Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Những đóng góp và hạn chế của Đạo gia trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay

Những đóng góp và hạn chế của Đạo gia trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay

Tải bản đầy đủ - 0trang

Ngược thời gian trở về thời điểm cuối thể kỷ thứ II, Đạo giáo có hai phái tu

là nội tu và ngoại dưỡng, phái nội tu phổ biến ở Việt Nam hơn. Thời Bắc thuộc,

Đạo giáo chỉ phổ biến trong dân gian, đến thời phong kiến độc lập, các nhà

Đinh, Lê, Lý, Trần đều coi trong các đạo sỹ không kém các tăng sư, bên cạnh Tăng

quan còn có cả Đạo quan. Đạo giáo đi vào Việt Nam, đặc biệt là Đạo giáo phù

thủy, tìm thấy ngay rất nhiều điểm tương đồng với tín ngưỡng ma thuật của người

dân Việt nên Đạo giáo ăn sâu vào người Việt rất dễ dàng. Trước đó người Việt đã

từng sùng bái ma thuật, phù phép. Họ tin rằng những lá bùa, những câu thần chú có

thể chữa được bệnh tật và trị được tà ma. Tương truyền Hùng Vương vì giỏi phù

phép nên có uy tín thu thập được 15 bộ để lập nên nước Văn Lang. Dưới thời Bắc

thuộc, Đạo giáo rất phát triển ở Việt Nam. Nhiều quan lại Trung Hoa sang Việt

Nam cai trị đều thích phương thuật, ví dụ Cao Biền đời Đường từng "cưỡi diều tìm

long mạch" để triệt nguồn nhân tài Việt Nam. Thế nên, nếu Nho giáo phải đến thời

Lý mới được thừa nhận thì Đạo giáo hòa trộn với tín ngưỡng ma thuật đến mức

khơng còn ranh giới.Thời Bắc thuộc, Đạo giáo chỉ phổ biến trong dân gian, đến

thời phong kiến độc lập, các nhà Đinh, Lê, Lý, Trần đều coi trong các đạo sỹ khơng

kém các tăng sư, bên cạnh Tăng quan còn có cả Đạo quan.

Vào thế kỷ thứ 18, dưới đời vua Lê Thần Tông, xuất hiện một trường phái

Đạo giáo Việt Nam có tên Nội Đạo. Người sáng lập là Trần Tồn q ở Thanh Hóa,

đạo có đến 10 vạn tín đồ và Trần Toàn được coi là Thượng sư. Tương truyền, vua

Lê Thần Tông bị bệnh mọc lông cọp, Trần Toàn dùng thần chú mà chữa khỏi. Phái

đạo này phát triển từ Thanh Hóa vào đến Nghệ An rồi lan ra Bắc đến tận Hà Nội.

Khoảng đầu những năm 1920, hàng vạn tín đồ còn tập hợp ở Giảng Võ, Hà Nội để

cúng lễ và chữa bệnh.

Từ đời Lê Trung Hưng, Đạo giáo bắt đầu suy thoái, những đạo quán bị Phật

giáo hóa, trở thành chùa. Bên cạnh tượng các thánh của Đạo giáo còn có thêm

tượng Phật.

7



Ngày nay, Đạo giáo Việt Nam với tư cách là một tôn giáo khơng còn tồn tại

nữa, tuy nhiên những ảnh hưởng của nó đến tư duy và đời sống xã hội của người

Việt thì vẫn còn.

- Triết lý vơ vi hay khái niệm âm dương vẫn được nhiều người biết đến. Học

thuyết âm dương của Đạo giáo vẫn là nền tảng lý luận của y học cổ truyền Việt

Nam

- Thuật phong thủy, các phương pháp dưỡng sinh, các môn võ thuật, các hình

thức bói tốn, cúng bái, trừ tà của Đạo giáo vẫn phổ biến tại Việt Nam.

- Tại Hà Nội vẫn còn một số đạo quán của Đạo giáo như Thăng Long tứ quán

bao gồm Trấn Vũ quán, nay gọi là đền Quán Thánh ở phố Quán Thánh; Huyền

Thiên quán, nay là chùa Huyền Thiên ở phố Hàng Khoai; Đồng Thiên quán, nay là

chùa Kim Cổ ở phố Đường Thành; Đế Thích quán, nay là chùa Vua ở phố Thịnh

Yên3

3.2. Những hạn chế của Đạo gia trong đời sống xã hội Việt Nam

Thứ nhất, Tư tưởng Đạo gia sẽ dẫn chúng ta đến với chủ nghĩa duy tâm thần

bí về “đạo”, tư tưởng biện chứng tuần hồn thơ thiển, chủ nghĩa khách quan tuyệt

đối, thuyết bất khả tri…Lão tử cho rằng “Khơng cần ra cửa mà biết thiên hạ, khơng

cần nhòm qua khe cửa mà biết đạo trời”. Có yếu tố duy tâm trong tư tưởng , thể

hiện ở chỗ đề cao tư duy trừu tượng, coi khinh nghiên cứu sự vật cụ thể.

