Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG QUẢN TRỊ NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP TẠI CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CẠNH TRANH VÀ ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG QUẢN TRỊ NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP TẠI CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CẠNH TRANH VÀ ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

106

định sẽ mở 100 cửa hàng trong ba năm tới và 1.000 cửa hàng trong thập kỷ tới;

Chuỗi siêu thị và trung tâm mua sắm Lotte Mart (Hàn Quốc) dự định mở 60 cửa

hàng tại Việt Nam vào năm 2020; GS25 (Hàn Quốc) đã khai trương 1 cửa hàng tại

thành phố Hồ Chí Minh vào cuối năm 2017 và dự kiến sẽ mở 2.500 cửa hàng trong

vòng 10 năm (AtKearney, 2017).



Hình 3.1: Các chuỗi cửa hàng tiện lợi tại Việt Nam (tháng 1 năm 2018)

Nguồn: ACBS, 2018

Các thương vụ mua bán và sáp nhập (M&A) lớn đã diễn ra trên thị trường bán

lẻ Việt Nam những năm trở lại đây, trong đó nổi bật là thương vụ của Tập đồn

Berli Jucker - BJC (Thái Lan) đã chi 655 triệu euro để mua lại toàn bộ chuỗi bán lẻ

Metro Cash & Carry Việt Nam; Central Group (Thái Lan) đã mua lại 49% cổ phần

của chuỗi siêu thị điện máy Nguyễn Kim, và thơn tính tồn bộ chuỗi siêu thị Big C

với giá trị hơn 1 tỷ USD (Thu Hòa, 2018). Về phía các doanh nghiệp nội địa, các

thương vụ M&A điển hình phải kể đến như Vinmart (thuộc tập đồn VinGroup) đã

thâu tóm chuỗi siêu thị Oceanmart và Vinatexmart, Thế giới di động thâu tóm Trần

Anh.

Trong lĩnh vực bán lẻ trực tuyến, 75% thị phần thương mại điện tử Việt Nam

tập trung ở 2 thành phố lớn là Hà Nội và Hồ Chí Minh (Vecom, 2018). Giá trị thị

trường bán lẻ trực tuyến ước tính đạt 9 tỷ đơ la Mỹ trong năm 2018 và được dự

đoán sẽ tăng trưởng 20 - 30% trong những năm tới (Vecom, 2019). Những doanh

nghiệp lớn trong lĩnh vực này phải kể đến đó là Lazada, Tiki, Shopee, Sendo,

Adayroi. Thị trường bán lẻ trực tuyến cũng chứng kiến những phi vụ đầu tư, mua

bán và sáp nhập lớn như thương vụ Alibaba (Trung Quốc) mua Lazada.vn, Central



107

Group (Thái Lan) mua Zalora.vn, JD (Trung Quốc) mua 22% cổ phần của Tiki.vn,

Tencent (Trung Quốc) mua 40% cổ phần của Shopee (Thu Hòa, 2018).

Theo ước tính của Hiệp hội Siêu thị Hà Nội, khoảng 50% thị phần bán lẻ Việt

Nam thuộc về doanh nghiệp nước ngoài, nhưng trên thực tế con số này được dự

đốn còn cao hơn, và trong tương lai gần hoạt động của các doanh nghiệp bán lẻ nội

địa Việt Nam sẽ còn bị thu hẹp hơn nữa (Thu Hòa, 2018). Điều này thực sự là con

số đáng lo ngại khi doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam đang dần mất đi thị phần trên

chính thị trường nội địa, đòi hỏi các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam cần có những

bước đi đột phá trong chiến lược kinh doanh nếu không muốn bị biến mất trên thị

trường.

Thị trường bán lẻ Việt Nam có thể phân chia thành 6 kênh phân phối theo đặc

điểm cụ thể, bao gồm: Siêu thị lớn, Siêu thị, Trung tâm thương mại, Trung tâm mua

sắm, Chuỗi cửa hàng tiện lợi và các Cửa hàng chuyên biệt.

