Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 4: CÁC GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM TĂNG CƯỜNG ỨNG DỤNG QUẢN TRỊ NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP TẠI CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ VIỆT NAM

CHƯƠNG 4: CÁC GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM TĂNG CƯỜNG ỨNG DỤNG QUẢN TRỊ NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP TẠI CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

135

Để xây dựng được chiến lược kinh doanh phù hợp, doanh nghiệp bán lẻ Việt

Nam cần đánh giá những xu hướng phát triển của các doanh nghiệp bán lẻ đó là:

Sự mở rộng những kênh bán lẻ mới dựa trên sự phát triển của thương mại

điện tử xã hội, di động, và địa phương. Các loại hình bán lẻ trực tuyến, đặt hàng qua

điện thoại và các mạng xã hội ngày càng phổ biến. Các kênh này thực tế không đe

doạ các kênh truyền thống mà ngược lại, tạo ra những cơ hội lớn hơn cho các cửa

hàng truyền thống, củng cố thêm sức mạnh và hỗ trợ đắc lực cho các kênh truyền

thống. Đồng thời, thói quen và hành vi mua sắm của khách hàng đang thay đổi

nhanh hơn sự hiểu biết và khả năng ứng phó của doanh nghiệp. Với sự xuất hiện

ngày càng nhiều các giao dịch qua điện thoại thông minh, rổ hàng mua sắm đã thay

đổi, thậm chí dấu ấn thương hiệu cũng khác. Trước đây khách hàng mua sắm tại

siêu thị còn có thể kết hợp với giải trí, thì tới nay thói quen này đã gần như đã chấm

dứt. Thay vào đó, khách hàng có xu hướng giải trí tại rạp chiếu phim, quán cà phê,

hay trung tâm thương mại. Rổ hàng mua sắm của khách hàng đã thay đổi theo xu

hướng tự nhiên hoặc theo nhu cầu mới dựa trên hàng mới, thu nhập và xu hướng

chung của thị trường. Doanh nghiệp bán lẻ nên chủ động xây dựng đội ngũ chăm

sóc khách hàng và hệ thống quản trị riêng để tổng hợp, phân tích, đánh giá những

thơng tin độc lập, qua đó, những thay đổi của thị trường được ghi nhận và thúc đẩy

các yếu tố bên trong doanh nghiệp chuyển động theo để phục vụ khách hàng của

mình, chứ khơng chỉ là tìm cách đối đầu trực tiếp với các đối thủ.

Sự phát triển của bán lẻ đa kênh tích hợp (Omni-channel) và các trung tâm

mua sắm kết hợp đồng thời các ngành ẩm thực, siêu thị cao cấp, thời trang nhanh

hay cửa hàng đồng giá trong thời gian tới cũng được đánh giá nhiều triển vọng, khi

tích hợp các công nghệ quản lý vận hành hiện đại và công cụ tiếp thị mới một cách

hiệu quả. Mơ hình cửa hàng chuyên doanh và cửa hàng tiện lợi như Circle K, 7ELEVEN, Guardian, hay thậm chí Kidsplaza, Bibomart, Bách hóa Xanh, Điện máy

Xanh, đã khiến cho cuộc đua mở rộng mơ hình kinh doanh và mạng lưới trở nên

hấp dẫn nhưng đầy quyết liệt hơn. Bên cạnh đó, các loại hình kinh doanh trực tuyến

của cả doanh nghiệp và người bán hàng độc lập, hay thậm chí người nổi tiếng cũng

tạo thêm sức ép. Ngoài ra, việc người tiêu dùng Việt Nam ngày càng quen thuộc với

việc sử dụng Internet, thiết bị điện tử cũng như xu hướng thanh toán bằng thẻ tín



136

dụng cùng sự tăng trưởng của tầng lớp trung lưu cũng sẽ là những thành tố quan

trọng để thúc đẩy và thay đổi thị trường bán lẻ tại Việt Nam.

Tầm quan trọng ngày càng gia tăng của công nghệ trong lĩnh vực bán lẻ: điều

này thể hiện ở thực tế cơng nghệ ngày càng khẳng định vai trò quyết định năng lực

cạnh tranh của doanh nghiệp bán lẻ. Yếu tố nổi bật về công nghệ trong ngành bán lẻ

đó chính là hệ thống quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP), cung cấp cho nhà

quản trị những con số dự báo chính xác hơn, kiểm sốt chi phí tốt hơn, chia sẻ

thông tin nhanh hơn giữa các cửa hàng trong cùng hệ thống.

