Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích mà chủ thể mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó (Điều 118 BLDS 2015). Mục đích của giao dịch dân sự chính là hậu quả pháp lí sẽ phát sinh từ giao dịch mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch. Nói

Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích mà chủ thể mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó (Điều 118 BLDS 2015). Mục đích của giao dịch dân sự chính là hậu quả pháp lí sẽ phát sinh từ giao dịch mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch. Nói

Tải bản đầy đủ - 0trang

nhấn tạo thành nề nếp, trật tự trong lối sống của cá nhân trong quan hệ nhiều mặt tại một

cộng đồng dân cư nhất định.

Tại Điểm b, tiểu mục 2.7 mục 2 Phần II Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày

17/9/2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số

quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về chứng minh và chứng cứ đã nêu định nghĩa về

tập quán như sau: “Tập quán là thói quen đã thành nếp trong đời sống xã hội, trong sản

xuất và sinh hoạt thường ngày, được cộng đồng nơi có tập quán đó thừa nhận và làm

theo như một quy ước chung của cộng đồng”

Như vậy, chỉ những tập quán có nội dung rõ ràng mới được thừa nhận áp dụng để

giải thích các giao dịch dân sự. Với những tập qn có nội dung khơng rõ ràng thì khơng

được thừa nhận áp dụng bởi lẽ, nếu áp dụng một tập qn có nội dung khơng rõ ràng thì

các bên trong quan hệ dân sự khơng thể hoặc rất khó để xác định được quyền và nghĩa

vụ, điều này có thể dẫn đến việc các bên khơng thể thực hiện được các quyền và nghĩa

vụ của mình, gây ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu lực, hiệu quả của quan hệ đó, hơn nữa,

trong trường hợp phát sinh tranh chấp thì các chủ thể có liên quan khác cũng rất khó để

đánh giá tính phù hợp hay khơng phù hợp tập quán của các hành vi xử sự của các bên

khiến cho việc giải quyết vụ việc trở nên khó khăn, phức tạp3.

2.2. Giải thích nội dung hợp đồng

Giải thích hợp đồng được quy định tại điều 404 BLDS 2015, cụ thể như sau:

“1. Khi hợp đồng có điều khoản khơng rõ ràng thì việc giải thích điều khoản đó

khơng chỉ dựa vào ngơn từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí của các bên

được thể hiện trong tồn bộ q trình trước, tại thời điểm xác lập, thực hiện hợp đồng.

2. Khi hợp đồng có điều khoản hoặc ngơn từ có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác

nhau thì phải giải thích theo nghĩa phù hợp nhất với mục đích, tính chất của hợp đồng.

3. Khi hợp đồng có điều khoản hoặc ngơn từ khó hiểu thì phải được giải thích theo

tập qn tại địa điểm giao kết hợp đồng.

4. Các điều khoản trong hợp đồng phải được giải thích trong mối liên hệ với nhau,

sao cho ý nghĩa của các điều khoản đó phù hợp với toàn bộ nội dung hợp đồng.

5. Trường hợp có sự mâu thuẫn giữa ý chí chung của các bên với ngơn từ sử dụng

trong hợp đồng thì ý chí chung của các bên được dùng để giải thích hợp đồng.

6. Trường hợp bên soạn thảo đưa vào hợp đồng nội dung bất lợi cho bên kia thì

khi giải thích hợp đồng phải theo hướng có lợi cho bên kia”



3 https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2445.



[4]



Theo quy định này chúng ta có thể thấy giải thích hợp đồng là trước tiên phải dựa

vào ý chí của các bên trong giao kết, xác lập, thực hiện hợp đồng để giải thích các điều

khoản khơng rõ ràng. Điều khoản không rõ ràng là điều khoản khơng xác định được nội

dung một cách chính xác. Để thực hiện điều khoản này cần phải giải thích cho các bên

hiểu và thống nhất thực hiện. Khi các bên không thống nhất về cách hiểu nội dung của

điều khoản thì phải giải thích theo quy định của pháp luật, theo phong tục tập quán, theo

ngữ nghĩa của từ, theo thực tế thực hiện hợp đồng…

Khi hợp đồng có điều khoản hoặc ngơn từ có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau,

thì khi giải thích hợp đồng, phải xác định điều khoản hoặc ngơn từ đó thuộc tên của hợp

đồng hoặc một điều khoản nào đó của hợp đồng để đưa ra cách giải thích phù hợp. Nếu

ngơn từ đó thuộc một điều khoản cụ thể của hợp đồng thì việc giải thích ngơn từ đó

khơng chỉ căn cứ vào tính chất của hợp đồng mà việc giải thích còn phải đảm bảo khi

điều khoản đó được thực hiện có lợi cho các bên. Việc giải thích điều khoản hoặc ngơn

từ của hợp đồng phải phù hợp với mục đích và tính chất của hợp đồng.

