Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Ví dụ minh họa liên quan đến thứ tự giải thích giao dịch dân sự

Ví dụ minh họa liên quan đến thứ tự giải thích giao dịch dân sự

Tải bản đầy đủ - 0trang


BLDS 2005 để bình luận về nội dung hợp đồng và phán quyết của Tòa án>

Trong vụ án này, sự bất đồng xảy ra nằm ở vấn đề soạn thảo hợp đồng không rõ

ràng, bản hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vườn khơng nêu rõ diện tích

chuyển nhượng.

Ở vụ án này, Tòa án đã sử dụng việc giải thích hợp đồng, xác định nội dung của

hợp đồng qua 2 căn cứ:

- Thứ nhất, dựa vào chính hợp đồng có tranh chấp;

- Thứ hai, dựa vào các tình tiết sau khi hợp đồng được ký kết (bao gồm các hành vi

của các bên, các sự kiện đã diễn ra…).

Hạn chế của Bộ luật dân sự 2005 về giải thích hợp đồng so với một số quy định tại

pháp luật các nước khác, dẫn tới tình trạng tòa án khơng thể viện dẫn được là vì Bộ luật

dân sự khơng đề cập đến việc sử dụng những yếu tố trước và sau khi hợp đồng được

giao kết để xác định nội dung hợp đồng

Thực tiễn cho thấy mặc dù sử dụng biện pháp liệt kê để điều chỉnh nhưng ta khó có

thể tìm được điều khoản nào phù hợp ở ví dụ này, mục tiêu của hoạt động giải thích hợp

đồng ở đây đó là bổ sung lỗ hổng, hợp đồng còn thiếu điều khoản cần bổ sung và thực tế

là khơng có điều khoản nào mập mờ không rõ nghĩa, ở đây Điều 409 có quy định một

trường hợp đối với lỗ hổng hợp đồng đó là bổ sung điều khoản theo tập quán theo khoản

5, tuy nhiên trong một ví dụ cụ thể thì khơng thể tìm được được tập qn nào, như vậy

phải sử dụng giải pháp tại Điều 121 về Giải thích giao dịch dân sự, tuy nhiên Điều

khoản này càng bộc lộ khiếm khuyết còn nghiêm trọng hơn đó là chỉ quy định trường

hợp khơng rõ ràng của điều khoản chứ không hề đề cập tới chức năng bổ sung lỗ hổng

của hợp đồng.

Vấn đề lớn thứ hai, đó là nếu áp dụng giải pháp là thực hiện theo cách sử dụng các

yếu tố nội tại và ngoại tại của hợp đồng và ảnh hưởng của nó đến các giai đoạn của hợp

đồng (theo cách thể hiện của UNIDROIT cũng như cơng ước Viên Về Hợp đồng) thì

pháp luật Việt Nam cũng khơng có một quy chuẩn xác định cụ thể thứ tự áp dụng các

yếu tố đó, các nguyên tắc hạn chế thẩm quyền của chủ thể giải thích khơng làm thay đổi

nội dung nội tại của hợp đồng, hay ý chí của các bên tham gia hợp đồng.

Vấn đề lớn thứ ba đặt ra qua ở trên đây là việc xác định ý chí, giữa một bên là xác

định ý chí thực hay ý chí tuyên bố của các bên, như vậy, tức là giải quyết vấn đề nền

tảng học thuyết trong quy định để tìm giải pháp đối với trường hợp hợp đồng thể hiện

không rõ ràng hay thiếu hụt. Cụ thể là trong trường hợp này, rõ ràng là mục đích hướng

tới của các chủ thể không đồng nhất với cách thức thể hiện ra trong hợp đồng, đồng thời

[8]



trong thực tế cách thức diễn giải của các chủ thể giải thích hợp đồng hay cách hiểu của

mỗi chủ thể là khác nhau (trong vụ việc trên đây, trong thực tế xét xử Tòa án nhân dân

tối cáo và Tòa phúc thẩm cho rằng diện tích đất chuyển nhượng là 380m2 đất trong khi

đó Tòa sơ thẩm và Viện kiểm sát nhân dân tối cao cho rằng diện tích chuyển nhượng là

240m2 đất.

Vấn đề thứ tư, đối với quyết định của tòa án còn tồn tại hai điểm lớn:

(1) Tòa án cấp phúc thẩm xác định “bà Mậu, anh Hiển chuyển nhượng cho anh

Chiến 380 m2 là có cơ sở”, phán quyết này chưa đầy đủ vì trên thực tế, các căn cứ Tòa

án đưa ra là bà Mậu giao anh Hiển 380m2 đất sử dụng và anh Hiển đóng thuế đầy đủ

với 380m2 này, tuy nhiên, nếu chỉ xét vào hợp đồng các bên ký kết, rõ ràng là mỗi bên

đều có cách hiểu của riêng mình về diện tích đất, trong đó chỉ có anh Hiển cho rằng diện

tích là cả 380m2 và nộp thuế đối với phần đất này. Như vậy, tòa án đã khơng chỉ ra các

căn cứ chính xác để diễn giải được ý chí của các bên.

(2) Tòa án cấp phúc thẩm xác định nếu bà Mậu xin hủy hợp đồng chuyển nhượng

thì bà Mậu phải chịu 100% lỗi của bà gây ra, tuy nhiên, hợp đồng giữa bà và anh Hiển

đã được ký kết và đã có hiệu lực, được thực hiện, như vậy phán quyết xin hủy hợp đồng

chuyển nhượng của Tòa là bất hợp lý.

Như vậy, thông qua vụ án này, đã chỉ rõ hơn trường hợp bất đồng trong cách thể

hiện và ý chí thực của các bên dẫn tới nhầm lẫn trong hợp đồng (điều khoản thể hiện

diện tích đất khơng rõ ràng). Như vậy, đòi hỏi tòa án buộc phải tìm ý chí tun bố trong

đó có tính đến thực tế sử dụng mảnh đất (tức là các yếu tố ngoại tại của hợp đồng).



KẾT LUẬN

Trong bối cảnh Việt Nam đang cố gắng hội nhập với nền kinh tế thế giới, các quan

hệ kinh tế đối ngoại diễn ra phức tạp, đan xen lẫn nhau thì pháp luật kinh tế nói chung

và pháp luật về dân sự riêng mà đặc biệt là đối với vấn đề về giải thích giao dịch dân sự

đã và đang đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự có nội

dung khơng rõ ràng, khó hiểu hoặc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Do kiến thức

còn hạn chế cũng như hiểu biết còn chưa sâu kỹ nên em rất mong nhận được sự góp ý từ

phía thầy (cơ). Em xin cảm ơn!



[9]



DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam, tập 1, Nxb. CAND, Hà

2.

3.

4.

5.



Nội, 2017;

Bộ luật Dân sự 2005;

Bộ luật Dân sự 2015;

Luật Thương mại 2005;

Các link đã truy cập:



o



http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2015/32549/Ve-chedinh-giai-thich-giao-dich-dan-su-trong-Du-thao.aspx.



o



https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2445.



o



https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/tieu-luan-mot-so-bat-cap-trong-cac-quydinh-cua-bo-luat-dan-su-ve-thua-ke-theo-di-chuc-9481/.



[10]



MỤC LỤC



[11]



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ví dụ minh họa liên quan đến thứ tự giải thích giao dịch dân sự

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×