4.1.2. Xu hướng phát triển ứng dụng quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP)

Trên thế giới, các hệ thống thơng tin nói chung và hệ thống ERP trong ngành

bán lẻ nói riêng đang phát triển theo xu hướng công nghệ mới thông minh hơn, hiệu

quả hơn. Trong đó phải kể đến 4 xu hướng của chính sau đây:

4.1.2.1. Đẩy mạnh phát triển trên nền tảng điện toán đám mây trong quản trị nguồn

lực doanh nghiệp

Với mức độ nhận biết của doanh nghiệp bán lẻ về điện toán đám mây ngày

càng lớn, các hệ thống ERP trên đám mây (Cloud ERP) ngày càng phát triển mạnh.

Các doanh nghiệp bán lẻ ngày càng quan tâm đến việc hạ thấp chi phí sở hữu, giảm

sự phụ thuộc vào bộ phận IT và tận dụng những lợi ích khác bằng việc sử dụng

Cloud ERP. Tận dụng xu hướng này, các nhà cung cấp đẩy mạnh các hệ thống SaaS

- Software-as-a-Service, phần mềm chạy trên Web có thể truy cập từ xa, trong đó có

thể kể đến các nhà cung cấp như Infor, SAP, Oracle, Epicor, Microsoft Dynamics,

và những công ty khác đã cung cấp các giải pháp điện toán đám mây thay thế cho

mơ hình cũ. Vì thế, khi nói đến hệ thống ERP trong ngành bán lẻ hiện nay, xu

hướng điện toán đám mây sẽ tiếp tục phát triển và ngày càng mở rộng. Trong những

năm sắp tới, các nhà cung cấp ERP sẽ tiếp tục phát triển và định vị những sản phẩm

của họ trên thị trường bằng cách đưa ra cơ sở dữ liệu đám mây hoặc SaaS.

4.1.2.2. Tăng cường phát triển trên nền tảng di động trong quản trị và cung ứng,

sản phẩm

Trong những năm gần đây, xuất phát từ xu hướng tự mang thiết bị cá nhân đến

nơi làm việc khiến cho hầu hết các nhà cung cấp hệ thống ERP lớn đều cải tiến sản

phẩm với việc tích hợp truy cập từ điện thoại di động, máy tính bảng, điện thoại



137

thơng minh. Lý do chính cho xu hướng này là do các nhà quản lý trong ngành bán

lẻ luôn mong muốn nhận được phản hồi nhanh chóng để có thể thay đổi các điều

kiện hoạt động của doanh nghiệp. Xu hướng kết nối di động này ngày càng phát

triển, cho phép người dùng có thể phản hồi ở bất cứ đâu và trên mọi cấp độ. Việc

tích hợp dữ liệu, truy cập các báo cáo kinh doanh bằng di động, cải tiến giao diện

truy cập trên thiết bị di động sẽ được các nhà cung cấp hệ thống ERP tiếp tục tăng

cường.

4.1.2.3. Xu hướng tích hợp mạng xã hội trong các hệ thống ERP

Thương mại điện tử cộng tác và các hệ thống ERP tích hợp mạng xã hội đang

được phát triển nhanh chóng. Các nhà cung cấp chính như Infor, SAP, Oracle đang

bắt đầu tích hợp mạng xã hội trong hệ thống ERP của mình, thơng qua việc nâng

cao trải nghiệm - nhìn và cảm nhận giúp người dùng sử dụng dễ dàng hơn. Trong

năm 2013, Infor chính thức cung cấp khái niệm cộng tác mạng xã hội. Sản

phẩm Infor ERP LN kết hợp được các chức năng như gắn kết, cộng tác, và những

cuộc trao đổi trong thời gian thực cùng những chức năng khác được đưa vào giao

diện sử dụng của người dùng ERP.

Bằng cách nâng cao cộng tác mạng xã hội, các doanh nghiệp có thể cải thiện

và hồn thiện q trình đưa ra quyết định. Cùng với Infor và các hệ thống khác,

toàn doanh nghiệp (kể cả những dây chuyền cung ứng mở rộng) có thể giao tiếp,

cộng tác và theo dõi con người, công việc cũng như các quá trình khác. Cấp độ

cộng tác này thơng qua việc nâng cấp hệ thống ERP và mạng xã hội sẽ vẫn là là xu

hướng trong những năm tới.

