Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: QUẢN TRỊ NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC ỨNG DỤNG QUẢN TRỊ NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ TRONG BỐI CẢNH CẠNH TRANH VÀ ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG

CHƯƠNG 1: QUẢN TRỊ NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC ỨNG DỤNG QUẢN TRỊ NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ TRONG BỐI CẢNH CẠNH TRANH VÀ ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

34

lực doanh nghiệp (ERP) được định nghĩa là một sản phẩm phần mềm phát triển tích

hợp tất cả các quy trình và dữ liệu trong một hệ thống (Klaus và cộng sự, 2000;

Koch, 2003), hay quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) là một "yếu tố cơ sở hạ

tầng" cung cấp các giải pháp kinh doanh, giúp cho doanh nghiệp thực hiện các hoạt

động một cách hiệu quả hơn (Klaus và cộng sự, 2000).

Khái niệm về quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) phổ biến và được trích

dẫn nhiều đó là: quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) là một gói phần mềm kinh

doanh cho phép doanh nghiệp tự động hóa và tích hợp phần lớn các quy trình kinh

doanh, chia sẻ dữ liệu chung và vận hành trong toàn tổ chức (Hoch và Dulebohn,

2012). Quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) còn được gọi là hệ thống quản trị

tích hợp và được định nghĩa là bộ các mô đun phần mềm tích hợp và một cơ sở dữ

liệu tập trung cho phép chia sẻ dữ liệu cho nhiều tiến trình kinh doanh khác nhau

trong tổ chức nghiệp (Trần Thị Song Minh, 2012).

Trong luận án này, Nghiên cứu sinh tiếp cận quản trị nguồn lực doanh nghiệp

(ERP) trên góc độ quản lý hệ thống phần mềm quản trị nguồn lực doanh nghiệp

ERP. Ứng dụng quản trị ứng dụng quản trị nguồn lực doanh nghiệp là những hoạt

động bao gồm lập kế hoạch, triển khai vận hành, quản lý và phát triển hệ thống

phần mềm ERP. Như vậy, ứng dụng quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) không

đơn thuần là mua phần mềm, cài đặt và vận hành trên mạng máy tính, mà còn bao

gồm hoạt động chuẩn hóa quy trình kinh doanh, thống nhất và tích hợp dữ liệu, và

tăng cường hợp tác giữa con người và máy móc.

1.1.2. Các mơ hình quản trị nguồn lực doanh nghiệp

Dựa vào cơng cụ sử dụng trong quản trị nguồn lực doanh nghiệp, Nghiên cứu

sinh phân chia các mơ hình quản trị nguồn lực doanh nghiệp thành 3 mức độ như

sau:

- Quản trị nguồn lực doanh nghiệp trên giấy tờ (paper-based management):

doanh nghiệp sử dụng giấy tờ, hóa đơn, sổ sách để quản trị các nguồn lực. Các dữ

liệu của doanh nghiệp được ghi chép thủ cơng, rời rạc, khơng có hệ thống, khó kiểm

sốt, khó truy cập, dễ bị sai sót trong quá trình lưu trữ, thời gian làm báo cáo rất lâu.

Nhà quản trị mất nhiều thời gian để truy xuất thơng tin và ra quyết định quản trị.

Mơ hình này được áp dụng trong các doanh nghiệp quản lý theo phương thức truyền



35

thống, chưa ứng dụng công nghệ thông tin và thương mại điện tử. Quy mô doanh

nghiệp nhỏ hoặc siêu nhỏ, chưa có nhiều giao dịch phát sinh. Tuy nhiên, khi doanh

nghiệp có nhiều giao dịch, quy mơ doanh nghiệp lớn hơn, đòi hỏi thơng tin về các

nguồn lực cần được cập nhật đầy đủ, nhanh chóng thì mơ hình quản trị này khơng

đáp ứng được.

