Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Kế hoạch là cơ sở để thống nhất mọi hoạt động. Giáo viên phải hình dung được rõ ràng công việc sắp phải làm và hoàn toàn chủ động công việc trong nhóm, lớp, đồng thời đưa các hoạt động vào nề nếp.

Kế hoạch là cơ sở để thống nhất mọi hoạt động. Giáo viên phải hình dung được rõ ràng công việc sắp phải làm và hoàn toàn chủ động công việc trong nhóm, lớp, đồng thời đưa các hoạt động vào nề nếp.

Tải bản đầy đủ - 0trang

+ Trao đổi: diễn đạt, chia sẻ suy nghĩ và mong muốn. Giáo viên chỉ là người tạo cơ

hội, hướng dẫn, gợi mở giúp trẻ được chiếm lĩnh kiến thức.

Tôi cũng tự đặt ra câu hỏi vì sao phải giáo dục lấy trẻ làm trung tâm? Bởi vì:

- Trẻ em vừa là đối tượng của hoạt động

- Trẻ em vừa là chủ thể của hoạt động

- Khi trẻ được tham gia trải nghiệm, giao tiếp, chia sẻ => hoạt động giáo dục có hiệu

quả nhất

- Con người thích khám phá những điều mới lạ => nên dạy cái trẻ cần, điều mà trẻ

thích. Vì vậy xây dựng kế hoạch phải hướng vào trẻ, lấy trẻ làm trung tâm.

Giáo dục lấy trẻ làm trung tâm được xem như một quan điểm dạy học chi phối cả

mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và cả quan điểm dạy học. Do vậy, để

xây dựng được kế hoạch giáo dục lấy trẻ làm trung tâm một cách hiệu quả, tôi đã quan

tâm và thực hiện các việc làm sau:

* Xác định mục tiêu:

- Xây dựng kế hoạch lấy trẻ làm trung tâm được thể hiện ngay từ việc xác định mục

tiêu và cách viết mục tiêu. Vì vậy khi xác định mục tiêu trong kế hoạch bản thân tôi đã

căn cứ vào những yếu tố sau:

+ Khả năng tiếp thu kiến thức, nhu cầu học tập khám phá, sở thích của từng trẻ trong

lớp tơi phụ trách, để có được những kết quả trên tôi đã lựa chọn từ việc theo dõi, quan

sát trẻ hàng ngày, hằng tuần, hằng tháng…

+ Nội dung giáo dục cho từng độ tuổi (trong chương trình giáo dục mầm non) Ngoài

ra, tôi căn cứ vào khả năng, hứng thú của trẻ,; điều kiện nhóm lớp; nhu cầu, mong muốn

của cha mẹ trẻ muốn trẻ có những kiến thức, kỹ năng nào để phù hợp với điều kiện sống

của trẻ trong cộng đồng để xác định mục tiêu phù hợp khả năng, kinh nghiệm sống của

trẻ, đáp ứng được u cầu của chương trình, phù hợp vói vùng miền, với trường lớp của

tôi.

- Việc lựa chọn mục tiêu tôi luôn hướng vào trẻ, nghĩa là trẻ sẽ làm được gì? sẽ như

thế nào? sau một năm học (kế hoạch năm), sau 1 tháng (kế hoạch tháng) và sau một tuần,

ngày (kế hoạch giáo dục tuần, ngày). Do đó mục tiêu giáo dục nhất là mục tiêu cho một

bài (một nội dung) giáo viên đặt ra cần cụ thể, đo được, đạt được, thực tế và có giới hạn

về thời gian để có thể dễ dàng xác định trong một khoảng thời gian nhất định mục tiêu đã

đạt được chưa. Để làm được điều đó, người giáo viên phải biết suy nghỉ, tìm tòi và nhận

11



rõ tính cách của từng trẻ trong lớp để đưa ra những mục tiêu từng lĩnh vực giảng dạy phải

phù hợp với đặc điểm của trẻ và phù hợp với lớp mình phụ trách.