Siêu thị lớn (đại siêu thị) là địa điểm bán lẻ mở rất lớn về diện tích kinh doanh

lẫn số lượng các loại sản phẩm (thực phẩm & phi thực phẩm). Một vài ví dụ về đại

siêu thị là: Co.opmart, Vinmart, Lotte. Siêu thị ở Việt Nam cung cấp những mặt

hàng và dịch vụ tương đương nhau. Có nơi cấp thẻ khách hàng thân thiết để bạn tích

điểm và được giảm giá cho lần mua hàng tiếp theo.

Trung tâm thương mại bán những món đắt tiền nhưng quần áo hiệu, giày hiệu

và thiết bị điện tử cao cấp. Parkson và Diamond Plaza, Vincom là những nơi được

ưa chuộng nhất ở TPHCM. Còn ở Hà Nội là Vincom, Tràng Tiền Plaza, Grand

Plaza, The Manor và Parkson.

Trung tâm mua sắm là một khái niệm mới ở Việt Nam, nơi bao hàm cả đại

siêu thị, siêu thị, cửa hàng bách hoá, rạp chiếu phim và cửa hàng chuyên biệt. Lotte

Mart & The Crescent Mall ở quận 7, TPHCM có thể được xem là Trung tâm mua

sắm “đúng chuẩn”. Hệ thống chuỗi cửa hàng tiện ích phục vụ nhu cầu hàng ngày về

những món đồ lặt vặt, và có thể được tìm thấy trên mọi con phố. Bạn có thể dễ dàng

mua một chai nước hay giấy vệ sinh, dầu gội, khăn giấy và nhiều món khác.

Các chuỗi cửa hàng tiện ích ở Việt Nam đang cạnh tranh với các quầy sạp bán

hàng bên đường và các chợ truyền thống; Chuỗi cửa hàng Co.opFood, trực thuộc hệ

thống cửa hàng của Saigon Co.op, G7 Mart và Shop & Go có thể được kể như là



108

những chuỗi cửa hàng tiện ích. Tuy nhiên, chính những cửa hàng tiện ích ít tên tuổi

mới là thành phần đại diện cho đa số thị trường bán lẻ tiện dụng ở Việt Nam.

Cửa hàng chuyên biệt là các cửa hàng chuyên bán 1 loại hoặc 1 nhóm sản

phẩm nào đó. Các cửa hàng này có thể nằm rải rác khắp nơi trong thành phố, hoặc

tỉnh lỵ nhưng thường là tập trung theo khu. Ví dụ như những cửa hàng bán quần áo

thời trang trên đường hoặc khu bán vật liệu xây dựng, trang trí nội thất. Và cũng

chính các cửa hàng mới là nguồn cung cấp và trung gian trao đổi hàng hóa lớn nhất

trên thị trường bán lẻ từ nước hoa, điện thoại di động, nước giải khác cho đến ô tô

và cả vật liệu xây dựng (trừ phân khúc tiện dụng và thực phẩm).

Về phía hạ tầng pháp lý và công nghệ cho ứng dụng CNTT và thương mại

điện tử nói chung, tại Việt Nam, chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước, các

nhà hoạch định chiến lược và toàn thể xã hội đã bước đầu nâng cao nhận thức về

tầm quan trọng của các hạ tầng này (Trần Văn Hoè, 2008). Bên cạnh đó, Nhà nước

và các cơ quan quản lý cũng đã triển khai các chương trình đào tạo, và tuyển dụng

đội ngũ cán bộ chuyên trách để quản lý các hoạt động thương mại điện tử và hỗ trợ

doanh nghiệp (Nguyễn Thị Mơ, 2006). Đây là những điều kiện thuận lơi để các

doanh nghiệp Việt Nam tăng cường ứng dụng CNTT nói chung và quản trị nguồn

lực doanh nghiệp nói riêng.