- Quản trị nguồn lực doanh nghiệp trên máy tính (computer-based

management): doanh nghiệp sử dụng phần mềm excel hoặc các phần mềm đơn lẻ để

quản trị các nguồn lực. Các dữ liệu của doanh nghiệp được nhập vào máy tính, tuy

nhiên q trình nhập liệu có thể diễn ra nhiều lần ở các bộ phận riêng lẻ, khơng có

sự chia sẻ, kết nối dữ liệu, khiến cho sai sót vẫn có thể xảy ra. Nhà quản trị gặp khó

khăn trong việc tổng hợp thơng tin, lập báo cáo, lập kế hoạch và ra quyết định. Mơ

hình này tồn tại trong các doanh nghiệp mới ứng dụng công nghệ thông tin và

thương mại điện tử ở giai đoạn 1 và giai đoạn 2 - thương mại điện tử thông tin và

thương mại điện tử giao dịch (Nguyễn Văn Hồng và Nguyễn Văn Thoan, 2013).

Các phần mềm được ứng dụng vào doanh nghiệp mang tính chất đơn lẻ, phục vụ

cho 1 hoạt động quản lý của doanh nghiệp như phần mềm kế toán, phần mềm quản

lý kho hàng, phần mềm quản lý bán hàng.

- Quản trị nguồn lực doanh nghiệp sử dụng phần mềm ERP: đây là mơ hình

quản lý dựa trên phân tích hệ thống tổng thể, cho phép người điều hành quản lý và

sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp một cách hiệu quả nhất, giúp nhà quản lý có

thể dự đốn và cân bằng cung cầu (Wallace và Kremzar, 2013). Mơ hình này được

áp dụng tại các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông tin và thương mại điện tử

ở giai đoạn 3 - thương mại điện tử cộng tác (Nguyễn Văn Hồng và Nguyễn Văn

Thoan, 2013). Doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thơng tin ở cấp cao, trên tồn bộ

các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tích hợp những chức năng chung của

một doanh nghiệp vào trong một hệ thống chung. Có nghĩa là thay vì sử dụng các

phần mềm riêng lẻ như: phần mềm kế toán, phần mềm nhân sự - tiền lương, quản trị

sản xuất, quản trị bán hàng, quản trị kho hàng riêng lẻ, độc lập thì hệ thống phần

mềm quản trị nguồn lực doanh nghiệp ERP gộp tất cả vào chung 1 gói phần mềm

duy nhất mà các phân hệ đó liên kết chặt chẽ với nhau.



36

Nghiên cứu của Wallace và Kremzar (2013) cũng chỉ ra quản trị nguồn lực

doanh nghiệp (ERP) cung cấp các các công cụ dự báo, lập kế hoạch và lập kế hoạch

cho tồn doanh nghiệp, bao gồm:

• liên kết khách hàng và nhà cung cấp vào một chuỗi cung ứng hồn chỉnh,

• sử dụng các quy trình để ra quyết định

• điều phối bán hàng, marketing, vận hành, logistics, mua sắm, tài chính, phát

triển sản phẩm và nguồn nhân lực.

Mơ hình ERP được minh họa trong hình sau:



Hình 1.1: Mơ hình quản trị nguồn lực doanh nghiệp

Nguồn: Nghiên cứu sinh tổng hợp từ Wallace và Kremzar, 2013



37

Khi doanh nghiệp ứng dụng ERP, luồng thông tin và các hoạt động quản lý sẽ

được truyền tải theo “chiều ngang” cùng với dòng chảy của hàng hóa, được mơ tả

trong sơ đồ sau:



Nguồn: Ellen, 2013

Hình 1.2: Mơ hình luồng thơng tin trong quản trị nguồn lực doanh nghiệp

Tóm lại, trong luận án này, Nghiên cứu sinh sử dụng thuật ngữ quản trị nguồn

lực doanh nghiệp (ERP) nhằm để chỉ mơ hình quản trị nguồn lực doanh nghiệp sử

dụng phần mềm ERP, trong đó, quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) có đặc

điểm:



38

- Tính tích hợp: tồn bộ quy trình nghiệp vụ của doanh nghiệp được tích hợp

giữa các bộ phận, đơn vị kinh doanh trong doanh nghiệp (Al-Mashari, 2202).

- Hoạt động theo thời gian thực trên một cơ sở dữ liệu chung: mọi dữ liệu về

các giao dịch trên front-end và nghiệp vụ trong back-end được ghi lại và có thể truy

xuất, lập báo cáo theo thời gian thực trên một cơ sở dữ liệu chung, theo các tiêu

chuẩn dữ liệu đã được quy định (Chorafas, 2001).

