Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: KINH NGHIỆM ỨNG DỤNG QUẢN TRỊ NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP (ERP) TẠI CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ TRÊN THẾ GIỚI

CHƯƠNG 2: KINH NGHIỆM ỨNG DỤNG QUẢN TRỊ NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP (ERP) TẠI CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ TRÊN THẾ GIỚI

Tải bản đầy đủ - 0trang

73

đó, dưới sự trợ giúp đắc lặc của chính phủ Trung Quốc thông qua Pháp lệnh bán lẻ

và khả năng học hỏi kinh nghiệm và kỹ năng quản lý hiện đại từ các nhà bán lẻ

nước ngoài, một số doanh nghiệp bán lẻ Trung Quốc đã mạnh dần lên và mở rộng ra

thị trường quốc tế (Trần Minh Đạo).

Hơn nữa, Trung Quốc đang mạnh dần lên trong các dịch vụ liên quan đến

công nghệ thông tin, và bán lẻ ứng dụng thương mại điện tử là một trong những lĩnh

vực mà Trung Quốc đạt được những thành tựu đáng nể. Thậm chí, PwC cũng đưa ra

cảnh báo những nhà bán lẻ tại Trung Quốc phải sớm tính tốn lại chiến lược, khi mà

các kênh thương mại điện tử đang phát triển với tốc độ chóng mặt, trong khi người

tiêu dùng ở đây thuộc số những người tích cực nhất trên thế giới về công nghệ di

động và các phương tiện truyền thông xã hội. Tại Trung Quốc, sự bùng nổ của

ngành công nghệ thông tin giúp các ngành nghề truyền thống phát triển mạnh mẽ

hơn. Internet sẽ tạo điệu kiện cho nhiều ngành chuyển hướng và tập trung vào các

nhu cầu riêng biệt của khách hàng. Đề án quốc gia "Internet Plus" của Trung Quốc

chỉ rõ mục tiêu ứng dụng công nghệ để thúc đẩy tăng trưởng trong nước lên tầm

mức cao hơn, cũng như mang lại cơ hội tốt hơn cho các công ty Trung Quốc. Kế

hoạch hành động Internet Plus có mục đích tích hợp Internet di động, điện toán đám

mây, dữ liệu lớn, và Internet of Things (Internet vạn vật) với sản xuất và chế tạo

hiện đại, nhằm khuyến khích sự phát triển lành mạnh của thương mại điện tử, mạng

lưới công nghiệp, và ngân hàng Internet. Trong khi đó, Chủ tịch tập đồn thương

mại điện tử khổng lồ của Trung Quốc – Alibaba, cho rằng những công ty công nghệ

thông tin không kết hợp với các ngành nghề và công nghiệp truyền thống sẽ không

thể phát triển xa trong tương lai. Ngược lại, các ngành nghề và cơng nghiệp truyền

thống cũng khơng thể "sống sót" nếu không sử dụng các công nghệ và ý tưởng của

Internet (Hanson & Kalyanam, 2007). Chính vì vậy, các doanh nghiệp bán lẻ Trung

Quốc đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thơng tin nhằm cạnh tranh và sống sót trên

chính thị trường nội địa trước sức ép rất lớn từ các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài.

Sau đây là một số nét chính trong sự phát triển của việc ứng dụng công nghệ thông

tin vào bán lẻ tại Trung Quốc:

Thứ nhất, doanh nghiệp bán lẻ Trung Quốc đẩy mạnh thanh toán và bán hàng

trực tuyến. Doanh số bán hàng thương mại điện tử của nước này đã vượt qua con số



74

1.000 tỷ USD năm 2017, cao nhất thế giới. Ngay cả các cửa hiệu tạp hoá tại Trung

Quốc cũng hỗ trợ khách hàng mua sắm online và nhận hàng tại nhà trong vòng một

giờ, còn những người bán hàng rong trên phố cũng thích thanh tốn qua điện thoại

di động hơn tiền mặt. Một mặt, các doanh nghiệp bán lẻ Trung Quốc đẩy mạnh hoạt

động bán lẻ thương mại điện tử, mặt khác, doanh nghiệp thương mại điện tử lại mở

rộng thị trường sang lĩnh vực bán lẻ truyền thống nhằm gia tăng trải nghiệm khách

