Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
4 Các rãnh sâu đại dương

4 Các rãnh sâu đại dương

Tải bản đầy đủ - 0trang

trong rãnh sâu Mariana ở phí bắc của New Guinea, tây nam Thái Bình

Dơng, nơi mà đáy biển nằm sâu 10.9 km so víi mùc níc biĨn.

5. Hệ tầng Nậm Cô (NP3- ε1 nc) ở Việt Nam



Hệ tầng Nậm Cô là một đối tượng địa chất được nhiều nhà địa chất quan tâm, bởi nó

nằm trong khu vực có nhiều hệ thống kiến tạo quan trọng và việc nghiên cứu chúng chỉ ra

nhiều cứ liệu địa chất quan trong cho việc luận giải địa chất.

Hệ tâng Nậm Cô phân bố thành các đá dọc suối Nậm Mức, thượng nguồn Nậm Cô (x =

21°40’, y = 103°15’) thuộc khu vực Tây Bắc Bộ; trên địa bàn các tỉnh Sơn La, Lai Châu và

Thanh Hố. Mặt cắt điển hình được mơ tả như sau: a, Đá phiến hai mica-granat, 300-350 m;

b) đá phiến thạch anh-mica xen đá phiến sericit-clorit, đá phiến thạch anh-sericit,150-250 m;

c) đá phiến thạch anh felspat-hai mica, 100 m; d) đá phiến mica, đá phiến horblen-granat, 100

m; e) đá phiến thạch anh-muscovit xen quarzit, 400 m; f) quarzit, quarzit có muscovit-felspat,

500 m; g) đá phiến thạch anh-sericit xen quarzit, 600 m. Tổng chiều dày của hệ tầng này

khoảng 2500 m. Ranh giới dưới chưa rõ, bị phủ bởi cuội kết tuổi Cambri trung. Các đá của hệ

tầng Nậm cô thuộc tướng biển nông, biến chất tướng đá phiến lục. Các nghiên cứu định tuổi

bằng hóa đá ở giai đoạn trước cho thấy tuổi của hệ tầng Nậm Cô vào khoảng NeoproterozoiCambri sớm .Quan hệ của hệ tầng với các đá cổ hơn chưa quan sát được, về phía trên, hệ tầng

Nậm Cô bị cuội kết cơ sở của hệ tầng Cambri giữa Sông Mã phủ bất chỉnh hợp lên trên.



8



Hình 7. Bản đồ địa chất của khu vực vành đai Sơng Mã và khu vực tiếp giáp phía Tây Bắc

Việt Nam. 1 - Đệ tứ; 2- hệ tầng Yên Châu 3-hệ tầng Đồng Trầu , 4- hệ tầng Suối Bàng, 5-hệ

tầng Cò Nòi , 6- hệ tầng Sơng Đà, 7–hệ tầng: Yên Duyệt, Cẩm Thủy và Viên Nam; 8- hệ tầng

Đá Mài hoặc Bắc Sơn và Bản Diệt; 9- hệ tầng Nậm Pia, 10 -hệ tầng Sông Mã và hệ tầng

Hàm Rồng, 11 -Nậm Cô, 12 - phức hệ Pắc Nậm, 13 -phức hệ Bò Xinh; 14 - phức hệ Chiềng

Khương, 15- phức hệ Điện Biên; 16 - Granodiorite và Mozonite phức hệ Sông Mã;17 –

Granite phức hệ Sông Mã, 18 - Granite phức hệ Phia Bioc.

Khối Nậm Cô phân bố khá rộng thành các diện đẳng thước ở các vùng Mường Lay, Tuần

Giáo (Điện Biên), Mường Lát (Thanh Hóa) và thành dải kéo dài tạo nên nếp lồi Sông Mã ở

Sơn La. Trong vùng chịu ảnh hưởng của chế độ kiến tạo khá phức tạp vì vậy phát triển nhiều



9



hệ thống đứt gãy theo những phương khác nhau. Kết quả là các đá bị nứt nẻ, vò nhàu, uốn

lượn, milonit hoá.. Đứt gãy lớn nhất trong vùng là đứt gãy Sơng Mã. Đứt gãy này có phương

Tây Bắc – Đông Nam, kéo dài từ biên giới Việt Lào đến bờ biển thuộc huyện Tĩnh Gia –

Thanh Hoá. Đứt gãy Na Hiêng –Phiêng Na, đứt gãy Điện Biên Phủ.