4.1.2.4. Ứng dụng quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) được kết hợp công nghệ

Blockchain

Công nghệ chuỗi khối - Blockchain là một trong những công nghệ nổi bật

trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, bên cạnh trí tuệ nhân tạo, rotbot và thực tế

ảo tăng cường. Công nghệ Blockchain là một trong những công nghệ quan trọng đối

với các nhà phát triển phần mềm ERP cơng nghệ này có thể xuất hiện trong hầu hết

các khía cạnh nghiệp vụ trong quản trị nguồn lực doanh nghiệp. Các ưu điểm về bảo

mật, chia sẻ thông tin, chống giả mạo và lưu trữ thông tin giao dịch trên Blockchain

cho phép cơng nghệ này có thể ứng dụng để tăng cường khả năng liên kết thơng tin,



138

tích hợp quy trình nghiệp vụ giữa các đơn vị trong chuỗi bán lẻ. Các giao dịch trên

ứng dụng của SAP, Oracle, IBM như ERP, CRM, SCM đều có thể được ghi lại trên

Blockchain để phát huy những ưu điểm của công nghệ này. Các hãng công nghệ lớn

trên thế giới khơng đứng ngồi cuộc trước sự phát triển của Blockchain. Trước vấn

đề về sự tin cậy của dữ liệu không được bảo đảm giữa các tổ chức với nhau khi mỗi

tổ chức duy trì một cơ sở dữ liệu của riêng mình, các giải pháp ERP kết hợp với

cơng nghệ Blockchain sẽ cho phép thiết lập cơ chế tin cậy khách quan để chia sẻ dữ

liệu giữa tất cả các tổ chức trong một mạng lưới doanh nghiệp. Các hệ thống này sẽ

được xây dựng với mục tiêu cung cấp mạng kết nối các nhà bán lẻ, cung cấp, khách

hàng, ngân hàng, dịch vụ logistics và các đối tác thương mại khác, cùng tham gia

vào các quy trình nghiệp vụ ERP; các quy trình nghiệp vụ được số hóa, bao gồm

các giao dịch về hàng hóa, dịch vụ, tài sản xuyên suốt chuỗi bán lẻ. Các giao dịch

trên hệ thống ERP được ghi nhận qua Blockchain được đảm bảo an tồn, tin cậy,

khơng bị phá hoại và hồn tồn minh bạch giữa các tổ chức với nhau.

Trong thời gian tới, những hãng cung cấp giải pháp ERP sẽ không chỉ còn tập

trung phát triển những tính năng nghiệp vụ thuần túy trên sản phẩm của mình nữa.

Khi cách mạng cơng nghiệp 4.0 với những công nghệ ưu việt như Internet vạn vật,

trí tuệ nhân tạo, trí tuệ thơng minh, ứng dụng di động đang dần thay đổi nền kinh tế

và xã hội thì các hệ thống ERP cũng khơng thể đứng ngồi cuộc. Các hệ thống ERP

ngày càng tích hợp những công nghệ mới tạo ra cuộc cách mạng về nền tảng công

nghệ trong lĩnh vực này. Ứng dụng Blockchain sẽ khơng còn xa vời mà đã thực sự

được phát triển và tích hợp trong những giải pháp ERP quen thuộc như SAP, Oracle,

Microsoft, IBM. Khi ứng dụng công nghệ mới này, các doanh nghiệp bán lẻ khơng

còn chỉ vận hành với một hệ thống quản lý cô lập như trước đây, mà có thể tích hợp

quy trình nghiệp vụ một cách hiệu quả với những nhà cung cấp, khách hàng, và chủ

động hòa nhập cùng phát triển với chuỗi bán lẻ rộng lớn của mình.

4.1.3. Cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam trong bối

cảnh cạnh tranh và đổi mới mơ hình tăng trưởng

Từ những nhận định về xu hướng phát triển của doanh nghiệp bán lẻ, luận án

đánh giá những cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam trong

bối cảnh cạnh tranh và đổi mới mơ hình tăng trưởng như sau:



139

4.1.3.1. Cơ hội

Thứ nhất: nền kinh tế đang phát triển với dân số lớn và trẻ, quá trình đơ thị

hóa diễn ra nhanh chóng, thu nhập bình quân đầu người gia tăng, nhu cầu tiêu dùng

lớn đem đến những cơ hội to lớn để phát triển và mở rộng thị trường bán lẻ tại Việt

Nam. Mặc dù các nhà bán lẻ nước ngồi có lợi thế từ quy mơ, chiến lược và tầm

nhìn dài hạn, thì nhà bán lẻ Việt Nam được đánh giá là linh hoạt, dễ thích ứng vì

thấu hiểu được thói quen và văn hóa người tiêu dùng.