hàng và kiểm soát dữ liệu khách hàng cho dù họ đang mua sắm trong cửa hàng hay

trên mạng. Ví dụ điển hình đó là việc tập đoàn Alibaba đã trả khoảng 6 tỷ USD để

kiểm soát chuỗi siêu thị hàng đầu Trung Quốc, cùng một trong những chuỗi cửa

hàng nhượng quyền lớn nhằm mở rộng thị trường và củng cố sức mạnh của tập

đoàn trong lĩnh vực bán lẻ.

Thứ hai, doanh nghiệp bán lẻ Trung Quốc tích cực triển khai và thử nghiệm

các cơng nghệ mới trong lĩnh vực bán lẻ: điển hình là Alibaba, Tencent, cùng một

loạt các công ty khởi nghiệp được tài trợ khác đang đem đến cho người tiêu dùng

Trung Quốc những trải nghiệm hoàn toàn mới trong mua sắm như: cười để thanh

tốn (Smile to Pay) – một hình thức thanh tốn sử dụng cơng nghệ nhận dạng khn

mặt, qn ăn tự động – cho phép khách hàng đặt món qua di động và tự nhận món

ăn bằng mã khố trên điện thoại, cửa hàng tiện lợi đóng hộp - nơi hàng hố được

bày bán hồn tồn tự động, khơng có người bán hàng sử dụng chủ yếu cơng nghệ

qut mã QR, thẻ nhận dạng tần số vô tuyến (RFID) và thanh tốn di động. Những

cơng nghệ kể trên giúp cho doanh nghiệp bán lẻ tăng cường tự động hoá, tiết kiệm

chi phí th nhân cơng, giảm sai sót, gia tăng sự hài lòng của khách hàng. Một ví dụ

điển hình về việc ứng dụng cơng nghệ trong bán lẻ tại Trung Quốc đó là máy bán xe

hơi tự động. Từ tháng 3 năm 2018, Alibaba đã xây dựng “máy bán xe hơi” tại

Quảng Châu, chứa 30 chiếc xe của nhiều hàng từ BMW, Ford tới Volvo, cho phép

người tiêu dùng có thể lên lịch qua mạng Internet để tới lái thử xe và nhận xe tại

điểm đặt “máy bán xe hơi tự động”. Những công nghệ hiện đại tiếp tục được phát

triển tại các doanh nghiệp bán lẻ Trung Quốc, mở ra cơ hội trải nghiệm mới cho

khách hàng, củng cố lòng trung thành của khách hàng trên thị trường nội địa.



75

2.1.2. Khái quát sự phát triển của các kênh bán lẻ hiện đại

2.1.2.1. Cửa hàng chuyên dụng và chun mơn hóa

Khi mức độ cạnh tranh càng cao thì đòi hỏi sự chun mơn hóa ngày càng

sâu. Mỹ là một quốc gia đạt đến chỉ số siêu cạnh tranh và nó cũng là đất nước mà ở

đó tính chun mơn hóa trong kinh doanh là rất cao, biểu hiện là sự đa dạng và số

lượng các ngành nghề là rất lớn. Ngành bán lẻ cũng vậy, khi nó đạt tới một chỉ số

cạnh tranh càng cao thì mức độ chun mơn hóa của ngành lại càng cao. Trong bối

cảnh cạnh tranh trên thị trường ngày càng trở nên khốc liệt, các cửa hàng theo đuổi

mơ hình bách hóa tổng hợp sẽ ngày càng tỏ ra yếu thế. Người tiêu dùng luôn muốn

mua được sản phẩm tốt nhất và họ phải làm cách nào để có thể so sánh và tìm ra

được thương hiệu, sản phẩm tốt nhất giữa rất nhiều các thương hiệu và chủng loại

sản phẩm. Cửa hàng chuyên dụng chỉ kinh doanh có một chủng loại sản phẩm nên

sự đa dạng trong mặt hàng của họ là rất lớn và khách hàng thì ln u thích có

nhiều sự lựa chọn thay vì chỉ có một vài sản phẩm.