* Lựa chọn nội dung giáo dục:

- Khi mục tiêu giáo dục đã được xác định tôi dựa vào mục tiêu để cụ thể hóa nội

dung của từng lĩnh vực cho từng độ tuổi quy định trong chương trình vì nội dung giáo

dục trong chương trình là những vấn đề cốt lõi, cơ bản. Ví dụ nội dung trong lĩnh vực

phát triển nhận thức - phần khám phá khoa học: đặc điểm, công dụng và cách sử dụng đồ

dùng, đồ chơi; so sánh sự khác nhau, giống nhau của 2,3 đồ dùng, đồ chơi; đặc điểm

công dụng một số phương tiện giao thông ... dựa vào mục tiêu giáo viên cụ thể nội dung:

đặc điểm, công dụng và cách sử dụng đồ dùng hay đồ chơi nào? So sánh sự khác nhau và

giống nhau thì phải xác định so sánh đồ dùng/đồ chơi nào với nhau? Đặc điểm, công

dụng của phương tiện giao thông nào? xe máy hay ô tô.

- Những nội dung giáo dục trong kế hoạch là những nội dung cụ thể, trẻ muốn biết,

gẫn gũi với trẻ, phù hợp với vùng, miền.

- Mục tiêu và nội dung liên quan với nhau do đó có mục tiêu thì phải có nội dung.

Một mục tiêu có thể có 2-3 nội dung.

* Lựa chọn hoạt động giáo dục.

- Theo Chương trình giáo dục mầm non, hoạt động giáo dục gồm: Hoạt động chơi,

hoạt động học, hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân, hoạt động lao động.

- Tổ chức các hoạt động giáo dục lấy trẻ làm trung tâm thì :

+ Người giáo viên là người hướng dẫn, khuyến kích, gợi mở, hỗ trợ và tạo cơ hội

nhiều nhất cho trẻ được hoạt động, được trao đổi chia sẻ trình bày ý kiến của mình. Đồng

thời giáo viên phải quan sát để đáp ứng nhu cầu ham hiểu biết, tìm tòi, khám phá qua

những câu hỏi thắc mắc của trẻ.

+ Trẻ ln tích cực, chủ động tham gia các hoạt động, thích làm việc theo cặp, theo

nhóm.

+ Phương pháp, đồ dùng sử dụng, hình thức tổ chức phù hợp, đúng lúc, đúng chỗ để

kích thích sự tìm tòi, phám phá của trẻ. Chú trọng cho trẻ được trải nghiệm, giao tiếp và

trình báy ý kiến.

Giáo viên nên chú trọng, quan tâm đến hệ thống câu hỏi dành cho trẻ trong mọi hoạt

động.

12



Có hai dạng câu hỏi chính: Câu hỏi đóng và câu hỏi mở:

+ Loại câu hỏi đóng: câu trả lời là có hoặc khơng hoặc chỉ có một câu trả lời đúng

duy nhất. Chức năng của loại câu hỏi này thường dùng để đánh giá ở mức độ ghi nhớ

thơng tin, đòi hỏi tư duy rất ít. Loại câu hỏi này thường dùng trong phần kết luận hoặc

giới thiệu bài để kiểm tra xem trẻ đã hiểu nhiệm vụ và hướng dẫn cần làm trong phần

phát triển bài

+ Câu hỏi mở là loại câu hỏi có nhiều đáp án cho trả lời. Câu hỏi này đòi hỏi tư duy

nhiều thường dùng trong phần giới thiệu và phát triển bài

Câu hỏi tốt tạo ra một thách thức về trí tuệ, tìm kiếm hiểu biết và tạo hứng thú cho

trẻ.

Để có được câu hỏi tốt bản thân tôi đã làm như sau: Chú ý đến mục đích của câu

hỏi: hỏi để làm gì? Để hướng dẫn, gợi mở hay để kiểm tra, đánh giá mức độ hiểu, hỏi cái

gì? Câu hỏi phải phù hợp với trình độ, khả năng để trẻ có thể trả lời được và cố gắng để

trả lời. Câu hỏi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Phân bổ câu hỏi cho tất cả các đối

tượng trẻ: trẻ nhút nhát đến trẻ tích cực.

- Đặt ít câu hỏi hơn, nhưng câu hỏi phải khiến trẻ suy nghĩ, không hỏi tràn lan.

- Dành thời gian để trẻ suy nghĩ trả lời.

- Không nên vội đánh giá, hãy động viên, khuyến khích để nhận được câu trả lời tốt

hơn từ trẻ.

- Khuyến khích trẻ đặt câu hỏi.

- Trân trọng câu hỏi và câu trả lời của trẻ.

Ví dụ 1 số câu hỏi mở kích thích trẻ suy nghĩ:

* Con nghĩ thể nào?

* Làm sao con biết?

* Tại sao con lại nghĩ như vậy?