Hình 3.2: Thị phần các loại hình bán lẻ ngành hàng tiêu dùng nhanh tại Việt

Nam

Ghi chú: vòng tròn từ trong ra ngoài tương ứng năm 2015 - 2016

Nguồn: ACBS, 2018

Trước những yêu cầu đặt ra của chủ trương đổi mới mơ hình tăng trưởng, tái

cơ cấu các ngành kinh tế, ngành bán lẻ tại Việt Nam đã có những bước chuyển biến



109

sâu sắc, có sự biến động lớn giữa cơ cấu kênh phân phối và lực lượng lao động

trong ngành bán lẻ. Trong giai đoạn 2010 đến nay, trên thị trường đã có những thay

đổi lớn theo các xu hướng phát triển kênh bán lẻ hiện đại, đặc biệt là bán lẻ trực

tuyến, bán lẻ đa kênh. Thị phần bán lẻ hiện đại ở Việt Nam được dự đoán sẽ tăng từ

25% (năm 2015) lên 45% trong năm 2020, giá trị bán lẻ trực tuyến tại Việt Nam đạt

4 tỷ đơ la trong năm 2017, và được dự đốn sẽ tăng trưởng với mức 20 - 30% trong

những năm tới (Vecom, 2017). Các công cụ bán lẻ trực tuyến đã được đông đảo các

nhà bán lẻ Việt Nam sử dụng bao gồm bán hàng trên website, webshop, mạng xã

hội, blog, sàn giao dịch điện tử với các điển hình như Adayroi của VinGroup, Thế

giới di động, Nguyễn Kim... Các doanh nghiệp cũng tích cực đem đến những trải

nghiệm mới cho khách hàng thông qua việc thúc đẩy các phương thức đặt hàng mới

và thanh toán điện tử trên điện thoại thông minh và các thiết bị di động.

3.2. Thực trạng ứng dụng ERP tại các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam

3.2.1. Quy mô ứng dụng ERP trong các doanh nghiệp bán lẻ

Các doanh nghiệp bán lẻ lớn tại Việt Nam đã sớm biết đến phần mềm quản trị

nguồn nhân lực ERP và triển khai từ hơn 10 năm trở lại đây. Trong số đó, điển hình

phải kể đến các doanh nghiệp bán lẻ đã tiên phong trong việc triển khai ERP như

SaiGon Co.op năm 2005 đã đầu tư 1,5 triệu USD cho phần mềm ERP của hai nhà

cung cấp nước ngồi là Oracle và JDA nhằm hiện đại hóa toàn bộ hoạt động kinh

doanh của hệ thống Co-opMart. Năm 2014 dự án ERP của SaiGon Co.op đi vào giai

đoạn 2 với kinh phí 2,5 triệu USD nâng cấp và cập nhật các phần mềm cơng cụ

quản lý trong tồn hệ thống bằng phiên bản mới nhất, đưa nhiều ứng dụng vào để

kết nối với toàn hệ thống và tiến tới kết nối với nhà cung cấp, rút ngắn vấn đề đặt

hàng, mua hàng, giám sát. Bên cạnh đó, các nhà bán lẻ tại Việt Nam sớm triển khai

ứng dụng quản trị nguồn lực doanh nghiệp ERP phải kể đến Công ty cổ phần Thế

Giới Di Động đã triển khai phần mềm ERP từ năm 2007, Điện máy Chợ Lớn bắt

đầu dự án SAP ERP từ năm 2009, Công ty cổ phần thương mại Nguyễn Kim triển

khai dự án SAP ERP từ năm 2011, Công ty CP Thế giới số Trần Anh đã tiến hành

khởi động dự án triển khai hệ thống quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) của

Oracle năm 2011, nâng cấp từ hệ thống ERP được công ty xây dựng từ năm 2007.



110

Thị trường bán lẻ Việt Nam đang có những chuyển biến tích cực trong việc

chuyển đổi sang các mơ hình kinh doanh hiện đại như bán lẻ trực tuyến, bán lẻ đa

kênh (omni-channel), bán lẻ tại các trung tâm thương mại lớn, đại siêu thị, cửa hàng

tiện ích hiện đại. Đây là nền tảng giúp cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam tích

cực đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin và cụ thể là quản trị nguồn lực

doanh nghiệp ERP vào hoạt động quản lý bán lẻ. Với những sự thay đổi tích cực

trong mơ hình kinh doanh, quy trình kinh doanh theo hướng hiện đại, sẽ giúp các

doanh nghiệp Việt Nam gặp thuận lợi trong việc triển khai các phần mềm quản lý

như ERP.