Đơn vị kiến tạo ở khu vực phía Tây Bắc Việt Nam

Đặc điểm đặc trưng nhất của khu vực Tây Bắc Việt Nam là sự tồn tại của một số đơn vị

kiến tạo với những đặc điểm khác nhau giữa khối Nam Trung Quốc và khối Đông Dương .

Từ đông sang tây ,các đơn vị như sau:



Hình 8. Các phân khu kiến tạo khu Tây Nam Trung Quốc và phía Bắc Đông Nam Á [8];

1.Ailaoshan-đới khâu Sông Mã; 2.rift Sông Đà; 3.trũng Tú Lệ; 4.vành đai Ailaoshan-Fan Si

Pan 5.vành đai Núi Con Voi.

a) Rìa Đơng Nam của khối Nam Trung Hoa được đặc trưng bởi sự tồn tại của một bồn trũng

có tuổi từ Paleo đến Meso Proterozoi của các đá biến chất trình độ cao và các trầm tích

tướng biển nơng có tuổi Neoproterozoi đến Trias giữa. Từ cuối kỷ Triat đến Neogen , q

trình trầm tích trong khu vực chủ yếu là trầm tích tướng bờ.

b) Đới cắt trượt Kainozoi Ailaoshan – Sông Hồng là một đặc trưng kiến tạo quan trọng trong

khu vực Đơng Nam Á. Q trình cắt trượt trong giai đoạn Oligocen – Miocen dọc theo đới



10



trượt đã biến các đá có tuổi Proterozoi thành các đá biến chất trình độ cao và một vài loại

mylonit dọc theo khu vực Ailaoshan và Dãy Núi Con Voi. Các đặc trưng ban đầu của mylonit

được giả định rằng chúng phải được bắt nguồn chủ yếu từ các bồn trũng của khối Nam

Trung Hoa. Các khối xâm nhập có tuổi từ Proterozoi đến Miocen, phức hệ Oligocen Phan Si

Pan cũng là một phần dịch trượt trong đới trượt .

c) Trũng Tú Lệ là một bồn trũng nội lục với nổi trội là các đá nguồn gốc núi lửa có tuổi Jura

đến Creta. Phần dưới, giữa và trên của loạt này đặc trưng bởi sự cấu thành từ các đá bazan,

andezit, tracit, riolit.

d) Vành đai sông Đà là một vùng tách giãn phía Tây Nam trong khoảng thời gian từ PecmiTriat rộng khoảng 20 km và dài hơn 350 km. Tập thấp nhất trong trong vùng tách dãn sông

Đà được thành tạo bởi một loạt các đá từ mafic đến mafic núi lửa trong các tập của hệ tầng

Cẩm Thủy có tuổi Pecmi hạ. Các hệ tầng này bao gồm các đá andesit – bazan đến các tổ hợp

cộng sinh của pyroxen, và lớp phía trên từ Pecmi – Triat sớm được thành tạo bởi các một hệ

tầng komatiit – andesit với kiến trúc spinelfix và tracit bazan – tracit andezit – tracit dacit.

Quá trình tầm trình kéo dài từ đầu Pecmi đến đầu Triat.

e) Vành đai Sông Mã là một phần của hệ thống các cung bồn trũng từ Cacbon đến Triat sớm.