* Nếu.. thì sao? Nếu khơng… thì sao?

* Theo con thì điều gì/cái gì sẽ xảy ra tiếp theo?



13



Nói tóm lại khi xây dựng kế hoạch lấy trẻ làm trung tâm là việc tôi đặt ra các câu hỏi

và tìm lời giải đáp để có một kế hoạch hoàn chỉnh phù hợp với trẻ.

1. Hiện tại trình độ của trẻ như thế nào? Khảo sát, tìm hiểu trẻ.

2. Trẻ cần học gì tiếp theo? Chọn mục tiêu.

3. Trẻ cần làm gì để đạt những mục tiêu, yêu cầu này? Dự kiến các công việc / hoạt

động cụ thể của trẻ cho trẻ trải nghiệm nhằm vào các mục tiêu đã đặt ra.

4. Những học liệu nào được dùng để thực hiện kế hoạch này ? Chọn học liệu, chuẩn

bị đồ dùng, đồ chơi cho trẻ và cơ.

- Trước khi xây dựng kế hoạch tơi tìm hiểu, nghiên cứu kỹ các tài liệu có liên quan

đến chuyên đề lấy trẻ làm trung tâm. Kế hoạch phải thể hiện mục tiêu giáo dục, phạm vi

và mức độ, áp dụng nội dung giáo dục trẻ, các phương pháp, các hình thức tổ chức hoạt

động giáo dục phù hợp với trẻ.

- Để xây dựng được kế hoạch chuyên đề tôi phải dựa vào đặc điểm tâm sinh lý của

trẻ và tình hình thực tế ở lớp, ở trường. Khi xây dựng kế hoạch không nhấn mạnh vào

việc cung cấp cho trẻ những kiến thức, kỹ năng đơn lẻ mà theo hướng tích hợp, coi trọng

việc hình thành và phát triển các năng lực, kỹ năng sống cho trẻ.

Khi xây dựng kế hoạch giáo dục lấy trẻ làm trung tâm cần đảm bảo các nguyên

tắc:

+ Mỗi trẻ đều được hỗ trợ để phát triển tất cả các lĩnh vực: Thể chất, vận động, tình

cảm và quan hệ xã hội, ngơn ngữ và giao tiếp, nhân thức, thẫm mỹ;

+ Học thông qua chơi và bằng nhiều cách khác nhau;

+ Hoạt động tích cực bằng nhiều hoạt động khác nhau như bắt chước, tìm tòi, khám

phá, trải nghiệm, thực hành, sáng tạo, hợp tác, chia sẻ ý tưởng, giải quyết vấn đề,…;

- Tổ chức hoạt động luôn đặt trẻ vào trung tâm của quá trình giáo dục, có nghĩa là

tạo mọi cơ hội cho trẻ được tham gia vào các hoạt động:

+ Trải nghiệm: Trẻ được học qua thực tế, qua việc làm, qua khám phá tìm tòi

+ Giao tiếp: Chia sẻ với bạn và học từ mọi người



14



+ Suy ngẫm: Suy nghĩ và vận dụng những điều đã lĩnh hội được vào việc giải quyết

các tình huống.

+ Trao đổi: Diễn đạt và chia sẻ suy nghĩ và mong muốn

- Giáo viên chỉ là người tạo cơ hội, hướng dẫn, gợi mở giúp trẻ được chiếm lĩnh

kiến, khi xây dựng kế hoạch giáo viên cần:

+ Dựa trên nhu cầu, hứng thú, khả năng và thế mạnh của từng trẻ. Xây dựng kế

hoạch giáo dục phù hợp với trẻ của lớp mình

+ Tin tưởng rằng mỗi trẻ đều có thể thành cơng và tiến bộ;

+ Tạo cơ hội cho trẻ học bằng nhiều cách khác nhau gồm cả hoạt động vui chơi, vì

vui chơi cung cấp cho trẻ nhiều cơ hội để học tập như khám phá, sáng tạo, đóng vai,

tưởng tượng và tương tác với bạn bè;

+ Xây dựng kế hoạch giáo dục trên cơ sở những gì trẻ đã biết và có thể làm; kế

hoạch giáo dục phải phản ánh được mức độ phát triển của từng cá nhân trẻ;

+ Giáo viên nên có một loạt các kế hoạch hoạt động trong từng góc hoạt động như:

Góc xây dựng, góc sách truyện, góc đóng vai, góc tạo hình, góc chơi đồ chơi và xếp

hình…Chọn đồ dùng và trang thiết bị phù hợp nhất cho góc hoạt động và các hoạt động

mà giáo viên muốn thực hiện ở trong mỗi góc.