Tại phân khúc này, việc ứng dụng công nghệ quản lý hiện đại rất hạn chế,

chính vì vậy, theo kết quả điều tra của Hiệp hội thương mại điện tử Việt Nam trong

năm 2017, chỉ có khoảng 11% các doanh nghiệp bán bn/bán lẻ có ứng dụng ERP:



Hình 3.4: Tình hình sử dụng phần mềm hỗ trợ hoạt động doanh nghiệp tại các

doanh nghiệp bán lẻ

Nguồn: VECOM, 2018

Kết quả điều tra của Vecom cho thấy phần lớn các doanh nghiệp bán lẻ Việt

Nam mới chỉ dùng đến phần mềm kế tốn, tài chính với 89% các doanh nghiệp

được hỏi có sử dụng phần mềm này. Còn các phần mềm chuyên sâu như quản trị

chuỗi cung ứng SCM, quản trị quan hệ khác hàng CRM, hay quản trị nguồn lực

doanh nghiệp ERP thì còn rất hạn chế. Trong đó, xét về quy mơ thì chỉ có 9% doanh

nghiệp vừa và nhỏ có triển khai phần mềm ERP, 38% các doanh nghiệp lớn tham

gia khảo sát có ứng dụng phần mềm ERP tại doanh nghiệp. Như vậy, nhìn trên góc

độ quản lý, các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam chưa triển khai rộng rãi giải pháp

quản trị nguồn lực doanh nghiệp ERP.

3.2.2. Các nhà cung cấp giải pháp ERP trong lĩnh vực bán lẻ tại Việt Nam

Thị trường cung cấp các giải pháp ERP tại Việt Nam đang rất sôi động và

nhiều sự lựa chọn cho doanh nghiệp bán lẻ. Cụ thể, các nhà cung cấp phần mềm

quản trị nguồn lực doanh nghiệp ERP hàng đầu trên thế giới như SAP, Oracle, IBM,

Infor…đã sớm có mặt tại Việt Nam. Những nhà cung cấp này có nhiều năm kinh

nghiệm trong việc tư vấn, triển khai dự án ERP, tạo điều kiện cho doanh nghiệp bán



111

lẻ có nhiều sự lựa chọn nhà cung cấp giải pháp và tận dụng được những kinh

nghiệm triển khai. Bên cạnh đó, các nhà cung cấp phần mềm đã sớm nắm bắt được

nhu cầu ứng dụng phần mềm quản trị doanh nghiệp ERP của các nhà bán lẻ Việt

Nam nên đã đưa ra các gói giải pháp phù hợp, tùy biến theo đặc điểm kinh doanh và

quy mô của các doanh nghiệp bán lẻ tại Việt Nam. Trong khi đó, các cơng ty phần

mềm trong nước cũng tích cực tham gia vào lĩnh vực này, và đã đưa ra nhiều sản

phẩm cho thị trường, trong đó phải kể đến: FPT, Lạc Việt, Sao Khuê, HPT Soft.

Ngoài ra, các nhà cung cấp giải pháp thương mại điện tử như DKT, VNP cũng đã và

đang tích cực cải tiến các phần mềm quản lý bán hàng như Sapo, Nhanh.vn cho các

doanh nghiệp vừa và nhỏ, các cửa hàng chuyên dụng, cửa hàng tiện ích. Điều này

làm tăng cơ hội lựa chọn giải pháp quản trị nguồn lực doanh nghiệp ERP cho các

doanh nghiệp với quy mô từ lớn, đến vừa vả nhỏ, và rất nhỏ.