Các phần mềm ERP rất đa dạng, với quy mô, phạm vi ứng dụng, và các chức

năng khác nhau. Tuy nhiên, các phân hệ cốt lõi của hệ thống quản trị nguồn lực

doanh nghiệp ERP gồm các chức năng kinh doanh cốt lõi tích hợp các quy trình

hoạt động trong tồn tổ chức như: Quản trị tài chính, Quản trị sản xuất, Quản trị

kho, Quản trị bán hàng, Quản trị mua hàng, Quản trị nhân sự và tiền lương, Quản trị

Marketing, Quản trị hệ thống và lập báo cáo (Wallace và Kremzar, 2001;

Marnewick và Labuschagne, 2005), minh họa các chức năng của ERP:



Quản

Quản trị

trị tài

tài chính

chính

QT

QT hệ

hệ thống

thống và

và báo

báo



Quản

Quản trị

trị sản

sản xuất

xuất



cáo

cáo



ERP



Quản

Quản trị

trị marketing

marketing



QT

QT nhân

nhân sự

sự và

và tiền

tiền



Quản

Quản trị

trị kho

kho hàng

hàng



Quản

Quản trị

trị bán

bán hàng

hàng



lương

lương

Quản

Quản trị

trị mua

mua hàng

hàng



Hình 1.3: Minh hoạ các mô đun chức năng của phần mềm ERP

Phần mềm ERP giúp lưu trữ, chia sẻ và tích hợp các quy trình kinh doanh

trong sản xuất và sản xuất, tài chính và kế tốn, bán hàng và tiếp thị, và nguồn nhân

lực thành một hệ thống phần mềm duy nhất. Thông tin của doanh nghiệp, thông tin

mà trước đây đã bị phân mảnh trong nhiều hệ thống khác nhau được lưu trữ trong



39

một kho dữ liệu toàn diện, nơi nó có thể được sử dụng bởi nhiều bộ phận khác nhau

của doanh nghiệp. Ví dụ: khi khách hàng đặt hàng, luồng dữ liệu đơn đặt hàng tự

động đến các bộ phận có liên quan: các giao dịch đặt hàng kích hoạt nhà kho để

chọn các sản phẩm đặt hàng và lịch trình giao hàng; Nhà kho thơng báo cho nhà

máy để bổ sung bất cứ sản phẩm/nguyên vật liệu đã hết; Bộ phận kế tốn được

thơng báo để gửi khách hàng một hóa đơn; Đại diện dịch vụ khách hàng theo dõi

tiến độ của đặt hàng qua từng bước để thông báo cho khách hàng về trạng thái đơn

đặt hàng; Người quản lý có thể sử dụng thơng tin tồn diện để làm cho chính xác

hơn và quyết định kịp thời về hoạt động hàng ngày và lập kế hoạch dài hạn (Laudon

& Laudon, 2018).

1.1.3. Lịch sử phát triển của quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP)

Quản trị nguồn lực doanh nghiệp - ERP (Enterprise resource planning) là thuật

ngữ được xuất hiện lần đầu tiên năm 1990 khi tập đoàn Gartner Group of Stamford,

Hoa Kỳ dùng để mở rộng cho hệ thống Hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu - MRP

(Material Requirements Planning) bắt nguồn từ năm 1960 (Wallace và Kremzar,

2001).

Cho tới những năm 1980, hệ thống MRP được phát triển rộng hơn với mục

đích quản lý các hoạt động trong quy trình sản xuất trở thành hệ thống MRP II

(Manufacturing Resource Planning - Hoạch định nguồn lực sản xuất) (Wallace và

Kremzar, 2001). Đến năm 1990, các hệ thống thông tin này đã được phát triển hơn

với các chức năng nghiệp vụ như kế toán và quản trị nguồn nhân lực, lập ra giai

đoạn mới cho sự phát triển ERP được biết đến phổ biến hiện nay (Al-Mashari,

2002). Từ những năm 1990 cho đến nay, việc ứng dụng hệ thống quản trị nguồn lực

doanh nghiệp ERP đã tăng nhanh chóng, khi nhiều tổ chức dựa vào ERP để hợp lý

hóa quy trình kinh doanh và cải thiện khả năng tích hợp và chia sẻ dữ liệu. Đồng

thời, chi phí triển khai hệ thống ERP bắt đầu tăng lên, không chỉ là đầu tư phần

cứng và phần mềm đắt tiền, các hệ thống ERP doanh nghiệp thường đòi hỏi chi phí

bổ sung cho mã hóa, tư vấn và đào tạo tùy chỉnh.