Thứ hai: Dân số trẻ với trình độ tiếp cận công nghệ cao, tỷ lệ người sử dụng

Internet đạt hơn 50% dân số, tỷ lệ người sử dụng điện thoại di động đạt hơn 38%

dân số tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam tiếp cận khách

hàng thông qua các kênh bán lẻ hiện đại như bán lẻ trực tuyến, bán lẻ đa kênh, dịch

vụ theo yêu cầu của khách hàng (Vecom, 2018). Các mơ hình mới của thương mại

điện tử được ra đời và phát triển bao gồm: thương mại điện tử di động, thương mại

điện tử xã hội, và thương mại điện tử địa phương.

Thứ ba: Chính phủ và Nhà nước đã có những chủ trương, kế hoạch hành động,

và chỉ đạo kịp thời để thúc đẩy quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp, khuyến khích

mở rộng thị trường nội địa, hoàn thiện kênh phân phối, đẩy mạnh vị thế của các

doanh nghiệp trong nước trên thị trường bán lẻ.

Tại Việt Nam, năm 2018 với những tín hiệu đáng mừng của nền kinh tế cùng

với việc Việt Nam tham gia nhiều sân chơi quốc tế là một lợi thế để các doanh

nghiệp bán lẻ trong nước có những cú bứt phát lớn. Tuy nhiên cạnh tranh cũng ngày

càng trở nên khốc liệt hơn đòi hỏi các doanh nghiệp phải có những hướng đi đúng

đắn. Hệ thống ERP được xem là một trong những chiếc chìa khóa giúp tạo nên thay

đổi có tính cách mạng về năng lực quản trị. Nhìn nhận đúng xu hướng phát triển của

giải pháp, công nghệ giúp nhà quản trị lựa chọn đúng khi đầu tư xây dựng hệ thống

ERP.

Một lý do nữa khiến cho ERP trở thành xu thế tất yếu trong việc đẩy mạnh

ứng dụng thương mại điện tử trong lĩnh vực bán lẻ hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh

cạnh tranh và đổi mới mơ hình tăng trưởng tại Việt Nam đó là nhu cầu lựa chọn giải

pháp tối ưu trong tái cấu trúc doanh nghiệp. Trong nhiều trường hợp, các công ty

không hài lòng với cách làm cũ của hệ thống kinh doanh theo chức năng riêng biệt,



140

trong đó các bộ phận và các ứng dụng khơng tích hợp với nhau, và do đó các dữ

liệu cũng khơng được chia sẻ nhằm hỗ trợ nhu cầu đưa ra quyết định và lập kế

hoạch. Do các ứng dụng thường khơng tích hợp được với nhau nên gây khó khăn và

mất thời gian trong việc thu thập dữ liệu, trình bày một bức tranh mạch lạc về tình

hình của cơng ty, và hỗ trợ lập kế hoạch và đưa ra các quyết định. Tình trạng này

không phải là mới, nhưng cho đến gần đây, việc xây dựng các giải pháp đóng gói

cho cơng ty khơng phải dễ, ngay cả khi cơng ty có cả nguồn tài ngun về hệ thống

thơng tin thì cũng phải mất nhiều năm mới xây dựng được. Từ những nỗ lực tái cấu

trúc trước đó, nhiều cơng ty biết rằng quy trình kinh doanh nội bộ của họ cần phải

được thay đổi, và họ tin rằng cách tốt nhất và dễ nhất để khắc phục chúng là bằng

cách áp dụng các quy trình xây dựng thành một hệ thống ERP bán sẵn. Như vậy,

việc triển khai một hệ thống ERP là một cách để buộc quá trình kinh doanh tái cấu

trúc diễn ra nhanh chóng.

4.1.3.2. Khó khăn và thách thức

(i) Khó khăn: Những khó khăn khiến cho việc triển khai hệ thống ERP tại các

doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam còn hạn chế đó là:

- Hạ tầng cơng nghệ ở mức thấp: Ứng dụng ERP đòi hỏi doanh nghiệp bán lẻ

cần tiến hành đổi mới đồng bộ trong hệ thống CNTT của tồn doanh nghiệp, đổi

mới về cơng nghệ, trang bị hệ thống mạng máy tính cho tồn hệ thống. Tuy nhiên,

mức độ ứng dụng CNTT trong các doanh nghiệp bán lẻ, đặc biệt là doanh nghiệp

bán lẻ vừa và nhỏ còn rất hạn chế cả về hạ tầng phần cứng, hạ tầng mạng viễn

thông, và hệ thống phần mềm quản lý.