Nhằm phục vụ nâng cao hiệu quả cũng như năng suất làm việc, tạo ra một

nguồn lực mạnh cũng như giá trị cạnh tranh trên thị trường. Hiện nay, có rất nhiều

các nhà cung cấp ERP tại Việt Nam với những ưu điểm và đặc trưng riêng. Việt

Nam là một trong những nước đang phát triển với vô số các doanh nghiệp vừa –

nhỏ và các công ty lớn đa quốc gia cũng chiếm một phần khơng nhỏ. Vì vậy, các

loại phần mềm ERP khá phát triển và được các doanh nghiệp chú trọng khi lựa chọn

phần mềm ERP để phục vụ trong việc tổ chức và quản lý cơng ty. Từ đó nhằm phục

vụ nâng cao hiệu quả cũng như năng suất làm việc, tạo ra một nguồn lực mạnh cũng

như giá trị cạnh tranh trên thị trường.

Hiện nay, có rất nhiều các nhà cung cấp ERP tại Việt Nam với những ưu điểm

và đặc trưng riêng. Hiện nay các nhà cung cấp ERP tại Việt Nam đang cung cấp 2

nhóm các phần mềm ERP chính đó là trong nước và nước ngồi. Trong đó, các phần

mềm ERP ở Việt Nam trong nước khá phù hợp với các mơ hình ERP cho doanh

nghiệp vừa và nhỏ. Một trong những thế mạnh của hệ thống ERP trong nước đó là

có các phần mềm kế tốn, phần mềm chấm công được tuân theo chuẩn mực “thuần

Việt” bởi sự thay đổi liên tục của các thông tư, các điều khoản do Nhà nước ban

hành; Còn các phần mềm của nước ngoài, khi sử dụng bạn phải chú ý đến chi phí

bản quyền, chí phí tư vấn triển khai phần mềm ERP và thời gian cũng như công sức

triển khai mơ hình.



112

Bên cạnh đó, các phần mềm ERP nước ngồi cũng rất đắt đỏ, chi phí để triển

khai một dự án ERP nước ngồi khoảng vài trăm nghìn USD. Ưu điểm lớn nhất của

mơ hình quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) nước ngoài là được sử dụng với

mơ hình chuẩn hóa bởi được sản xuất trên dây chuyền cơng nghệ cao. Có thể kể đến

một số phần mềm quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) phổ biến nhất hiện nay

như các phần mềm ERP mã nguồn mở Odoo ERP, KIU ERP, Misa ERP, Fast ERP

mặc dù có tên gọi khác nhau và giao diện hoặc chức năng của các phần mềm này có

thể khác nhau nhưng hầu hết các nhà cung cấp erp tại Việt Nam đều thiết kế ERP

nhằm hỗ trợ triết để các hoạt động mua bán, các phần mềm chấm cơng, tài chính

của doanh nghiệp nhờ các phần mềm bán hàng, phần mềm kế toán.

Khi chọn các nhà cung cấp phần mềm quản trị nguồn lực doanh nghiệp ERP

tại Việt Nam doanh nghiệp cần lưu ý nên chọn các đơn vị uy tín, đã có kinh nghiệm

cung cấp giải pháp ERP cho doanh nghiệp và nhận được sự đánh giá cao của các

doanh nghiệp đó. Đồng thời nên chọn những cơng ty cung cấp phần mềm ERP có

chính sách bảo hành hỗ trợ lâu dài. Chi tiết về đánh giá một số phần mềm ERP tại

Việt Nam được trình bày tại Phụ lục 2 của luận án.

3.2.3. Thực trạng ứng dụng quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) tại một số

doanh nghiệp bán lẻ tại Việt Nam

3.2.3.1. Thực trạng ứng dụng quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) thành công

tại Liên hiệp HTX Thương mại TP. Hồ Chí Minh (Saigon Co.op)

1) Giới thiệu về Saigon Coop

Khởi nghiệp từ năm 1989, Liên hiệp HTX Mua bán Thành phố Hồ Chí Minh

- Saigon Co.op với 2 chức năng trực tiếp kinh doanh và tổ chức vận động phong

trào HTX. Saigon Co.op là tổ chức kinh tế HTX theo nguyên tắc xác lập sở hữu tập

thể, hoạt động sản xuất kinh doanh tự chủ và tự chịu trách nhiệm. Co.opmart là

thương hiệu quen thuộc của người dân thành phố và người tiêu dùng cả nước. Là

nơi mua sắm đáng tin cậy của người tiêu dùng.