Biện pháp 3: Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm.

Là một giáo viên tôi luôn coi trọng vấn đề “phương pháp dạy học lấy trẻ làm trung

tâm ”. Đối với tôi để xây dựng được kế hoạch lấy trẻ làm trung tâm trước hết phải chú

trọng xây dựng môi trường học tập của trẻ, và lập kế hoạch giáo dục trẻ . Về Mơi trường

giáo dục thì có môi trường xã hội, môi trường trong lớp và môi trường ngoài lớp.

a. Môi trường xã hội

Môi trường xã hội chính là bầu khơng khí giao tiếp giữa cơ và trẻ, giữa trẻ với trẻ và

giữa trẻ với những người xung quanh. Mơi trường này vừa mang tính chất sư phạm vừa

mang tính chất gia đình.

Những điều giáo viên nên làm để tạo bầu khơng khí, mối quan hệ tình cảm thân thiết,

mơi trường giao tiếp hòa đồng, cởi mở với trẻ:

15



+ Nói năng nhẹ nhàng.

+ Tạo sự tin cậy, mong muốn chia sẻ: lắng nghe trẻ, gọi tên trẻ, khi nói chuyện thì ngồi

ngang tầm với trẻ và nhìn vào mắt trẻ

+ Đáp ứng những nhu cầu và câu hỏi của trẻ, biết an ủi trẻ và giúp trẻ giải quyết vấn đề 1

cách xây dựng. Tơn trọng tình cảm và ý kiến của trẻ: Khơng gò bó, áp đặt, định kiến với

trẻ

+ Chấp nhận sự khác biệt của trẻ. Đánh giá sự tiến bộ của trẻ so với bản thân

+ Kiên nhẫn với trẻ. Chờ đợi trẻ. Tránh thúc ép trẻ. Khuyến khích trẻ bộc lộ cảm xúc, ý

nghĩ và tự tin diễn đạt bằng lời nói.

+ Tìm hiểu những gì xảy ra chứ khơng chỉ ngăn cấm. Chỉ cấm đoán những việc có thể

gây nguy hại đến trẻ.

+ Đưa ra những lời khuyến khích, những gợi ý để giúp trẻ có thể tự tìm ra cách giải quyết

được vấn đề của bản thân

+ Tổ chức các hoạt động tập thể. Khuyến khích tinh thần cộng tác, trẻ cùng nhau hoạt

động và giúp đỡ lẫn nhau. Cho trẻ cơ hội tự phục vụ và giúp đỡ người khác tùy theo khả

năng. Gợi ý để trẻ mở rộng mối quan hệ qua lại

+ Động viên sự lạc quan, tự tin vào bản thân ” Chẳng có gì khó”, ” nhất định làm được”,

” Lần sau sẽ tốt hơn”...

+ Mọi cử chỉ, lời nói, việc làm của cơ giáo và người lớn phải luôn mẫu mực để trẻ noi

theo

+ Mối quan hệ giữa trẻ với trẻ là quan hệ bạn bè cùng học cùng chơi, đoàn kết, hợp tác,

chia sẻ, đồng cảm, học hỏi lẫn nhau. Giáo viên cần nhạy cảm để tận dụng các mối quan

hệ giữa trẻ với trẻ để giáo dục trẻ

+ Gọi trẻ bằng con. Chỉ có cấp học mầm non mới có tiếng gọi thân thiết như mẹ con

trong gia đình. Dù giáo viên có “già” hay “trẻ” cũng đều gọi các cháu bằng con

+ Có sự thống nhất giữa trường mầm non, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc chăm

sóc, giáo dục trẻ.



16



b. Mơi trường giáo dục trong lớp và ngồi lớp học: Cơ sở vật chất là một yếu tố quan

trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến phương pháp dạy học lấy trẻ làm trung tâm . Muốn thực

hiện được phương pháp dạy học lấy trẻ làm trung tâm trước hết cần xây dựng được môi

trường môi trường giáo dục trong lớp học và môi trường giáo dục ngoài lớp học.

