Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Khái quát chung về Đạo gia

Khái quát chung về Đạo gia

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đạo giáo thâu nhiếp nhiều tư tưởng đã phổ biến từ thời Nhà Chu (1040-256 trước

CN). Thuộc về những tư tưởng này là vũ trụ luận về thiên địa, ngũ hành, thuyết về

năng lượng, chân khí), thuyết âm dương và Kinh Dịch. Nhưng, ngoài chúng ra,

những truyền thống tu luyện thân tâm như điều hoà hơi thở, Thái cực quyền, Khí

cơng, Thiền định, thiết tưởng linh ảnh, thuật luyện kim và những huyền thuật cũng

được hấp thụ với mục đích đạt trường sinh bất tử. Việc tu luyện đạt trường sinh có

bắt nguồn có lẽ từ những khái niệm rất cổ xưa, bởi vì trong Nam Hoa chân

kinh của Trang Tử, một tác phẩm trứ danh của Đạo giáo thế kỉ thứ 4 trước CN thì

các vị tiên trường sinh bất tử đã được nhắc đến, và đại diện tiêu biểu cho họ chính

là Hồng Đế và Tây Vương Mẫu, những hình tượng đã có trong thời nhà Thương,

thiên niên kỉ 2 trước CN.

Đạo trong sự trình bày của Đạo gia (609 trước CN) là một khái niệm trừu

tượng chỉ cái tự nhiên, cái có sẵn một cách tự nhiên: "Người ta bắt chước Đất, Đất

bắt chước Trời, Trời bắt chước Đạo, Đạo bắt chước Tự nhiên". Nó là nguồn gốc

của vạn vật. Đức là biểu hiện cụ thể của Đạo trong từng sự vật. Đạo sinh ra vạn vật,

nhưng làm cho vật nào hình thành ra vật ấy và tồn tại được trong vũ trụ là do Đức.

Nếu Đạo là cái Tĩnh vơ hình thì Đức là cái Động hữu hình của Đạo. Nếu Đạo là

bản chất của vũ trụ thì Đức là sự cấu tạo và tồn tại của vũ trụ

Sự sinh hóa từ Đạo ra Đức, từ Đức trở về Đạo ở Đạo gia thấm nhuần sâu sắc

tinh thần biện chứng âm dương. Được chi phối bởi luật quân bình âm dương, vạn

vật tồn tại theo lẽ tự nhiên một cách rất hợp lý, công bằng, chu đáo, và do vậy mà

mầu nhiệm. Hợp lý, vì theo Đạo gia, lẽ tự nhiên giống như việc giương cung, cao

thì ghìm xuống, thấp thì nâng lên. Cơng bằng, vì nó ln bớt chỗ thừa mà bù vào

chỗ thiếu. Chu đáo, vì nó như cái lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà khó lọt. Bởi vậy

mà nó mầu nhiệm tới mức khơng cần tranh mà chiến thẳng, khơng cần nói mà ứng

nghiệm. Mọi sự bất cập hay thái quá đều trái với lẽ tự nhiên, và do vậy sẽ tự điều

chỉnh theo luật âm dương chuyển hóa: "vật hễ bớt thì nó thêm, thêm thì nó bớt".

2



Từ đây, Đạo gia suy ra triết lý sống tối ưu là muốn làm việc gì, phải đi từ điểm

đối lập, phải vơ vi (khơng làm). Vơ vi khơng có nghĩa là hồn tồn khơng làm gì,

mà là hòa nhập với tự nhiên, đừng làm gì thái quá. Vì làm thái quá thì theo luật âm

dương "vật cực tắc phản", kết quả thu được còn tệ hại hơn là hồn tồn khơng làm

gì. Triết lý vô vi áp dụng vào đời sống cá nhân là "chỉ vì khơng tranh nên thiên hạ

khơng ai tranh nổi với mình". Áp dụng vào đời sống xã hội, Đạo gia không tán

thành lối cai trị cưỡng chế, áp đặt đương thời, ơng nói muốn dân n ổn thì cai trị