- Quy trình kinh doanh chưa được chuẩn hóa: Hệ thống ERP vận hành được là

nhờ vào các hoạt động doanh nghiệp tuân theo các quy trình chuẩn quốc tế. Tuy

vậy, áp dụng được và duy trì được hoạt động kinh doanh theo chuẩn mới lại là điều

khó khăn cho nhiều doanh nghiệp bán lẻ tại Việt Nam. Hơn nữa nhiều doanh nghiệp

chưa áp dụng ISO trong quản lý nên việc triển khai ERP càng gặp nhiều khó khăn.

Ngồi ra, sự khác biệt về hệ thống kế toán cũng gây khó khăn cho việc triển khai

ERP. Các sản phẩm ERP luôn bao gồm một module quan trọng là module kế toán

tổng hợp nhận rất nhiều dữ liệu từ các mô đun khác trong phần mềm ERP và đặt các

hạch tốn tự động.



141

- Vốn đầu tư cho hệ thống thơng tin hạn chế:ERP là hệ thống lớn và đắt đỏ.

Doanh nghiệp bán lẻ cần cân nhắc giữa chi phí tiết kiệm được so với chi phí bỏ ra

khi triển khai ERP. Ngồi chi phí tư vấn, triển khai phần mềm, doanh nghiệp còn

phải trả khoản tiền bản quyền tương đối lớn cho nhà sản xuất ERP nước ngồi vì

vậy tổng chi phí bỏ ra của doanh nghiệp cho dự án triển khai sản phẩm ERP lên rất

cao.

- Sự cam kết của lãnh đạo và sự sẵn sàng tham gia của nhân viên tại nhiều

doanh nghiệp bán lẻ còn ở mức thấp: Để có thể triển khai ERP doanh nghiệp cần

phải có sự đồng lòng từ ban quản trị cấp cao nhất đến từng nhân viên. Để chuẩn bị

tốt điều này, ban lãnh đạo cần phải giải thích rõ tác dụng của ERP và cần phải tìm

hiểu, quan tâm đến những khó khăn của nhân viên khi thực hiện ERP. Sự quyết tâm

cao của cán bộ công nhiên viên là yếu tố dẫn đến thành công rất cao khi triển khai

ERP. Khi tiếp cận các doanh nghiệp bị thất bại trong việc triển khai ERP thì đa số

các doanh nghiệp đều thừa nhận là họ gặp rất nhiều vấn đề ở khâu con người.

(ii) Thách thức: Trong bối cảnh cạnh tranh và đổi mới mơ hình tăng trưởng tại

Việt Nam đã được phân tích ở trên, có thể thấy những thách thức lớn mà các doanh

nghiệp bán lẻ tại Việt Nam phải đối mặt đó là:

Thứ nhất: áp lực cạnh tranh đến từ các tập đoàn bán lẻ toàn cầu ngày càng gia

tăng, khiến cho các doanh nghiệp bán lẻ nội địa ngày càng “lép vế”. Mua bán và sáp

nhập là xu hướng tất yếu và đang gây áp lực lớn cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt

Nam. Các nhà bán lẻ nước ngồi với vốn lớn, quy trình kinh doanh bài bản, chiến

lược dài hạn sẵn sàng đầu tư mạnh vào các kênh phân phối gây áp đảo thị trường.

Sự gia tăng của các nhà bán lẻ lớn và sự mở rộng ra phạm vi toàn cầu của những

nhà bán lẻ: trong những năm gần đây trên thị trường Việt Nam đã hình thành những

nhà bán lẻ siêu lớn, đồng thời có sự tham gia của nhiều nhà bán lẻ lớn của các quốc

gia Âu, Mỹ, Nhật Bản, Thái Lan. Dựa vào hệ thống thông tin và sức mua tốt, những

doanh nghiệp bán lẻ khổng lồ này có thể đáp dứng nhiều sự lựa chọn hơn, dịch vụ

khách hàng tốt hơn, những hậu quả là chèn ép các doanh nghiệp bán lẻ nhỏ.