Trung tâm thương mại là một hình thức hồn tồn khác so với cửa hàng bách

hóa tổng hợp và cửa hàng chuyên doanh. Đây là sự kết hợp của cả hai khi vừa có

tính tổng hợp và vừa có tính chuyên sâu. Thực chất, trung tâm thương mại chỉ là

một nơi để tập hợp các doanh nghiệp, các thương hiệu để hợp thành một cái chợ.

Trung tâm thương mại không tự mình kinh doanh các sản phẩm như các cửa hàng

bách hóa tổng hợp mà nó cho các doanh nghiệp kinh doanh th chỗ để bán. Còn

mơ hình cửa hàng tiện lợi là một ngoại lệ. Cho dù bán rất nhiều thứ nhưng nó vẫn

phát triển vì hai chữ "tiện lợi". Ngay cả siêu thị cũng theo xu hướng tiện lợi trong

khi rất nhiều các siêu thị chuyên doanh được ra đời như: siêu thị điện máy, siêu thị

nông sản, siêu thị đồng hồ.

2.1.2.2. Bán lẻ đa kênh tích hợp (Omni channel retail)

Trong kỷ nguyên số ngày nay, cạnh tranh giữa các kênh bán lẻ truyền thống

và bán lẻ trực tuyến ngày càng khốc liệt. Amazon và Alibaba là 2 tập đoàn lớn về

thương mại điện tử gần đây đã chuyển đổi xu hướng bán hàng trực tuyến của họ

sang hình thức mới – bán lẻ đa kênh tích hợp (Omni channel retail). Với những gì

mà 2 thương hiệu lớn này đang thực hiện, có thể nói bán lẻ đa kênh tích hợp chính

là giải pháp khắc phục nhược điểm của mua sắm trực tuyến.



76

Bán lẻ đa kênh tích hợp là hình thức bán lẻ kiểu mới, kết hợp giữa bán lẻ

truyền thống và thương mại điện tử bằng việc sử dụng trí tuệ nhân tạo, cơng nghệ

dữ liệu. Mơ hình bán lẻ đa kênh tích hợp, cho phép kết nối liền mạch việc trải

nghiệm mua sắm ở cửa hàng truyền thống và kênh bán hàng trực tuyến. Chi phí

thuê mặt bằng cao, sử dụng nhiều nhân công và không mạnh về công nghệ là những

điểm yếu của ngành bán lẻ truyền thống. Ngược lại, đối với hình thức mua hàng

trực tuyến, khách hàng chỉ được xem hình, video, hay xem các bình luận để thẩm

định chất lượng hàng hóa. Vậy nên, bán lẻ đa kênh tích hợp là hình thức giúp khắc

phục những điểm yếu của bán lẻ truyền thống và bán hàng trực tuyến.

Amazon đã phát động cuộc cách mạng mua sắm trực tuyến nhưng hiện nay,

tập đoàn này đang lấn sân sang kênh bán lẻ trực tiếp khởi đầu với vụ thâu tóm chuỗi

cửa hàng thực phẩm tươi Whole Foods với giá 13,7 tỉ đô la Mỹ và sau đó là giới

thiệu cửa hàng khơng quầy tính tiền Amazon Go. Tất cả những động “ngược” này là

nhằm hồn thiện mơ hình bán lẻ đa kênh tích hợp. Amazon hiểu rằng nhu cầu cơ

bản của người tiêu dùng là phải chạm và cảm nhận món hàng trước khi mua. Do

vậy, hãng xem chiến lược bán hàng đa kênh tích hợp như một giải pháp hiệu quả để

tăng thêm doanh thu.