một nước phải "giống như kho một nồi cá nhỏ": cá nhỏ nên để yên, không cạo vẩy,

không cắt bỏ ruột, khi kho không quấy đảo – cạo, cắt, khuấy đảo chỉ tổ làm cho cá

nát. Đạo chẳng phải cái gì khác ngồi sự phạm trù hóa triết lý tơn trọng tự nhiên;

còn Đức chính là sự phạm trù hóa luật âm dương biến đổi. Khổng thì "nhập thế",

"hữu vi", còn Lão thì "xuất thế", "vơ vi". Đạo đức kinh của Đạo gia là một tác

phẩm chứa một số quan điểm siêu hình học có giá trị lớn của triết học Trung

Hoa[1] chính vì vậy Hegel từng nhận xét Đạo gia xứng đáng là người đại diện cho

tinh thần phương Đông cổ đại[2]. Trong khi đạo của Khổng Tử hết sức thực tế vẫn

khơng được dùng thì dễ hiểu là triết lý của Đạo gia càng không thể được sử dụng.

Đạo gia phàn nàn: "Lời nói của ta rất dễ hiểu, rất dễ làm, thế mà thiên hạ không ai

hiểu, không ai làm". Mãi đến Trang Tử (khoảng 369 – 286 tr.CN), học thuyết của

Đạo gia mới lại được người đời chú ý.

Trong lĩnh vực nhận thức, phát triển tư tưởng biện chứng của Đạo gia, Trang

Tử đã tuyệt đối hóa sự vận động, xóa nhòa mọi ranh giới giữa con người với thiên

nhiên, giữa phải và trái, giữa tồn tại và hư vô, đẩy phép biện chứng thành một thứ

tương đối luận. Trong lĩnh vực xã hội, nếu như Đạo gia chỉ dừng ở mức không tán

thành cách cai trị hữu vi, thì Trang Tử căm ghét kẻ thống trị đến cực độ; ông không

chỉ bất hợp tác với họ mà còn nguyền rủa, châm biếm họ là bọn đại đạo (kẻ trộm

lớn). Nhưng Trang Tử đẩy phép vơ vi với chủ trương sống hòa mình với tự nhiên

của Đạo gia thành chủ yếm thoát thế tục, trở về xã hội nguyên thủy: "Núi không

3



đường đi, đầm không cầu thuyền, mn vật sống chung, làng xóm liên tiếp cùng ở

với cầm thú". Trong cảnh loạn li cuối thời Đông Hán (thế kỷ thứ 2), tư tưởng của

Đạo gia cộng với chất duy tâm mà Trang Tử đưa vào đã trở thành cơ sở cho việc

thần bí hóa đạo gia thành Đạo giáo. Chủ trương vô vi cùng với thái độ phản ứng

của Lão – Trang đối với nền chính trị Trung Hoa cùng tính chất thần bí tơn giáo

khiến cho Đạo giáo rất thích hợp để dùng vũ khí tinh thần tập hợp nơng dân khởi

nghĩa.

Đạo giáo thờ "Đạo" và tôn Đạo gia làm giáo chủ, gọi là "Thái Thượng Lão

Qn", coi ơng là hóa thân của "Đạo" giáng sinh xuống cõi trần. Nếu mục đích của

việc tu theo Phật giáo là thốt khổ thì mục đích của việc tu theo Đạo giáo là sống

lâu. Đạo giáo có hai phái: Đạo giáo phù thủy dùng các pháp thuật trừ tà trị bệnh,

chủ yếu giúp cho dân thường khỏe mạnh; Đạo giáo thần tiên dạy tu luyện, luyện

đan, dành cho các quý tộc cầu trường sinh bất tử. Kinh điển của Đạo giáo gọi là

Đạo tạng kinh; ngoài sách về nghi lễ, giáo lý, Đạo tạng còn bao gồm cả các sách

thuốc, dưỡng sinh bói tốn, tướng số, coi đất, thơ văn, bút ký… tổng cộng lên đến

trên 5000 quyển.

Đạo giáo thần tiên hướng tới việc tu luyện thành thần tiên trường sinh bất tử.