Thứ hai: các mơ hình kinh doanh bán lẻ truyền thống đang dần bị thay thế bởi

các mô hình kinh doanh bán lẻ hiện đại, kết hợp giữa thương mại truyền thống và



142

thương mại điện tử, đòi hỏi doanh nghiệp bán lẻ cần nhanh chóng thích nghi và đổi

mới mơ hình kinh doanh và chiến lược tiếp cận khách hàng.

Thứ ba: các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam còn hạn chế trong việc liên kết với

các bên tham gia như nhà cung cấp, nhà cung ứng dịch vụ, khách hàng. Các kênh

bán lẻ truyền thống còn thiếu kinh nghiệm và thiếu chuyên nghiệp trong việc quản

lý chuỗi bán lẻ, trưng bày hàng hóa, giá cả kém cạnh tranh, sản phẩm chưa đa dạng,

khả năng kiểm soát chất lượng thấp khiến chưa đáp ứng được nhu cầu của khách

hàng.

4.2. Các giải pháp nhằm tăng cường ứng dụng quản trị nguồn lực doanh

nghiệp ERP tại các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam

4.2.1. Xây dựng chiến lược ứng dụng công nghệ thơng tin trong doanh nghiệp

và đầu tư thích đáng cho ứng dụng ERP

Muốn tồn tại trong bối cảnh cạnh tranh và đổi mới mơ hình tăng trưởng, các

doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam cần phải xác định rõ việc ứng dụng quản trị nguồn

lực doanh nghiệp ERP là tất yếu. Đối với các doanh nghiệp chưa ứng dụng quản trị

nguồn lực doanh nghiệp (ERP), cần phải xây dựng chiến lược ứng dụng CNTT xác

định rõ ứng dụng quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) là ưu tiên hàng đầu. Ứng

dụng ERP là một quá trình thay đổi lớn của doanh nghiệp bán lẻ cần được phải xuất

phát từ chính vấn đề nghiệp vụ của doanh nghiệp. Quản trị nguồn lực doanh nghiệp

(ERP) không là một hệ thống CNTT đơn thuần và bao gồm nhiều giá trị nghiệp vụ

bên trong. Do đó, chiến lược ứng dụng CNTT tại doanh nghiệp bán lẻ cần xác định

rõ đặc điểm này doanh nghiệp cần phải chuẩn bị nguồn lực về con người, tài chính

nhiều hơn nguồn lực công nghệ.

Với các doanh nghiệp bán lẻ có mơ hình tập đồn hoặc tổng cơng ty đa

ngành, hệ thống quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) tổng thể cần có hai lớp

phục vụ hai mức độ quản trị: lớp quản trị tập đoàn và lớp quản trị đặc thù của các

đơn vị thành viên. Lớp quản trị tập đồn gồm những quy trình nghiệp vụ xun suốt

tồn doanh nghiệp hay hỗ trợ quản trị hợp nhất ở mức độ tập đồn, ví dụ quản trị tài

chính, quản trị nhân sự, và hệ thống báo cáo tổng hợp. Lớp quản trị ở các đơn vị

thành viên gồm những quy trình nghiệp vụ phù hợp với từng ngành nghề kinh

doanh đặc thù như bán hàng, sản xuất, quản lý dự án, quản lý khách hàng… Do đó



143

trong chiến lược ứng dụng CNTT, doanh nghiệp bán lẻ cũng cần làm rõ quy mô,

phạm vi, và kế hoạch triển khai cho từng giai đoạn cụ thể của dự án ERP.

Để doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam không bị tụt hậu, các doanh nghiệp bán lẻ

nội địa cần thay đổi ngành bán lẻ hướng tới tiếp tục tăng trưởng và bảo đảm tính

cạnh tranh. Muốn thay đổi thì nhất thiết phải có chiến lược cụ thể, thúc đẩy tăng

trưởng thông qua sáng tạo và nếu doanh nghiệp chậm chân trong lĩnh vực này sẽ

sớm bị đào thải khỏi thị trường. Doanh nghiệp bán lẻ cần tăng cường áp dụng công

nghệ cho phân phối bán lẻ bởi người tiêu dùng ngày càng có xu hướng dành nhiều

ưu tiên cho mua sắm trực tuyến. Do sử dụng thành thạo cơng nghệ, người tiêu dùng

có xu hướng đặt hàng qua mạng hoặc dùng các ứng dụng di động để tìm kiếm các

đơn hàng giá tốt, các đợt giảm giá, khuyến mại. Cùng đó, cần đầu tư hệ thống hậu

cần mạnh với lượng hàng hóa dồi dào, có chất lượng. Bên cạnh đó, đề cao chữ Tín

trong kinh doanh, vì với hình thức mua bán trực tuyến, uy tín là điều quan trọng

nhất giúp giữ chân khách hàng.