Việc Alibaba tham gia vào lĩnh vực bán lẻ truyền thống thường được so sánh

với vụ mua lại siêu thị thực phẩm Whole Foods của Amazon. Tháng 11-2017,

Alibaba đã đầu tư 2,9 tỉ USD vào thương vụ mua 36% cổ phần của tập đoàn bán lẻ

Sun Art Retail Group. Tuy nhiên, bán lẻ đa kênh kiểu mới liên quan đến người dùng

và dữ liệu nhiều hơn kênh siêu thị truyền thống. Alibaba là một nền tảng kết nối bên

bán hàng, thương hiệu với người tiêu dùng bằng cách sử dụng dữ liệu và nhiều công

cụ kỹ thuật số.

2.1.2.3. Cửa hàng bán lẻ tự động

Amazon Go là mơ hình cửa hàng bán lẻ không nhân viên của hãng thương

mại điện tử khổng lồ Amazon. Tại đây, khách hàng đăng ký ở lối vào qua ứng dụng

Amazon Go và tự do lựa chọn món đồ mình cần. Trong khi đó, Amazon sẽ tự động

theo dõi các món hàng đó thơng qua hệ thống ứng dụng cơng nghệ trí tuệ nhân tạo

và máy học. Khi chọn đồ xong, khách hàng chỉ việc rời cửa hàng mà khơng cần xếp

hàng thanh tốn. Cửa hàng sẽ tự động trừ tiền trên tài khoản Amazon của họ.



77

Để bắt đầu mua sắm, khách hàng phải quét ứng dụng Amazon Go bằng điện

thoại thông minh và đi qua một cửa quay xoay để check-in. Amazon Go sử dụng hệ

thống camera và cảm biến trọng lượng đặt trên kệ để theo dõi quá trình mua hàng

của người dùng. Những gì khách hàng lấy đi hoặc bỏ lại trên kệ đều sẽ được tính

tốn chính xác. Khi quay trở lại và bước qua quầy check-in để ra khỏi cửa hàng, hệ

thống sẽ tự nhận diện sản phẩm mà khách hàng đã mang đi để tự động thanh toán.

2.1.3. Thực trạng các phần mềm quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) cho

doanh nghiệp bán lẻ trên thế giới

Các nhà cung cấp giải pháp ERP hàng đầu thế giới bao gồm SAP, Oracle,

Microsoft, Sage, Infor... với các giải pháp khác nhau cho từng loại hình và quy mơ

doanh nghiệp.

Hình 2.1 Các loại phần mềm ERP

Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo Panorama, 2018

Ghi chú: Vòng tròn từ trong ra ngồi tương ứng với kết quả điều tra năm 2017,

2018

Báo cáo năm 2018 của Panorama Consulting - một công ty chuyên tư vấn triển

khai ERP và cung cấp báo cáo thường niên về ERP đã tổng kết thị phần của các nhà

cung cấp ERP như trong phụ lục 1. Có sự thay đổi lớn trong xu hướng ứng dụng

ERP 2 năm trở lại đây, trong đó, phần mềm SaaS ERP đã gia tăng mức độ phổ biến

từ 27% năm 2017 lên 64% năm 2018, đóng vai trò là loại hình ERP phổ biến nhất

được các doanh nghiệp áp dụng. Xu hướng ứng dụng Cloud ERP cũng gia tăng từ

6% năm 2017 lên 21% năm 2018, thể hiện việc các nhà cung cấp ngày càng đẩy

mạnh dịch vụ điện toán đám mây cho khách hàng (Panorama, 2018).

Các nhà cung cấp ERP đã đưa ra các phần mềm ERP dành cho các doanh

nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa. Đối với mỗi giải pháp, nhà cung cấp ERP xây dựng

trên các nền tảng khác nhau, trong đó, SAP, Oracle, Infor chủ yếu cung cấp giải

pháp On-premise ERP, Microsoft chủ yếu cung cấp Cloud ERP (Panorama, 2018).