Khi hợp đồng có điều khoản hoặc ngơn từ khó hiểu thì phải được giải thích theo

tập quán tại địa điểm giao kết hợp đồng. Ví dụ, nhiều địa phương sử dụng từ: “mượn

tiền”, “giật tiền”, “giật nóng”, “giật tạm” thay thế cho từ “vay” hoặc “nhượng” thay

cho bán lại… Nếu tranh chấp xảy ra và cần phải giải thích thì phải xác định theo tập

quán địa phương nơi hợp đồng được giao kết.

Một trong những nguyên tắc cần phải được tuân thủ khi giải thích hợp đồng đó là

những nội dung cần giải thích phải được giải thích trong mối liên hệ với các nội dung

khác của hợp đồng. Nếu không tuân thủ nguyên tắc này thì điều khoản được giải thích

sẽ có nội dung không phù hợp với các điều khoản khác của hợp đồng. Điều này dẫn đến

việc các điều khoản của hợp đồng sẽ khó áp dụng trên thực tế, quyền và lợi ích hợp

pháp của các bên bị ảnh hưởng, rất dễ dẫn đến tranh chấp giữa các bên.

Thông thường, quá trình giao kết hợp đồng là một quá trình thương lượng, thỏa

thuận giữa các bên nhằm đưa ra sự thống nhất về ý chí. Kết quả của q trình này là một

hợp đồng được hình thành. Các nội dung của hợp đồng ln xuất phát từ ý chí chung

của các bên giao kết hợp đồng. Do đó, việc mâu thuẫn giữa ý chí chung của các bên với

ngơn từ sử dụng trong hợp đồng rất hiếm khi xảy ra. Nếu xảy ra trường hợp ngôn từ sử

dụng trong hợp đồng mâu thuẫn với ý chí chung của các bên thì giải thích theo ý chí

chung đó.

Hợp đồng là sự thỏa các bên, các điều khoản trong hợp đồng hoàn toàn do các bên

thỏa thuận. Để đạt được những mục đích đặt ra khi giao kết hợp đồng, các chủ thể có thể

[5]



chấp nhận cả những nội dung khơng có lợi cho mình. Do đó, trong hợp đồng có thể có

những điều khoản có lợi cho bên này, khơng có lợi cho bên kia. Tuy nhiên, nếu bên soạn

thảo đưa vào hợp đồng nội dung bất lợi cho bên kia thì khi giải thích hợp đồng phải theo

hướng có lợi cho bên kia.

Mặc dù Điều luật này đã đưa ra các quy định về giải thích hợp đồng dân sự. Tuy

nhiên, vấn đề đặt ra là ai sẽ là người có quyền giải thích hợp đồng. Nếu việc giải thích

hợp đồng do các bên tiến hành mà không đạt được sự thống nhất chung khi giải thích thì

việc giải thích hợp đồng khơng có giá trị và khơng thể thực hiện hợp đồng cho nên bên

bất lợi sẽ khởi kiện đến Tòa án. Trường hợp này việc giải thích hợp đồng thuộc về Tòa

án, bởi vì các trường hợp trên khơng thuộc về giao dịch vơ hiệu, cho nên Tòa án phải ra

bản án dựa trên lẽ công bằng để buộc các bên thực hiện.

Như vậy, trong trường hợp của bạn khi nội dung hợp đồng dịch vụ đã ký mà khơng

rõ ràng thì bạn hồn tồn có quyền u cầu giải thích lại nội dung hợp đồng. Việc giải

thích này trước hết do bạn và bên kia cùng thỏa thuận xác định. Nếu như nội dung đã

thỏa thuận đúng là bất lợi cho bạn thì khi giải thích sẽ theo hướng có lợi cho bạn hơn.