Ngày nay, hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp ERP đã được mở rộng

nhằm bao trùm các hoạt động liên quan tới trí tuệ doanh nghiệp (BI - Business



40

intelligence) bên cạnh đó hệ thống ERP cũng xử lý các chức năng giao dịch như tự

động hoá đội ngũ bán hàng (SFA - Sales Forces Automation), tự động hóa

marketing và thương mại điện tử (Monk và Wagner, 2013).

1.1.4. Phân loại phần mềm quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP)

Có một số cách phân loại các phần mềm quản trị nguồn lực doanh nghiệp

(ERP) như sau:

(i) Phân loại theo nhà cung cấp bao gồm: phần mềm ERP của nhà cung cấp

nước ngoài (SAP, Oracle, Microsoft...), phần mềm ERP của nhà cung cấp trong

nước (FPT IS, Misa, Bravo...)

(ii) Phân loại theo phương thức cài đặt: các nhà cung cấp ERP đưa ra 3 sự lựa

chọn cho khách hàng với 3 loại phần mềm ERP bao gồm Phần mềm ERP cài đặt tại

doanh nghiệp (On-premise ERP), Phần mềm ERP đươc cung cấp như một dịch vụ

(SaaS ERP), Phần mềm ERP đám mây (Cloud ERP). Cụ thể:

On-premise ERP: là phần mềm ERP được triển khai trong nội bộ doanh

nghiệp, được mua về và cài đặt trong các máy tính và máy chủ tại doanh nghiệp, và

được quản lý bởi đội ngũ CNTT của doanh nghiệp. Tuy on-premises ERP là một

loại phần mềm ERP được triển khai theo kiểu cũ và dần không được ưa chuộng vì

chi phí đầu tư ban đầu lớn, nhiều công ty vẫn lựa chọn nền tảng này bởi tính ‘kiểm

sốt’ của nó. Doanh nghiệp có thể kiểm sốt được việc các thiết bị được khấu hao,

nâng cấp, và thay thế khi nào và như thế nào. Doanh nghiệp sở hữu phần mềm ERP,

hay chính xác hơn là quyền sử dụng phần mềm, vĩnh viễn. Tuy vậy, nền tảng này

không hẳn giúp công việc kinh doanh nhẹ nhàng hơn. Doanh nghiệp sẽ phải chịu

trách nhiệm cập nhật, nâng cấp, bảo mật, kế hoạch phòng ngừa rủi ro, những việc sẽ

khiến doanh nghiệp sớm bị quá tải, dẫn đến việc phải thuê chuyên gia quản lý hệ

thống và tăng thêm chi phí vận hành và nâng cấp hệ thống ERP.

SaaS ERP: là phần mềm ERP được cung cấp như một dịch vụ. SaaS là một

giải pháp phần mềm ứng dụng cơng nghệ điện tốn đám mây, cho phép dữ liệu

được truy cập từ bất kỳ thiết bị có kết nối Internet qua trình duyệt web. Trong mơ

hình phần mềm trên nền web này, nhà cung cấp SaaS sẽ đảm trách lưu trữ và sao

lưu cơ sở dữ liệu, phát triển ứng dụng phần mềm và duy trì hệ thống máy chủ. Đây

là sự chuyển hướng mang tính cách mạng từ mơ hình truyền thống là phần mềm lưu



41

trữ dữ liệu tại chỗ (on-premise, local PC installed). Với mơ hình SaaS, các cơng ty

ứng dụng SaaS thay vì phải đầu tư tốn kém vào các thiết bị phần cứng để lưu trữ

phần mềm, họ sẽ đi thuê ngoài toàn bộ hạ tầng và dịch vụ CNTT. Nhà cung cấp

dịch vụ phần mềm SaaS sẽ đảm trách mọi vấn đề liên quan đó.

Ngồi việc cho phép truy cập các ứng dụng và dữ liệu phần mềm từ xa thơng

qua trình duyệt web, SaaS cũng khác với các phần mềm phiên bản cài đặt (phần

mềm điện tốn lưới) ở chính sách giá cả. Phần mềm cài đặt là mơ hình bán đứt đoạn

bản quyền phần mềm, điều này có nghĩa là người mua sẽ sở hữu bản quyền phần

mềm từ nhà cung cấp. Hàng năm người mua phải trả thêm phí bảo trì và hỗ trợ

(chiếm 15%-20% phí bản quyền). Ngược lại, với mơ hình phần mềm dịch vụ

(SaaS), người dùng sẽ trả các khoản thuê bao theo tháng hoặc theo năm. Nói cách

khác, các khoản phí bản quyền, triển khai và duy trì hỗ trợ sẽ được thanh tốn trải

rộng ra theo thời gian.