Thị trường đang thay đổi nhanh chóng, nhưng vẫn có những doanh nghiệp đáp

ứng, đón đầu, thậm chí tạo nên những xu hướng mua sắm mới. Chính vì thế, cần có

nhiều hơn nữa những sự sáng tạo và đổi mới trong chiến lược ứng dụng CNTT của

doanh nghiệp, trong đó cần tập trung vào nâng cao trải nghiệm khách hàng (cả kênh

truyền thống và trực tuyến); tăng cường kết nối, chia sẻ, và tích hợp trên hệ thống

thơng tin; Chuẩn bị khả năng mở rộng nhanh và đồng bộ các hệ thống thông tin

trong doanh nghiệp; Sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thay đổi trong tương lai. Triển khai

ERP đòi hỏi sự phối hợp trên tồn doanh nghiệp và sự hợp tác giữa nhiều người ở

các cương vị khác nhau trong doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải xác định rõ việc

ứng dụng quản trị nguồn lực doanh nghiệp ERP sẽ khơng chỉ xảy ra ở bộ phận

CNTT hay phòng kế tốn, mà là nhiệm vụ của tồn doanh nghiệp. Nhà quản trị cấp

cao cần dành sự quan tâm và hỗ trợ tối đa cho dự án ERP, đảm bảo đủ ngân sách và

nhân lực cho dự án thành công, luôn ở trong tư thế sẵn sàng ra những quyết định

nhanh chóng. Thành cơng của dự án ERP khơng phải chỉ là nhiệm vụ của riêng đội

dự án mà các cấp lãnh đạo cao nhất phải đảm bảo mục tiêu của dự án phù hợp với

mục tiêu chiến lược của công ty và có những hành động thể hiện sự quan tâm và

trách nhiệm với dự án. Các giám đốc điều hành phải thu xếp nhân sự tham gia vào



144

dự án ERP, thu thập thông tin, đánh giá thường xuyên và nhận ra thành công hay

thất bại. Đồng thời, phải tạo động lực cho nhóm, hỗ trợ giải quyết các vấn đề và giữ

cho nhóm dự án ERP ln hoạt động mạnh.

Các nhà bán lẻ Việt Nam có nhiều lợi thế “truyền thống” như: hiểu người

tiêu dùng, có hệ thống phân phối mạnh và nguồn lực con người. Tuy nhiên, con

đường tăng trưởng và phát triển của họ sẽ không như trong quá khứ được nữa. Thị

trường đang có rất nhiều thay đổi, buộc các doanh nghiệp phải quan tâm, thích ứng

và triển khai chiến lược phù hợp. Các ứng dụng robot hay trí tuệ nhân tạo (AI) đang

ngày càng phổ biến, tuy nhiên, với góc độ doanh nghiệp bán lẻ, các yếu tố đó chưa

cấp thiết bằng việc nhận thức được các chuyển đổi cần thiết trong chính doanh

nghiệp. Chiến lược ứng dụng CNTT của doanh nghiệp bán lẻ trong giai đoạn tới cần

tập trung vào việc tăng cường kết nối thông tin hiệu quả với không chỉ với khách

hàng (B2C) mà còn giữa nhà bán lẻ với nhà cung cấp (B2B hoặc B2B2C); Khai

thác dữ liệu hiệu quả, cần cụ thể theo hướng dự liệu tức thì, dữ liệu trở thành thông

tin cần thiết để đưa ra quyết định kinh doanh, dữ liệu bán hàng của nhà bán lẻ cần

trở thành dữ liệu thị trường mà các nhà cung cấp cần đến; Tập trung xây dựng quản

trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) có tính kết nối, an tồn và bảo mật cao.

Trên hết, để triển khai hệ thống ERP cho doanh nghiệp thành cơng, nhà bán

lẻ cần có một tầm nhìn và chiến lược cơng nghệ thơng tin đủ mạnh để thích ứng với

một thế giới đang thay đổi nhanh chóng. Sau khi đã ứng dụng quản trị nguồn lực

doanh nghiệp (ERP) thành cơng, doanh nghiệp bán lẻ có thể tiếp cận theo hướng

mở rộng lĩnh vực tư vấn và triển khai ERP cho các doanh nghiệp bán lẻ khác. Bài

học từ Amazon có thể áp dụng cho một số doanh nghiệp bán lẻ lớn tại Việt Nam, có

thế mạnh về công nghệ và nguồn nhân lực CNTT.