Tu tiên có hai cách: nội tu và ngoại dưỡng. Ngoại dưỡng là dùng thuốc trường sinh,

gọi là kim đan (hay linh đan, thu được trong lò bằng cách luyện từ một số khống

chất như thần sa, hùng hoàng, từ thạch, vàng). Nội tu là rèn luyện thân thể, dùng

các phép tịch cốc (nhịn ăn), dưỡng sinh, khí cơng… lấy thân mình làm lò luyện,

luyện tinh thành khí, luyện khí thành thần, luyện thần trở về hư vô (Đạo). Con

người cũng như vạn vật là từ "Đạo" mà sinh ra; cho nên tu luyện là trở về với

"Đạo".

2. Quan điểm của Đạo gia về vấn đề Bản thể luận

Thuật ngữ bản thể luận (ontology) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp mang

nghĩa là những lời lẽ, học thuyết… tạo thành “Học thuyết về tồn tại”. Theo nghĩa

này bản thể luận được hiểu là học thuyết triết học về thực tồn nói chung, hồn tồn

4



độc lập với các dạng tồn tại cụ thể của nó. Hay nói cách khác, bản thể luận là quan

niệm, luận thuyết về tồn tại.

Bản thể luận là một trong những nội dung cơ bản của triết học luôn được các

nhà triết học đề cập đến bất luận theo quan điểm, trường phái nào. Những quan

điểm về bản thể luận có thể rất khác nhau, nhưng tựu chung lại theo cách này hay

cách khác, ở trình độ lý luận hay chỉ là những quan niệm có tính hệ thống thì đều

nhằm tới việc lý giải sự tồn tại hiện thực trên lát cắt cội nguồn, khởi nguyên của nó.

Trong tư tưởng triết học của Đạo gia, về bản thể luận, "Đạo" là phạm trù

quan trọng nhất, ông cho rằng mọi sự sinh thành, biến hóa của vạn vật đều từ "Đạo"

mà ra. "Đạo" của Đạo gia nhiều khi được dùng như một thuật ngữ để chỉ về trật tự

của tự nhiên, về tính quy luật: "Người theo quy luật của đất, đất theo quy luật của

trời, trời theo quy luật của "đạo", "đạo" theo quy luật của tự nhiên"; nhiều khi Đạo

gia lại dùng "Đạo" để hình dung vạn vật, có chỗ ông lại cho "Đạo” là cái có trước

vạn vật; có trước hiện tượng đầu tiên: "Đạo" sinh ra "khí thống nhất", "khí thống

nhất" sinh ra hai thứ "âm dương" đối lập, hai thứ "âm dương" đối lập sinh ra ba lực

lượng "trời, đất, người"; ba lực lượng đó sinh ra vạn vật"." Đạo" của Đạo gia là một

thứ rất huyền bí, thốt trần, khơng thể dùng ngơn ngữ, khái niệm để nói và nhận

thức về nó: cái "đạo" có thể dùng lời nói để diễn đạt khơng phải là đạo vĩnh hằng

khơng thay đổi, cái tên có thể nói ra được không phải là tên vĩnh hằng không thay

đổi, cái khơng tên là nguồn gốc của vạn vật, cái có tên là mẹ của vạn vật", nghĩa là

vượt ra ngoài nhận thức của loài người.

Trong lý luận bản thể của Đạo gia, gắn liền với phạm trù "Đạo” còn có phạm

trù "Đức". Nếu như "Đạo" là một vật siêu tự nhiên, thần bí khó hiểu thì "Đức" là

thứ "lý sâu sắc và phổ biến", là "hình dáng của vật", tương đương với tính quy luật

tồn tại và vận động của vạn vật: "Đạo làm cho vạn vật sinh trưởng, Đức làm cho

vạn vật tươi tốt", "Đạo quán triệt cả thiên hạ, Đức của nó sẽ trở nên phổ biến... Ta

có thể biết được thiên hạ là nhờ đã dựa vào điểm đó", và như vậy có nghĩa là ngtlòi

ta có thế nhận thức được. Đây rõ ràng là nhản tố duy vật trong tư tường triết học về

5



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Khái quát chung về Đạo gia

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×