Dưới góc độ của người tiêu dùng, các thương hiệu kinh doanh bán lẻ hiện đại

của Saigon Co.op đều quen thuộc với mọi tầng lớp khách hàng từ bình dân đến cao

cấp. Có thể kể đến như: Chuỗi cửa hàng Co.opFood, chuỗi siêu thị Co.opMart,



113

Chuỗi đại siêu thị Co.opExtraPlus (liên doanh với NTUC FairPrice-Singapore),

Chuỗi TTTM Sense City và Chuỗi Shopping mall cao cấp Vivo City (liên doanh với

MapleTree-Singapore).

2) Mơ hình ứng dụng quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) tại Saigon Coop

i) Năng lực tiếp cận công nghệ của Saigon Coop

Người tiên phong áp dụng ERP trong ngành bán lẻ là Saigon Co.op khi năm

2004 đã tìm đến hai nhà cung cấp phần mềm nước ngoài là Oracle và JDA. Phần

lớn các nhà bán lẻ trong nước tại thời điểm đó khơng dám đầu tư ngay lập tức trọn

gói dịch vụ này bởi chi phí tối thiểu khơng dưới một triệu USD. Saigon Co.op khi

triển khai hệ thống đã lựa chọn hai nhà cung cấp khác nhau là Oracle và JDA với

tổng chi phí lên đến 1,5 triệu USD.

Tới năm 2015, đơn vị quản lý chuỗi TTTM Sense City tự tin có trong tay

công cụ quản lý mang tên ERP-Symphony do công ty TNHH MTV Phần Mềm Vũ

Thái Duy (Công ty VTD) cung cấp. Theo hợp đồng vừa ký kết ngày 28/09/2015,

công ty VTD cung cấp và triển khai hệ quản trị ERP-Symphony cho Chuỗi Sense

City bao gồm Head Office (VP công ty SCID – đơn vị quản lý chuỗi Sense City) và

các Sense City thành viên, trước mắt là Sense City Cần Thơ và Sense City Bến Tre.

ERP-Symphony của VTD với dòng giải pháp đặc thù cho chuỗi Trung Tâm Thương

Mại mang tên ESS-DStore bao gồm các phân hệ tiêu biểu như:

- Quản trị mặt bằng cho thuê (Leasing Space Management): cho phép quản

trị và kiểm sốt tồn bộ khơng gian cho thuê kinh doanh của TTTM;

- Quản trị hợp đồng thuê (Leasing Contract Management): cung cấp cơng

cụ quản trị tồn bộ hoạt động cho thuê, bao gồm các hình thức cho thuê cố định

và/hoặc cho thuê chia doanh thu;

- Hệ thống POS: công cụ quản lý và vận hành tại các khu vực kinh doanh

trong TTTM bao gồm: khu vực shop thuê (POS Tenant), khu vực tự doanh (POS

Retail) và khu ẩm thực (POS FoodCourt);

- Các phân hệ liên quan đến việc chăm sóc và phát triển khách hàng như

Quản lý khuyến mãi (Promotion Management), Quản lý khách hàng thân thiết và

khách hàng thành viên (CRM), Quản trị phiếu mua hàng, phiếu giảm giá (Gift

Voucher, Coupon);



114

- Quản trị mua hàng (Purchasing Order Management): cho phép thực hiện

các nghiệp vụ mua hàng nhiều bước, từ khâu lên kế hoạch mua, đặt hàng nhà cung

cấp, nhập hàng và đổi trả hàng,…;

- Quản trị bán hàng (Sale Order Management): Thực hiện và kiểm soát tồn

bộ qui trình hoạt động bán sỉ (bán bn);

- Quản trị kho hàng hoàn chỉnh (Inventory Management);

- Các phân hệ quản lý tài chính (Financial Management) như Quản lý các

khoản phải thu (AR-Accounts Receivable), Quản lý các khoản phải trả (APAccounts Payable), Quản lý tiền (CA-Cash Management), kế toán TSCĐ (FA-Fixed

Assets) và Quản lý Kế toán tổng hợp (GL-General Ledger).