Bảng 2.2: Các phần mềm ERP của các nhà cung cấp hàng đầu thế giới



78

Nhà cung

cấp/Giải

pháp cho

DN

Oracle



Doanh nghiệp

lớn

(>500

nghìn

USD)

Oracle

Fusion

Applications



SAP



SAP ERP



Microsoft



Infor



Infor M3



Doanh nghiệp Doanh nghiệp Doanh nghiệp

vừa (250 nghìn - nhỏ (50 nghìn - siêu nhỏ (<50

500 nghìn USD) 250 nghìn USD) nghìn USD)

Oracle

EBusiness Suite

Oracle

JD

Edwards (dành

cho DN sản xuất)

SAP

Business

All-in-One



Oracle NetSuite

ERP

Oracle

JD

Edwards

EnterpriseOne

SAP

Business

One

(dành cho DN

bán lẻ)



Microsoft

Dynamics NAV



Microsoft

Dynamics NAV

Microsoft

Dynamics GP

Infor CloudSuite

Infor LN



Infor SyteLine



Oracle NetSuite

ERP

Oracle

JD

Edwards

EnterpriseOne

SAP

Business

ByDesign (nền

tảng SaaS cho

DNKS và siêu

nhỏ)

Microsoft

Dynamics GP

Microsoft

Dynamics AX

Infor CloudSuite



Nguồn: NCS tổng hợp từ báo cáo của Gartner (2017), Panorama (2017)

Hệ thống ERP nguồn mở đã dần dần tăng thị phần trên thế giới, trong đó điển

hình về hệ thống ERP mã nguồn mở đã giành được thị phần trong vài năm gần đây

là Odoo, Openbravo, OpenERP, xTuple, Adempiere, PostBooks ERP & WebERP.

2.2. Kinh nghiệm ứng dụng quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) tại một số

doanh nghiệp bán lẻ trên thế giới

2.2.1. Kinh nghiệm của Walmart tại Hoa Kỳ

2.2.1.1. Giới thiệu về Walmart

Walmart Stores, Inc., được thành lập năm 1962, hiện nay là tập đoàn bán lẻ

lớn nhất trên thế giới với 11.718 cửa hàng trên tồn cầu với 2,5 triệu cơng nhân, và

giá trị vốn hoá tháng 4 năm 2018 là khoảng 257 tỷ đô la Mỹ (Walmart, 2018).

Walmart không chỉ là nhà bán lẻ lớn nhất tồn cầu và cũng là cơng ty lớn nhất của

bất kỳ loại nào trên thế giới.

2.2.1.2. Mô hình ứng dụng quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) tại Walmart

i) Năng lực tiếp cận công nghệ của Walmart

Ứng dụng ERP tại chuỗi siêu thị Walmart được bắt đầu từ nền tảng EDI và

hệ thống Retail Link tự xây dựng từ rất sớm: Hệ thống ERP tại Walmart có nền tảng

trên hệ thống TMĐT tích hợp, sử dụng hệ thống quản lý chuỗi cung ứng trên nền

EDI yêu cầu các nhà cung cấp lớn sử dụng mạng EDI của riêng Walmart xây dựng



79

năm 1980 để thực hiện các đơn hàng do các giám đốc mua sắm của Walmart đặt

mua. Năm 1991, Walmart đã mở rộng khả năng của mạng lưới dựa trên nền EDI

bằng việc giới thiệu hệ thống Retail Link. Hệ thống này kết nối các nhà cung cấp

lớn nhất của Walmart đối với hệ thống quản lý kho của riêng Walmart và đòi hỏi các

nhà cung cấp lớn phải kiểm soát lượng tiêu thụ thực tế tại từng cửa hàng và có kế

hoạch bổ sung theo nhu cầu dựa trên các quy định do Walmart đưa ra.