Thứ hai, tư tưởng biện chứng đó tuy đã vẽ lên bức tranh mn hình vạn

trạng, đa dạng và phong phú về vũ trụ vạn vật, với các mặt đối lập, các mối liên hệ

phổ biến và sự vận hành thống nhất của Đạo, nhưng về cơ bản nó vẫn còn chất

phác, ngây thơ, trực quan cảm tính, tiên nghiệm. Nó chưa có sơ sở để vạch ra cái

bản chất, tất yếu bên trong của sự vật hiện tượng. Vạn vật chỉ vận động tuần hoàn,

lặp đi lặp lại một cách buồn tẻ mà khơng có sự ra đời của cái mới, nghĩa là khơng

có sự phát triển.



3



http://nxbhanoi.com.vn/chi_tiet_tin/tabid/204/cateID/4/artilceID/14441/language/vi-VN/Default.aspx,



ngày 20/9/2019.



8



Đạo gia chủ trương con người không nên tăng cường các hoạt động sáng tạo,

khơng cần mở mang trí tuệ, chấm dứt cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội, mà quay về

sống như thời nguyên thủy, đúng với bản tính tự nhiên thuần phác của một lồi

động vật bậc cao được sinh ra từ “đạo”… phủ nhận mọi hoạt động thực tiễn của

con người.

Thứ ba, về đường lối trị nước an dân: Chính phủ n tĩnh vơ vi thì dân sẽ

thành chất phác, chính phủ tích cực làm việc thì dân đầy tai họa. Bậc Thánh nhân

trị vì thiên hạ phải bằng lẽ tự nhiên của đạo vô vi, và chủ trương xóa bỏ hết mọi

ràng buộc về mặt đạo đức, pháp luật. Đạo gia chủ trương xây dựng một xã hội phi

thể chế, phi nhà nước, phi giáo dục, phi khoa học – kỹ thuật, chẳng cần văn hóa với

văn minh; một cộng đồng ít dân ngu đần ấu trĩ, sống bằng săn bắn hái lượm gắn với

trồng trọt và chăn nuôi tự cấp tự túc, khép kín hồn tồn, khơng trao đổi qua lại với

bên ngồi. Đây là tư tưởng lạc hậu và thụt lùi về quan điểm chính trị - xã hội.

Thứ tư, chủ trương phải toàn sinh và vị ngã, nghĩa là phải yên theo thời gian

mà ở thuận, vì cái tự nhiên nào cũng hợp lý cả; không khen chê phải – trái, tốt –

xấu làm gì, phải lánh nạn để bảo tồn sinh mạng.Tư tưởng này khiến cho con người

nhu nhược, ích kỷ, sống vì bản thân, khơng biết đấu tranh vì lợi ích chung.

KẾT LUẬN

Trong lịch sử, Trung Quốc và Việt Nam là hai quốc gia có mối quan hệ lâu

đời, có sự giao lưu và ảnh hưởng về nhiều mặt rõ rệt. Những tư tưởng triết học của

Trung Quốc từ lâu đã du nhập và bén rễ trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa

và tinh thần người Việt. Đạo gia du nhập vào Việt Nam chủ yếu bằng con đường

của Đạo giáo. Tuy nhiên những tư tưởng về Bản thể luận của Đạo gia ln có sức

ảnh hưởng khơng nhỏ tới bản sắc văn hóa Việt. Vì thế việc nghiên cứu những quan

điểm về con người trong Đạo gia chẳng những góp phần nâng cao sự hiểu biết về

tư tưởng triết học phái Đạo gia, mà còn góp phần tìm hiểu những ý nghĩa hiện thời

của nó đối với Việt Nam.

9



DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.



Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Triết học (dùng cho học viên cao học



và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học), Nhà xuất bản Lý luận

chính trị, Hà Nội, 2006.

2.



https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1o_gi%C3%A1o,



ngày 19/9/2019.

3.



https://loigiaihay.com/tu-tuong-dao-gia-



c126a20364.html#ixzz6051nfqyF, ngày 19/9/2019.

4.



http://nxbhanoi.com.vn/chi_tiet_tin/tabid/204/cateID/4/artilceID/14441/la



nguage/vi-VN/Default.aspx, ngày 20/9/2019.



10



MỤC LỤC

MỞ ĐẦU...................................................................................................................1

NỘI DUNG...............................................................................................................1

1. Khái quát chung về Đạo gia..................................................................................1

2. Quan điểm của Đạo gia về vấn đề Bản thể luận....................................................5

3. Những đóng góp và hạn chế của Đạo gia trong đời sống xã hội Việt Nam hiện

nay.............................................................................................................................7

3.1. Những đóng góp của Đạo gia trong đời sống xã hội Việt Nam.........................7

3.2. Những hạn chế của Đạo gia trong đời sống xã hội Việt Nam............................8

KẾT LUẬN.............................................................................................................10

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO



11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Những đóng góp và hạn chế của Đạo gia trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×