Cloud ERP: là phần mềm ERP đám mây mở rộng cho phép tất cả các phòng

ban được quản lý với khả năng hiển thị và cộng tác được cải thiện. Nó cũng cung

cấp quyền truy cập liền mạch vào các tính năng báo cáo nâng cao. Điều khác biệt

giữa ERP đám mây và ERP truyền thống (on-premises ERP) là dữ liệu của doanh

nghiệp sẽ lưu trữ trên đám mây, điều này ban đầu dễ gây cảm giác không an toàn

cho các doanh nghiệp. Trải qua một khoảng thời gian thực tế đã triển khai trên tồn

thế giới thì ERP đám mây có mức độ bảo mật khơng hề thua kém so với hệ thống

ERP cài đặt tại chỗ. Từ trước tới nay, chưa phát hiện được lỗ hổng bảo mật nào của

nhà cung cấp ERP lớn. Tính bảo mật của điện tốn đám mây có thể hiện ở khả năng

phục hồi và dự phòng. Một khi dữ liệu của doanh nghiệp được đưa lên đám mây,

chungs sẽ được sao lưu (back up) thường xuyên và được lưu trữ tại nhiều nơi. Gần

như đại đa số các hệ thống ERP cài đặt tại chỗ khơng có được điều này.

1.1.5. Các phương pháp triển khai dự án ERP

Để triển khai dự án ERP nói riêng và dự án cơng nghệ thơng tin trong doanh

nghiệp nói chung, nhà quản lý có thể lựa chọn một trong các phương pháp sau:

(1) Doanh nghiệp mua hoặc thuê trọn gói hệ thống ERP: Doanh nghiệp có thể

sử dụng phương pháp này khi nguồn kinh phí dành cho hệ thống bị hạn chế. Tuy

nhiên, do không tự thiết kế ra hệ thống nên trong quá trình vận hành doanh nghiệp



42

dễ rơi vào trạng thái bị động do không hiểu hết về hệ thống. Nhược điểm nữa là

doanh nghiệp mất đi sự tự chủ, mất khả năng kiểm sốt; bất ổn về an tồn thơng tin,

thơng tin của doanh nghiệp rất dễ bị rò rỉ ra ngồi; doanh nghiệp phải phụ thuộc vào

công ty cung cấp dịch vụ bên ngồi trong q trình vận hành và bảo trì hệ thống

(Nguyễn Văn Hồng và cộng sự, 2013).

(2) Doanh nghiệp sử dụng nguồn nội lực hoặc thuê nhà cung cấp dịch vụ để

xây dựng hệ thống ERP: doanh nghiệp lựa chọn phương án này khi muốn xây dựng

hệ thống thông tin riêng, tùy biến cho doanh nghiệp. Phương pháp này đòi hỏi tài

ngun bao gồm cả con người, cơng nghệ, và vốn đủ mạnh để có thể thực hiện được

dự án ERP (Nguyễn Văn Hồng và cộng sự, 2013).

Việc doanh nghiệp lựa chọn phương pháp triển khai ERP nào cần được quyết

định dựa trên những đánh giá về điều kiện và nguồn lực sẵn có, cũng như chiến

lược ứng dụng công nghệ thông tin và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.

1.1.6. Quy trình ứng dụng quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) trong doanh

nghiệp

Hệ thống quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) hay hệ thống thông tin quản

trị về cơ bản sẽ thay đổi toàn bộ hệ thống thông tin trong doanh nghiệp và tác động

đến các khối nguồn lực của doanh nghiệp: quy trình, chiến lược kinh doanh, con

người, và cơng nghệ. Trong đó, ứng dụng quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) là

một quá trình diễn ra liên tục, từ Lập kế hoạch, Triển khai vận hành, Quản lý và

phát triển hệ thống.