+Về môi trường giáo dục trong lớp học: Giáo viên phải tạo môi trường học tập rộng

rãi, thoáng mát cho trẻ. Sắp xếp bàn ghế, tủ giá đồ dùng đồ chơi và các phương tiện cho

trẻ vui chơi, học tập, sinh hoạt, không làm hạn chế hoạt động của trẻ, không làm cho trẻ

có cảm giác gò bó, chật chội trong mọi hoạt động. việc săp xếp đồ dùng đồ chơi cần

phải đảm bảo an toàn cho trẻ, tránh trường hợp lớp học chật chội sắp xếp không khoa học

sẽ làm cho trẻ dễ vấp ngã. Ngoài việc sắp xếp đồ dùng đồ chơi cho trẻ giáo viên cần chú

ý trang trí lớp học phù hợp hấp dẫn trẻ , kích thích trẻ hăng hái tìm hiểu khám phá hơn.

Việc trang trí cần phải thay đổi theo tuần, theo chủ đề để thu hút sự chú ý của trẻ.

Ví dụ: chủ đề thực vật giáo viên có thể trang trí hình ảnh một số loại hoa, một số loại

cây…Hoặc chủ đề động vật cơ có thể trang trí hình ảnh các con vật ni, động vật sống

trong rừng, trang trí theo chủ đề nhánh. Việc trang trí như vậy khi nhìn vào trẻ sẽ biết

được chủ đề mình đang học, và cũng có thể kích thích trí tưởng tượng của trẻ.

Ở trong lớp, thường tạo các khu vực, các góc hoạt động như góc xây dựng, góc phân

vai, tạo hình, sách, khám phá, âm nhạc và vận động, Bé tập làm nội trợ, máy vi tính...

Góc hoạt động là nơi trẻ có thể tự chơi theo ý thích cá nhân, phù hợp chủ đề, theo từng

đơi hoặc nhóm nhỏ, nhóm lớn cùng sở thích. Ở đó, trẻ học cách tự quyết định, chia sẻ và

cộng tác với nhau. Trẻ được thực hành, tích lũy kinh nghiệm phong phú, mở rộng trí

tưởng tượng và có cơ hội để bộc lộ khả năng. Vị trí và đồ dùng cần trang bị cho các góc

chơi được gợi ý như sau:

+ Khu vực đóng vai

* Vị trí: Ở 1 góc phòng, khơng gian đủ để có thể chia thành 1 số khoảng nhỏ

* Trang bị đồ dùng đồ chơi: Tùy theo chủ đề cho trẻ sử dụng để tái hiện đặc trưng, thuộc

tính của một đối tượng nào đó trong cuộc sống.



17



+ Gia đình: đồ dùng ăn uống ( chén, đũa, muỗng, ly...), bộ đồ trang điểm ( gương, lược,

dây cột tóc...), bếp và đồ làm bếp ( nồi niêu xoong, chảo..) giường, gối, búp bê, thú nhồi

bông, điện thoại kiềm, búa, quần áo, giày dép, mũ, nón, thau, khăn, chai, lọ, hộp...

+ Bệnh viện: Quần áo bác sĩ, ống nghe, dụng cụ y tế, tủ thuốc, giấy bút, bàn ghế, giường

bệnh nhân

+ Cửa hàng bách hóa: Bàn bán hàng, giá trưng bày, đồ để đựng, đóng gói hàng hóa, các

loại thực phẩm và đồ chơi bằng nhựa, sách báo tạp chí, mũ bảo hiểm, giỏ, cân, thước đo,

bảng giá, tiền giấy...

+ Khu vực góc xây dựng, lắp ghép

* Vị trí: Ở nơi khơng cản trở lối đi lại, không gian đủ rộng cho trẻ xếp các hình khối

* Trang bị đồ dùng, đồ chơi: Giá, kệ mở, nhiều khối kích thước, hình, chất liệu khác

nhau, các đồ chơi hình người, con vật, thảm có, cây hoa, xe có bánh để đẩy, toa xe chở

hàng, xe cút kít, ơ tơ, xe đạp, bộ đồ chơi giao thơng, tranh xây dựng, bìa cát tơng kích cỡ

khác nhau, dải băng các loại, các bộ xếp hình, lắp ghép đa dạng về hình dáng, kích thước

và hướng dẫn lắp ráp, vật liệu để xâu xỏ ( khuy áo, hột hạt, ống chỉ, lõi cuộn giấy, cành

que), gắn nối, cột dây, đan, bện, thắt, xếp lồng vào nhau, xếp chồng lên nhau sỏi, đá cuội,

hộp đựng, hồ dán, bút màu.....