ii) Đặc điểm tổ chức của MC Co.opmart

Khái niệm chuỗi Co.opmart được bắt đầu xây dựng với chiến lược: Xây

dựng Co.opmart trở thành chuỗi siêu thị dẫn đầu Việt Nam. Với mục tiêu đa dạng

hóa mơ hình bán lẻ hiện đại, nhằm hướng tới việc khai thác mọi phân khúc khách

hàng, ngày 09/01/2014 Saigon Co.op đã cơng bố mơ hình Trung Tâm Thương Mại

Sense City. Các TTTM Sense City với qui mơ về diện tích và sự đa dạng về chủng

loại hàng hóa cũng như sự chọn lọc các thương hiệu phù hợp được kỳ vọng đáp ứng

tốt nhất nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng, đặc biệt với khách hàng có thu nhập

trung bình và khá tại các đơ thị.

iii) Yêu cầu của môi trường kinh doanh cạnh tranh và đổi mới mơ hình tăng

trưởng

Tại Việt Nam, thị trường bán lẻ đang trong giai đoạn cạnh tranh khốc liệt hơn

bao giờ hết. Thơng qua những phân tích ở mục 3.1 của luận án, có thể thấy các

doanh nghiệp bán lẻ cần có những sự thay đổi đột biến trong quản trị nguồn lực

nhằm có thể tồn tại trên chính “sân nhà” trong bối cảnh cạnh tranh và đổi mới mơ

hình tăng trưởng theo hướng đổi mới sáng tạo và công nghệ.

iv) Giá trị kinh doanh của ứng dụng ERP đem lại cho Saigon Co.op.

Việc đầu tư hệ quản trị ERP-Symphony được cho là đúng hướng và phù hợp

với các mơ hình kinh doanh của Saigon Co.op. Đến nay đã 12 năm liền, Saigon

Co.op luôn giữ vững danh hiệu là Nhà bán lẻ số 1 Việt Nam, Top 500 Nhà bán lẻ



115

hàng đầu khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Hệ thống ERP giúp Saigon Co.op đạt

được mục tiêu đa dạng hóa mơ hình bán lẻ hiện đại, nhằm hướng tới việc khai thác

mọi phân khúc khách hàng. Việc nâng cấp hệ thống ERP giúp doanh nghiệp thích

nghi với sự thay đổi của thị trường, thích nghi với tình hình cạnh tranh mới. Kết quả

kinh doanh mà Saigon Co.op đạt được đó là doanh thu lập kỷ lục 1.000 tỉ đồng mỗi

tuần, liên tục trong 8 tuần liên tiếp vào dịp tết năm 2019. Mạng lưới kinh doah của

Saigon Co.op được mở rộng lên hơn 100 siêu thị Co.opmart, nâng tổng số điểm bán

trên cả nước của Saigon Co.op lên hơn 650, đón hơn 1 triệu lượt khách hàng đến

tham quan mua sắm mỗi ngày trong năm 2018. Saigon Co.op còn được đánh giá là

nhà bán lẻ thuần Việt có nhiều mơ hình bán lẻ nhất hiện nay, phủ kín hầu hết phân

khúc khách hàng của thị trường bán lẻ Việt Nam và phủ rộng trên 43 tỉnh, thành cả

nước.

3.2.3.2. Thực trạng ứng dụng quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) thành công

tại Công ty cổ phần thương mại Nguyễn Kim

1) Giới thiệu về Nguyễn Kim

Được thành lập vào năm 1992, bước sơ khai của Nguyễn Kim là cửa hàng

kinh doanh Điện - Điện Tử - Điện Lạnh tại Quận 1 TP Hồ Chí Minh. Với tầm nhìn

chiến lược kinh doanh theo hướng ứng dụng thương mại điện tử và bán lẻ đa kênh,

Nguyễn Kim đã trở thành một trong những thương hiệu bán lẻ số 1 tại thị trường

Việt Nam. Thế mạnh của Nguyễn Kim là sản phẩm chính hãng chất lượng, chun

mơn hóa trong từng bộ phận, sự quản lý chuyên nghiệp cùng đội ngũ kỹ thuật lành

nghề, phục vụ uy tín đáp ứng tốt yêu cầu và nhu cầu khác nhau của khách hàng.

