, bên mua khơng có quyền đem tài sản đó bán, tặng

cho, cho thuê hoặc đảm bảo cho các nghĩa vụ dân sự khác. Như vậy có đảm bảo

quyền cho bên mua hay không, khi mà bên mua cũng đã trả một phần tiền cho bên

bán và thực tế cũng có nhiều trường hợp như vậy xảy ra và các bên không biết

phải xử lý như thế nào?. Nếu như, người mua đã bán tài sản cho người thứ ba khi

có sự đồng ý của người bán, thì các bên phải có thỏa thuận rõ ràng về việc ai có

nghĩa vụ thanh tốn nốt số tiền còn lại cho người bán, người mua hay người thứ

ba? Và người bán có quyền đòi nợ với ai? Chỉ khi thỏa thuận rõ ràng mới hạn chế

tối đa việc xảy ra những tranh chấp.

Trên thực tế, với những loại giao dịch dân sự có điều kiện, đối tượng của hợp

đồng là những tài sản bắt buộc phải đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền

mà theo tinh thần của luật 2015, người bán có quyền bảo lưu quyền sở hữu bằng



2 Bùi Đức Giang, “Sửa quy định về giao dịch bảo đảm: bước tiến hay lùi”, tại địa chỉ:



https://www.thesaigontimes.vn/118984/Sua-quy-dinh-ve-giao-dich-bao-dam--buoc-tien-hay-lui,

truy cập 10/10/2019.



ngày



Trang | 8



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Quy định của BLDS 2015 về biện pháp bảo lưu quyền sở hữu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×