Hình 2.2: Mơ hình các nhân tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng ERP tại Walmart

Walmart không ngừng cải tiến hệ thống ERP để đáp ứng yêu cầu của môi

trường kinh doanh cạnh tranh và đổi mới mơ hình tăng trưởng theo hướng đổi mới

sáng tạo và công nghệ: Năm 2000 Walmart th một cơng ty bên ngồi nâng cấp

Retail Link từ một hệ thống quản lý chuỗi cung cấp thành một hệ thống có khả năng

dự báo tốt hơn, lập kế hoạch và quản lý hàng cung ứng tốt hơn. Năm 2002, Walmart

đã chuyển sang một hệ thống mạng riêng dựa trên Walmart hoàn toàn. Walmart sử

dụng Sterlling Commerce nhà cung cấp lớn nhất về hệ thống EDI và IBM để triển

khai sáng kiến này. Walmart đổi mới phương thức xây dựng và quản lý hệ thống

ERP: Năm 2007, hãng quyết định sử dụng một hệ thống thay thế hoàn toàn hệ thống

tự xây dựng ban đầu (Nguyễn Văn Hồng và các tác giả, 2013). Wal-Mart mua giải



80

pháp tài chính ERP của SAP nhằm hỗ trợ việc mở rộng toàn cầu của nhà bán lẻ và

nhu cầu của mình để đáp ứng hiệu quả những thay đổi trong bối cảnh kinh doanh và

quản lý. Mua ứng dụng phần mềm đóng gói là một trong những cách mà Walmart

lựa chọn để có thể lấy lại sự thống trị của hãng trên khía cạnh CNTT và chống cạnh

tranh. Sau đó, Walmart tập trung vào tốc độ, sự đổi mới với công nghệ SAP HANA,

nền tảng SAP Business Intelligence của SAP để thực hiện các công việc như xử lý

các hồ sơ giao dịch của công ty. Wal-mart đã sử dụng phương pháp phát triển nhanh

(agile methodology) để triển khai SAP HANA nhằm thu thập dữ liệu và thông tin

chi tiết ở quy mơ và tốc độ nhanh chóng theo thời gian thực. Wal-Mart sử dụng các

khả năng xử lý dữ liệu trong bộ nhớ của Hana để thu thập dữ liệu từ các bộ phận

khác nhau của doanh nghiệp với 250 triệu khách hàng một tuần, hơn 11.000 địa

điểm toàn cầu, kênh TMĐT phát triển và 2,2 triệu nhân viên (Wilson, 2015).

ii) Đặc điểm tổ chức của Walmart

Chiến lược công nghệ thông tin của Walmart có định hướng “xây dựng lớn

hơn nhu cầu” nhằm xây dựng lợi thế cạnh tranh từ công nghệ (Ustundag, 2013).

Wal-Mart không phải là một công ty công nghệ, nhưng lại là một công ty coi công

nghệ là một yếu tố quan trọng trong chiến lược kinh doanh. Tại Walmart, các giám

đốc điều hành công nghệ CIO và các nhà lãnh đạo đơn vị kinh doanh luôn cộng tác

trong các dự án và quyết định công nghệ thông tin.

iii) Yêu cầu của môi trường kinh doanh cạnh tranh và đổi mới mơ hình tăng

trưởng

Sự phát triển của cơng nghệ thông tin và Internet đã làm thay đổi mô hình

kinh doanh và đặc biệt là thay đổi ngành bán lẻ. Nghiên cứu của Laudon và Traver

(2017) đã phân tích rõ lịch sử phát triển của thương mại điện tử theo 3 giai đoạn từ

Phát minh các mơ hình kinh doanh mới, Hợp nhất các mơ hình kinh doanh truyền

thống và thương mại điện tử, và giai đoạn Đổi mới các mơ hình kinh doanh điện tử.