Kể từ khi thành lập, Nguyễn Kim đã không ngừng lớn mạnh và liên tục phát

triển khơng chỉ về quy mơ mà còn hướng đến mục tiêu trở thành công ty số 1 cách

biệt tại Việt Nam trong lĩnh vực bán lẻ và bán lẻ đa kênh, đem đến cho khách hàng

những trải nghiệm và dịch vụ chất lượng.

2) Mơ hình ứng dụng quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) tại Nguyễn Kim

i) Năng lực tiếp cận công nghệ của Nguyễn Kim

Giai đoạn 2011-2015, song song với việc tiếp tục phát triển và mở rộng các

trung tâm mua sắm theo hướng trung tâm phức hợp, Nguyễn Kim còn tập trung

nâng cao hệ thống quản lý thông qua việc ký kết hợp đồng hợp tác chiến lược với



116

Deloitte Consulting để triển khai giải pháp ERP hàng đầu thế giới là SAP cho toàn

bộ hoạt động của Cơng ty.

Có thể nói trong bối cảnh kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, quyết định đầu tư

hệ thống SAP với chí phí lên đến hàng triệu USD vào giai đoạn 2011 - 2015 cho

thấy tầm nhìn, bản lĩnh của Ban Lãnh đạo Nguyễn Kim cũng như tiềm lực vững

mạnh về tài chính Cơng ty, biến thời điểm khó khăn thành cơ hội để chuẩn bị nền

tảng vững chắc cho việc phát triển mạnh mẽ trong tương lai, sẵn sàng cho việc tăng

tốc và phát triển.

ii) Đặc điểm tổ chức của Nguyễn Kim

Tỉ suất lợi nhuận của ngành kinh doanh bán lẻ hàng điện tử không cao

(khoảng 10%) và giải pháp để tồn tại duy nhất là phải mở rộng quy mô. Trong khi

các nhà bán lẻ điện tử tiêu dùng khác trên thị trường như Pico, Thiên Hòa, Trần

Anh, dienmay.com... dường như e dè mở rộng quy mô rộng khắp Việt Nam ở thời

điểm vơ cùng khó khăn của thị trường, thì Nguyễn Kim đã hóa giải đáp số hóc búa

của bài tốn này từ rất sớm.

Tiềm lực tài chính là một trong những lý do giúp Nguyễn Kim mở rộng quy

mơ trên tồn lãnh thổ. Chiến lược mở rộng thành công của Nguyễn Kim là cộng dồn

của 5 yếu tố: thương hiệu lâu đời, dòng tiền, mơ hình mang tính xu hướng, chất

lượng dịch vụ, và hệ thống quản lý. Đầu tiên, không bàn cãi về giá trị thương hiệu

của một doanh nghiệp tiên phong trên thị trường như Nguyễn Kim.

Mơ hình kinh doanh của Nguyễn Kim với sự học hỏi kinh nghiệm tổ chức các

mơ hình bán lẻ hàng đầu thế giới như Bestbuy, Yamada... để tiên phong ứng dụng

mơ hình hiện đại có điều chỉnh này, đã tạo ra một xu hướng mua sắm mới cho người

tiêu dùng Việt Nam. Theo đó, Nguyễn Kim bao trùm 6 ngành hàng quan trọng là

điện tử, điện lạnh, gia dụng, tin học, giải trí và viễn thơng, bên cạnh các dịch vụ ẩm

thực, giải trí. Nguyễn Kim còn được sự hậu thuẫn đắc lực về giá, khuyến mãi của

các nhà sản xuất lớn như Sony, Toshiba, Panasonic, Samsung, Daikin, Philips, LG,

Electrolux, Nokia, HP, Intel.

iii) Yêu cầu của môi trường kinh doanh cạnh tranh và đổi mới mơ hình tăng

trưởng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG QUẢN TRỊ NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP TẠI CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CẠNH TRANH VÀ ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×