Trong trường hợp các bên khơng thể thỏa thuận được về việc giải thích hợp đồng thì có

thể khởi kiện đến Tòa án để giải quyết.

2.3. Giải thích nội dung di chúc

Giải thích nội dung di chúc được quy định tại điều 648 BLDS 2015, cụ thể như

sau:

“Trường hợp nội dung di chúc không rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau

thì những người thừa kế theo di chúc phải cùng nhau giải thích nội dung di chúc dựa

trên ý nguyện đích thực trước đây của người chết, có xem xét đến mối quan hệ của

người chết với người thừa kế theo di chúc. Khi những người này khơng nhất trí về cách

hiểu nội dung di chúc thì có quyền u cầu Tòa án giải quyết.

Trường hợp có một phần nội dung di chúc khơng giải thích được nhưng khơng ảnh

hưởng đến

các phần còn lại của di chúc thì chỉ phần khơng giải thích được khơng có hiệu

lực”

Di chúc là hành vi pháp lí đơn phương thể hiện ý chí định đoạt tài sải của người để

lai di sản cho chủ thể khác. Do nhiều yếu tố tác động, không phải lúc nào ý chí đích thực

và sự thể hiện ra bên ngồi cũng rành mạch dễ hiểu. vì thế cần có sự giải thích nội dung

di chúc để đảm bảo ý nguyện của người để lại tài sản4.

4 https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/tieu-luan-mot-so-bat-cap-trong-cac-quy-dinh-cua-



bo-luat-dan-su-ve-thua-ke-theo-di-chuc-9481/.

[6]



Theo điều 648 về giải thích nội dung di chúc thì người cơng bố di chúc cùng với

những người thừa kế theo di chúc có quyền “giải thích nội dung di chúc dựa trên ý

nguyện đích thực trước đây của người chết” và nếu khơng thống nhất thì có quyền u

cầu Tòa án giải quyết.

Bên cạnh đó, quy định những người thừa kế theo di chúc có quyền giải thích nội

dung di chúc vẫn có điểm khơng thỏa đáng. Bởi lẽ việc giải thích nội dung di chúc là

một việc khó, đòi hỏi người giải thích phải có hiểu biết pháp luật, có kiến thức văn hoă

xã hội mới có thể giải thích được mà không vi phạm các quy định của pháp luật. Tuy

nhiên, theo điều này thì luật đã trao quyền cho người công bố di chúc và những người

thừa kế mà khơng đòi hỏi ở họ bất kì điều kiện nào .

Ngồi ra, trong rường hợp có một phần nội dung di chúc khơng giải thích được

nhưng khơng ảnh hưởng đến các phần còn lại của di chúc thì chỉ phần khơng giải thích

được khơng có hiệu lực.

3. Ví dụ minh họa liên quan đến thứ tự giải thích giao dịch dân sự

3.1. Nội dung vụ việc liên quan

Quyết định số 49/GĐT-DS ngày 24-02-2005 Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao.

Nội dung vụ việc như sau:

- Ngày 14/01/1993, bà Lê Thị Mậu và anh Nguyễn Huy Hiển với anh Nguyễn

Khắc Chiến lập hợp đồng chuyển nhượng đất vườn bằng giấy viết tay, khơng có xác

nhận của chính quyền địa phương.

- Về diện tích chuyển nhượng, theo bà Mẫu và anh Hiển thì diện tích chuyển

nhượng cho anh Chiến là 240m2 đất. Phía anh Chiến khẳng định bà Mậu, anh Hiển

chuyển nhượng cho anh 380m2 đất. Căn cứ vào lời khai của anh Hiển và anh Chiến,

cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì khi lập hợp đồng ngày 14/01/1993 khơng ghi

diện tích và tứ cận của thửa đất. Theo bản hợp đồng ngày 14/01/1993 do anh Hiển

xuất trình tại tòa án có nội dung ghi diện tích là “10T” ... 240m2.