Theo đó, thị trường thương mại điện tử Hoa Kỳ giai đoạn 1995 - 2000 được coi là

giai đoạn Phát minh ra các mô hình kinh doanh mới, sự bùng nổ của Amazon và các

công ty .com đã làm thay đổi thị trường bán lẻ Hoa Kỳ buộc Walmart phải có những

thích ứng với sự thay đổi của thị trường. Tuy nhiên, phải đến năm 2000 Walmart

mới cho ra đời website bán hàng trực tuyến, và nâng cấp hệ thống Retail Link, lúc



81

này môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp bán lẻ đã thay đổi chuyển sang

giai đoạn 2000 - 2006 được coi là giai đoạn Hợp nhất các mơ hình kinh doanh

thương truyền thống và thương mại điện tử. Trong giai đoạn này vị thế số 1 trên thị

trường bán lẻ của Walmart vẫn được củng cố, tuy nhiên, đến giai đoạn 3 của lịch sử

phát triển của thương mại điện tử từ 2006 đến nay quy mô của Amazon.com và

Alibaba ngày càng lớn mạnh, cùng với nhiều tên tuổi của các website bán hàng trực

tuyến của các quốc gia Châu Âu và Châu Á, khiến cho khoảng cách của Walmart

với các công ty bán lẻ, đặc biệt là Amazon.com ngày càng thu hẹp. Điều này càng

ngày càng tăng áp lực lên Walmart buộc hãng phải có những sự thay đổi quyết liệt

trong quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) nhằm tối ưu hóa các nguồn lực và

nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh mới.

iv) Giá trị kinh doanh của ứng dụng ERP đem lại cho Walmart: Nhờ có hệ

thống quản trị nguồn lực doanh nghiệp ERP hiện đại, Walmart có được lợi thế cạnh

tranh từ cơng nghệ, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý chuỗi cung ứng, tăng

cường tích hợp và chia sẻ với nhà cung cấp. Hệ thống ERP cũng giúp cho Walmart

nâng cao hiệu quả quản lý doanh nghiệp ở quy mơ tồn cầu.

2.2.2. Kinh nghiệm của Amazon tại Hoa Kỳ

2.2.2.1. Giới thiệu về Amazon.com

Amazon.com được thành lập năm 1995, phát triển từ cửa hàng sách lớn nhất

thế giới thành cửa hàng trực tuyến lớn nhất thế giới với doanh thu đạt 177,9 tỷ đô la

năm 2017 (Statista, 2018). Hiện tại, Amazon.com được xếp hạng số một về bán lẻ

trên mạng, giá trị lớn nhất mà Amazon.com đem lại cho khách hàng đó là cung cấp

chủng nhiều sản phẩm nhất và giao dịch thuận tiện nhất (Nguyễn Văn Minh, 2011).

2.2.2.2. Mơ hình ứng dụng quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) tại Amazon.com

i) Năng lực tiếp cận công nghệ của Amazon.com

Amazon sớm đầu tư mạnh cho hệ thống ERP: Giữa năm 2001 và 2003,

Amazon đã đầu tư $300.000 vào việc xây dựng các trung tâm phân phối mới và

trang bị phần mềm cho hệ thống thông tin (Laudon & Laudon, 2018). Amazon sử

dụng hệ thống thông tin để nâng cao lợi nhuận và nâng cao lợi thế cạnh tranh. Hệ

thống thông tin của Amazon bao gồm cả ERP (quản trị nguồn lực doanh nghiệp),

SCM (quản trị chuỗi cung ứng), CRM (quản trị quan hệ khách hàng).



82

Amazon lựa chọn hệ thống ERP của Oracle: Bao gồm hệ cơ sở dữ liệu tích

hợp tất cả các thơng tin liên quan đến đơn đặt hàng của khách hàng như lịch sử mua

hàng, lơ hàng sản phẩm và hóa đơn, do đó cho phép sắp xếp các q trình thực hiện

đơn hàng. Hệ thống ERP tự động hóa các bước của quá trình này bằng cách lấy đơn

đặt hàng của khách hàng và xử lý chúng thành các hoá đơn, cho phép Amazon để

đẩy nhanh quá trình thực hiện đơn hàng, cải thiện khả năng hiển thị theo dõi đơn

hàng và giảm bớt lỗi trong quá trình phân phối.