Cuối cùng, để có thể xây dựng và thực thi chiến lược ứng dụng CNTT thông

tin trong doanh nghiệp với định hướng ưu tiên cho ứng dụng ERP, cần phải có quyết

tâm cao của ban lãnh đạo doanh nghiệp, đồng thời doanh nghiệp phải có sự chuẩn

bị về tài chính, nhân sự, công nghệ và tư duy. Đặc biệt là tư duy chấp nhận sự thay

đổi, chấp nhận đầu tư đúng mức để mang lại hiệu quả mong muốn, chấp nhận

không phải chỉ đầu tư một lần mà còn phải đầu tư hằng năm cho việc bảo trì, bảo

dưỡng và nâng cấp hệ thống ERP. Để có được thành cơng trong ứng dụng ERP, các



145

doanh nghiệp bán lẻ cần đảm bảo sự quyết tâm của lãnh đạo cấp cao, sự quyết liệt

của cấp lãnh đạo cao nhất là nền tảng để đảm bảo thành cơng của hệ thống. Có như

vậy, doanh nghiệp bán lẻ mới có thể vượt qua được những khó khăn thách thức

trong quá trình triển khai ERP. Ứng dụng quản trị nguồn lực doanh nghiệp ERP

thành công cần là mục tiêu số một mà các doanh nghiệp bán lẻ theo chuỗi cần đạt

được khi muốn tồn tại và cạnh tranh trong bối cảnh đổi mới mơ hình tăng trưởng,

cách mạng công nghiệp 4.0 gắn liền với đổi mới, sáng tạo và công nghệ.

4.2.2. Đào tạo nguồn nhân lực triển khai, vận hành và quản lý hệ thống ERP

Trong việc ứng dụng ERP, nhân sự đóng một vai trò rất quan trọng trong sự

thành công của dự án. Ở đây, doanh nghiệp bán lẻ cần chú trọng đào tạo và phát

triển nguồn nhân lực cho dự án ERP theo hai nhóm chính: nhóm nghiệp vụ và nhóm

kỹ thuật.

+ Nhóm nghiệp vụ bao gồm những người sử dụng là các cán bộ tác nghiệp

hàng ngày, thuộc các phòng ban chức năng như kế tốn - tài chính, kế hoạch, cung

ứng vật tư, bán hàng, bộ phận sản xuất. Nhóm này sẽ tham dự triển khai hệ thống

ERP như những người sử dụng cuối cùng khi vận hành hệ thống. Những công việc

chính có thể chỉ ra như: đưa ra các u cầu nghiệp vụ, cùng xây dựng quy trình

nghiệp vụ với đơn vị triển khai, kiểm tra tính đúng đắn và thao tác, vận hành hệ

thống.

+ Nhóm kỹ thuật bao gồm các cán bộ nhân viên thuộc bộ phận phụ trách về

cơng nghệ thơng tin. Nhóm này sẽ tham dự triển khai hệ thống ERP với chức năng

hỗ trợ cho nhóm nghiệp vụ và đơn vị triển khai về kỹ thuật như hệ thống máy chủ,

hạ tầng mạng, cài đặt hệ thống, thực hiện các công việc chuyên môn về quản trị hệ

thống (sao lưu, dự phòng, phân quyền...).

Việc lựa chọn hình thức th ngồi để vận hành hệ thống sau nghiệm thu là

một trong những xu hướng phổ biến trên thế giới. Việc thuê ngoài này bao gồm cả

nhân lực vận hành tác nghiệp. Tuy nhiên, ở Việt Nam, hình thức này chưa thực sự

phổ biến. Doanh nghiệp bán lẻ có thể tiến hành việc th ngồi: máy chủ, dịch vụ

quản trị và bảo trì hệ thống nhằm hỗ trợ cho nhóm kỹ thuật. Còn nhóm nghiệp vụ

vẫn thực hiện các tác nghiệp trên hệ thống như bình thường. Việc doanh nghiệp

thiếu nhân lực về CNTT gây ảnh hưởng nhiều tới tiếp nhận việc quản trị hệ thống



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 4: CÁC GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM TĂNG CƯỜNG ỨNG DỤNG QUẢN TRỊ NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP TẠI CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×