Trong quyết định của TANDTC đã giữ nguyên bản án dân sự phúc thẩm, theo đó

trong số diện tích 380m2 do bà Mẫu chuyển nhượng cho anh Chiến thì 190m2 thuộc

quyền sử dụng của bà Mậu, bà Mậu có quyền chuyển nhượng, bà Mậu đã nhận tiền và

giao đất cho anh Chiến, nay bà Mậu xin hủy hợp đồng chuyển nhượng thì bà Mậu phải

chịu 100% lỗi của bà gây ra. Đối với diện tích 190m2 đất thuộc quyền sử dụng của bà

Tuất không thuộc quyền định đoạt của bà Mậu nhưng bà Mậu cố tình đưa ra bán. Anh

Chiến cũng biết phần đất đó là của bà Tuất song vẫn cố tình mua. Bà Mậu và anh Chiến

mỗi người phải chịu 50% lỗi do mình gây ra.

3.2. Một số bình luận

[7]




BLDS 2005 để bình luận về nội dung hợp đồng và phán quyết của Tòa án>

Trong vụ án này, sự bất đồng xảy ra nằm ở vấn đề soạn thảo hợp đồng không rõ

ràng, bản hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vườn không nêu rõ diện tích

chuyển nhượng.

Ở vụ án này, Tòa án đã sử dụng việc giải thích hợp đồng, xác định nội dung của

hợp đồng qua 2 căn cứ:

- Thứ nhất, dựa vào chính hợp đồng có tranh chấp;

- Thứ hai, dựa vào các tình tiết sau khi hợp đồng được ký kết (bao gồm các hành vi

của các bên, các sự kiện đã diễn ra…).

Hạn chế của Bộ luật dân sự 2005 về giải thích hợp đồng so với một số quy định tại

pháp luật các nước khác, dẫn tới tình trạng tòa án khơng thể viện dẫn được là vì Bộ luật

dân sự không đề cập đến việc sử dụng những yếu tố trước và sau khi hợp đồng được

giao kết để xác định nội dung hợp đồng

Thực tiễn cho thấy mặc dù sử dụng biện pháp liệt kê để điều chỉnh nhưng ta khó có

thể tìm được điều khoản nào phù hợp ở ví dụ này, mục tiêu của hoạt động giải thích hợp

đồng ở đây đó là bổ sung lỗ hổng, hợp đồng còn thiếu điều khoản cần bổ sung và thực tế

là khơng có điều khoản nào mập mờ khơng rõ nghĩa, ở đây Điều 409 có quy định một

trường hợp đối với lỗ hổng hợp đồng đó là bổ sung điều khoản theo tập quán theo khoản

5, tuy nhiên trong một ví dụ cụ thể thì khơng thể tìm được được tập quán nào, như vậy

phải sử dụng giải pháp tại Điều 121 về Giải thích giao dịch dân sự, tuy nhiên Điều

khoản này càng bộc lộ khiếm khuyết còn nghiêm trọng hơn đó là chỉ quy định trường

hợp không rõ ràng của điều khoản chứ không hề đề cập tới chức năng bổ sung lỗ hổng

của hợp đồng.

Vấn đề lớn thứ hai, đó là nếu áp dụng giải pháp là thực hiện theo cách sử dụng các

yếu tố nội tại và ngoại tại của hợp đồng và ảnh hưởng của nó đến các giai đoạn của hợp

đồng (theo cách thể hiện của UNIDROIT cũng như công ước Viên Về Hợp đồng) thì

pháp luật Việt Nam cũng khơng có một quy chuẩn xác định cụ thể thứ tự áp dụng các

yếu tố đó, các nguyên tắc hạn chế thẩm quyền của chủ thể giải thích khơng làm thay đổi

nội dung nội tại của hợp đồng, hay ý chí của các bên tham gia hợp đồng.

Vấn đề lớn thứ ba đặt ra qua ở trên đây là việc xác định ý chí, giữa một bên là xác

định ý chí thực hay ý chí tuyên bố của các bên, như vậy, tức là giải quyết vấn đề nền

tảng học thuyết trong quy định để tìm giải pháp đối với trường hợp hợp đồng thể hiện

không rõ ràng hay thiếu hụt. Cụ thể là trong trường hợp này, rõ ràng là mục đích hướng

tới của các chủ thể khơng đồng nhất với cách thức thể hiện ra trong hợp đồng, đồng thời

[8]



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích mà chủ thể mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó (Điều 118 BLDS 2015). Mục đích của giao dịch dân sự chính là hậu quả pháp lí sẽ phát sinh từ giao dịch mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch. Nói

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×