Hình 2.3: Mơ hình các nhân tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng ERP tại

Amazon.com

ii) Đặc điểm tổ chức của Amazon.com

Chiến lược công nghệ thông tin của Amazon thay đổi từ cửa hàng bán lẻ trực

tuyến (B2C) sang sàn giao dịch thương mại điện tử B2B2C lớn nhất thế giới vào

đầu những năm 2000 (Nguyễn Văn Thoan, 2009). Tuy nhiên, tới những năm 2010,

Amazon đã chuyển hướng chiến lược kinh doanh của mình trở thành nhà cung cấp

dịch vụ nền tảng web, trong đó có dịch vụ nền tảng cho giải pháp ERP:

Amazon.com là trường hợp điển hình trong ngành cơng nghiệp bán lẻ khi triển khai

thành công ERP và cung cấp dịch vụ Amazon Web Services (AWS) – một dịch vụ



83

cung cấp nền tảng cơ sở hạ tầng trên web có khả năng cung cấp các giải pháp điện

toán đám mây ERP cho các khách hàng trên toàn thế giới (Nguyễn Văn Thoan và

Nguyễn Thị Hồng Vân, 2018). Ngay cả Infor là một trong 4 nhà cung cấp ERP hàng

đầu thế giới cũng chọn sử dụng dịch vụ của AWS. Vì Amazon vận hành một mạng

lưới khổng lồ của các trung tâm dữ liệu nằm trên toàn cầu, nên các ứng dụng đó có

thể được triển khai từ các trung tâm dữ liệu đó gần nhất với vị trí của khách hàng.

iii) Yêu cầu của môi trường kinh doanh cạnh tranh và đổi mới mơ hình tăng

trưởng

Mơi trường kinh doanh bán lẻ trực tuyến cũng có những thay đổi liên tục từ

năm 1995 tới nay gắn liền với sự thay đổi của công nghệ và xu hướng tiêu dùng.

Điều này làm gia tăng áp lực lên Amazon và các nhà bán lẻ trực tuyến khác để có

thể thay đổi phù hợp với sự thay đổi của công nghệ và người tiêu dùng.

iv) Giá trị kinh doanh của ứng dụng ERP đem lại cho Amazon: Hệ thống

quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) của Amazon khơng bất biến mà có những

cập nhật liên tục để có thể nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng, mở rộng thị

trường, đồng thời rút ngắn khoảng cách với nhà bán lẻ hàng đầu thế giới - Walmart,

cũng như củng cố vị thế đối với các doanh nghiệp kinh doanh điện tử khởi nghiệp

(startup) đang ngày càng mở rộng.

2.2.3. Kinh nghiệm của Nordstrom tại Hoa Kỳ

2.2.3.1. Giới thiệu về Nordstrom

Nordstrom được sáng lập năm 1901, hiện là một trong những trung tâm

thương mại cao cấp hàng đầu nước Mỹ. Nhiều chuyên gia phân tích trong ngành

bán lẻ cho biết Nordstrom đã đặc biệt thành công trong chiến lược hoàn thiện dịch

vụ khách hàng. NordStrom cũng áp dụng các cơng nghệ hiện đại để nhân viên có

thể truy cập nhà kho tại mọi điểm cũng như sử dụng bán lẻ đa kênh (Omni-chanel

Retail - OCR) để phục vụ khách hàng được tốt nhất (Oracle, 2015).

2.2.3.2. Mơ hình ứng dụng quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) tại Nordstrom

i) Năng lực tiếp cận công nghệ của Nordstrom

Nordstrom sử dụng giải pháp ERPcủa Oracle: Nhằm thực hiện quản lý hoạt

động bán lẻ, quản lý hàng tồn kho. Nordstrom hướng tới sử dụng các phiên bản mới

nhất của các giải pháp bán lẻ Oracle trên phạm vi tồn cơng ty để hỗ trợ hoạt động



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: KINH NGHIỆM ỨNG DỤNG QUẢN TRỊ NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP (ERP) TẠI CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ TRÊN THẾ GIỚI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×