43



Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Brown (2014) và Laudon & Laudon (2018)

Hình 1.4: Quy trình triển khai dự án ERP

(1) Giai đoạn 1: Lập kế hoạch (Definition Phase):

Trong bước đầu tiên này cần xác định cụ thể hệ thống thông tin cần xây dựng.

Ba nội dung cần đề cập đến là phạm vi của hệ thống, lợi ích kinh tế mà hệ thống sẽ

mang lại và kế hoạch vận hành. Kết quả của bước này là bản Mô tả hệ thống thông

tin cụ thể bao gồm mô tả các yếu tố đầu vào và đầu ra của hệ thống, và các quy

trình được sử dụng để chuyển hóa các dữ liệu đầu vào thành các những kết quả theo

yêu cầu. Đối với doanh nghiệp lựa chọn phương pháp thuê hoặc mua ngoài phần

mềm ERP thì sẽ có các cơng việc liên quan đến lựa chọn giải pháp, nhà cung cấp,

đàm phán và ký hợp đồng (Brown, 2014).

(2) Giai đoạn 2: Triển khai vận hành (Construction and Implementation

Phase)

Trong phương pháp doanh nghiệp tự xây dựng hoặc th ngồi để xây dựng

hệ thống thì giai đoạn này bao gồm 3 bước: thiết kế hệ thống, xây dựng hệ thống và

kiểm định hệ thống. Khi doanh nghiệp tiến hành mua gói hệ thống thì việc thực hiện



44

2 bước đầu hay khơng phụ thuộc vào gói hệ thống được mua có cần chỉnh sửa hay

khơng (Brown, 2014). Trong giai đoạn vận hành, thông thường đội dự án sẽ giải tán

và trách nhiệm đối với hệ thống thông tin sẽ được chuyển giao cho đội ngũ vận

hành máy tính và hỗ trợ kỹ thuật.

(3) Giai đoạn 3: Quản lý và phát triển hệ thống (Production and maintenance

Phase)

Do môi trường kinh doanh và công nghệ thay đổi rất nhanh nên bộ phận vận

hành hệ thống cần lên kế hoạch định kỳ nâng cấp hệ thống. Chi phí dành cho cơng

tác duy trì hệ thống thường chiếm khoảng 70% tổng chi phí cho tồn bộ chi phí phát

triển hệ thống (Brown, 2014).

Vận hành và bảo trì, nâng cấp và phát triển hệ thống: doanh nghiệp cần có

những đánh giá sau triển khai ứng dụng để có những cải tiến liên tục cho phù hợp

với sự thay đổi của thị trường và đổi mới công nghệ (Laudon & Laudon, 2018). Các

nội dung đánh giá bao gồm: Hiệu quả của ERP; Mức độ đạt được của mục tiêu đề

ra; Các cơ hội và các vấn đề nảy sinh; Khoảng cách giữa hiện trạng và mục tiêu

mong muốn; Kế hoạch hành động tiếp theo để hoàn thiện nhằm đạt được mục tiêu.

Dựa vào kết quả đánh giá hệ thống ERP hiện tại, phân tích những u cầu của

doanh nghiệp, có tính tới sự thay đổi của công nghệ, doanh nghiệp tiến hành cải

tiến, nâng cấp, phát triển thậm chí thay thế tồn bộ hệ thống ERP bằng hệ thống mới

nhằm đạt được những mục tiêu đề ra.

1.2. Ứng dụng quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) trong các doanh nghiệp

bán lẻ

1.2.1. Khái niệm và phân loại doanh nghiệp bán lẻ

1.2.1.1. Khái niệm về bán lẻ và doanh nghiệp bán lẻ

Trên góc độ kinh tế: Bán lẻ là bán hàng hoá dịch vụ trực tiếp cho người tiêu

dùng cuối cùng làm thay đổi giá trị hàng hố từ hàng sang tiền nhằm mục đích thoả

mãn tối đa nhu cầu khách hàng và thực hiện hiệu quả trong q trình bán hàng

(Morgenstein M., 1987). Còn theo Micheal Levy bán lẻ là “một nhóm các hoạt động

kinh doanh làm gia tăng giá trị cho sản phẩm dịch vụ được bán cho người tiêu dùng

cuối cùng vì mục đích sử dụng cho cá nhân hoặc gia đình” (Levy, 2003).



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: QUẢN TRỊ NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC ỨNG DỤNG QUẢN TRỊ NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ TRONG BỐI CẢNH CẠNH TRANH VÀ ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×