Vành đai này được hình thành bởi tổ hợp thạch kiến tạo Sông Mã, cung granitoit Trường Sơn

và cung núi lửa Sơng Cả

f) Khối Đơng Dương có các đá biến chất trình độ cao từ Archean đến Proterozoi giống như

bồn trũng, được thể hiện qua khối nâng Kontum tại Việt Nam. Các hệ tầng biến chất này được

định tuổi đến được Proterozoi nhưng phổ biến là sự lộ ta của các đá charnockit của phức hệ

Canak có tuổi Archean. Các trầm tích biển nơng tích tụ trong thời gian cưới Paleozoi và đầu

Mesozoi, tiếp theo là các tích tụ trên mặt vào cuối Mesozoi và Cenozoi.

Các đơn vị kiến tạo trên hiện được phân cách bởi các đứt gãy khu vực chính , chủ yếu

là hình thành bởi các biến dạng Kainozoi. Đứt gãy quan trọng nhất bao gồm từ đông sang

tây , đới đứt gãy Sông Chảy giữa khối Nam Trung Hoa và khối núi Núi Con Voi ,các đới đứt

gãy sông Hồng giữa khối Nam Trung Hoa (ở miền Bắc) - khối Dãy Núi Con Voi (trong khu

vực phía Nam) và khối núi Ailaoshan - Fan Si Pan, đứt gãy Na Hiêng - Phiêng Na và các đứt

gãy Sơng Mã ở phía đơng và phía tây của khâu Sông Mã. Các đới đứt gãy Điện Biên Phủ nằm

ở phía tây bắc của khu vực. Đới đứt gãy này định hướng theo hướng Bắc và cắt qua tất cả

các đơn vị kiến tạo và các đới đứt gãy ở trên trong khu vực tây bắc Việt Nam.

Trong giai đoạn hút chìm, mảng Đơng Dương chính là rìa lục địa tích cực, mảng đại dương

hút chìm dưới mảng lục địa Đông Dương và tạo nên các loạt magma liên quan đến hút chìm

cũng như khống sản đi kèm trên khối lục địa Đơng Dương nói chung và Vit Nam núi riờng.



11



KT LUN

i hỳt chỡm là một đai dài và hẹp nơi một thạch quyển bị chìm vào

manti. tỷ lệ thế giới, tốc độ mà một thạch quyển cổ chìm xuống manti

ở các đới hút chìm cũng tơng ứng với tốc độ mà thạch quyển mới thành

tạo ở các trung tâm tách dãn. Với cách này, một sự cân bằng địa cầu

hoàn hảo đợc duy trì giữa sự tạo thành của thạch quyển mới và sự phá

huỷ cđa th¹ch qun cò. Đi cùng với đới hút chìm có một loạt các hoạt động kiến

tạo: động đất, núi lửa, các quá trình tạo núi, t ạo rãnh đại đ ương và t ạo các cung đ ảo.

Đồng thời, hàng năm các mảng dịch chuyển trượt trên quy ển manti t ừ 1 – 18cm. Vì vậy,

chúng ta cần nghiên cứu và hiểu rõ về đới hút chìm để từ đó nhận định đúng đắn về các hiện

tượng địa chất trong



thực tế. Từ đó, chúng ta có những biện pháp hạn chế tác hại của các



hiện tượng địa chất. Qua đây tác giả cũng mong muốn có nhiều cơng trình khoa học nghiên

cứu để làm rõ về cấu trúc địa chất này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trần Thanh Hải bài giảng “Kiến tạo mảng”. Trường Đại học Mỏ- Địa chất

2. https://vi.wikipedia.org/wiki/Hút_chìm

3. Hình ảnh tìm kiếm trên internet.

4. Bùi Vĩnh Hậu, 2014. Điều kiện nhiệt độ - áp suất và tuổi biến chất của các đá hệ



tầng Nậm Cô và ý nghĩa kiến tạo của chúng. Báo cáo hội nghị khoa học.

5. Đovjikov A.E. (Chủ biên), 1965. Địa chất miền Bắc Việt Nam. Thuyết minh kèm

theo tờ BĐĐC tỷ lệ 1:500.000. Nxb KH&KT, Hà Nội (bản tiếng Việt, 1971).

6. Lê Như Lai. Giáo trình địa kiến tạo và sinh khống. (Hà Nội, 1996).



12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

4 Các rãnh sâu đại dương

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×