+ Khu vực góc tạo hình

* Vị trí: Ở vị trí cố định trong phòng, nơi có đủ ánh sáng chiếu vào

* Trang bị đồ dùng, đồ chơi, nguyên vật liệu:Bàn ghế, giá đựng, giá treo, giá

vẽ, rổ, khay, bảng, tranh ảnh nghệ thuật, họa báo, lịch, áp phích, quảng cáo, đồ mỹ nghệ,

dân gian, mẫu mơ hình, giấy các loại, bìa, hộp cát tơng, bút vẽ, sáp màu, đất nặn, kéo, vải

vụn, hộp đựng, phấn, thước, màu vẽ, hồ, đất nặn, áo choàng, nguyên vật liệu thiên

nhiên( que, hột hạt, sỏi đá, lá khơ, rơm rạ, vỏ sò, ốc, nắp chai...), phế liệu ( miếng xốp,

giấy gói hàng, giấy báo, giấy bìa, chai, lọ, hộp nhựa, hộp bánh, lon coca...)

+ Khu vực góc sách truyện, thư viện

* Vị trí: Nơi yên tĩnh, tránh lối đi lại, có ánh sáng tốt

* Trang bị đồ dùng, đồ chơi và nguyên vật liệu:

18



Bàn, ghế, giá sách, các loại tranh ảnh sách, truyện, họa báo, tạp chí, album, keo dán, tẩy,

bút, kéo, hồ, các con rối, các thẻ tên

+ Khu vực góc âm nhạc và vận đợng

* Vị trí: xa góc n tĩnh, đủ rộng để trẻ vận động

* Trang bị: Các dụng cụ âm nhạc, đầu video, đầu đĩa, máy cassette, đĩa CD, VCD,

DVD, đàn organ, tập bài hát, các trò chơi, điệu múa, trang phục biểu diễn ( quần áo,

khăn, mũ, nón, vòng, quạt hoa...), những con rối

+ Khu vực góc nợi trợ

* Vị trí: Có thể trong phạm vi khu vực góc đóng vai

* Trang bị: Bộ đồ dùng, đồ chơi cho hoạt động : “Bé tập làm nội trợ”, đồ dùng pha

nước uống, thau, hộp, ly, chậu,rổ rá...

+ Khu vực góc máy vi tính

* Vị trí: Có thể trong phạm vi khu vực góc sách, truyện, thư viện

* Trang bị: Bộ máy vi tính, bàn ghế, Đĩa CD, DVD, VCD, các phần mềm giáo dục

mầm non

+ Góc khám phá thiên nhiên, khoa học

* Vị trí: Hành lang hoặc ngoài sân

* Trang bị: Giá, kệ, khay, lọ đựng có nắp, các loại hoa, cây cảnh không độc hại, cây trồng

ngắn ngày, hộp đựng cát và bộ đồ chơi với cát, hột hạt, thau chứa nước và các đồ chơi để

thả vào nước, áo choàng, khăn lau, chổi xẻng, khuôn, tranh ảnh, que, sỏi đá, gỗ, hộp,

lưới, hồ cá...

Học liệu và các phương tiện trong góc hoạt đợng hợp lý:

+ Sắp đặt thuận tiện cho trẻ dễ thấy, dễ lấy, dễ cất

+ Mang tính mở, khơng cố định trẻ phải sử dụng theo cách nào cho đúng

+ Nguyên vật liệu tự nhiên và phế liệu

+ Phản ánh rõ sự khác biệt văn hóa (mang màu sắc vùng miền, địa phương)

+ Đảm bảo rằng trẻ có thể thể hiện các ý tưởng và khơng bị gò bó.

+ Mỗi góc chơi đều được xác định rõ ràng với giới hạn bởi lối đi giữa các góc.

19



Ngoài ra, các thiết bị phục vụ sinh hoạt khác trong phòng học cũng là yếu tố quan

trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ và tinh thần của trẻ, đó là hệ thống điện, nước

phục vụ sinh hoạt hàng ngày. Về hệ thống điện cũng là yếu tố để nhiều trường quan tâm,

như điện thắp sáng cần sử dụng số lượng bóng điện và sử dụng chủng loại bóng điện để

mùa đơng đủ ánh sáng và đảm bảo an toàn cho trẻ. Về mùa hè cần phải đảm bảo phồng

học thoáng nát cho trẻ. Hệ thống cấp thoát nước trong mỗi phòng học thuận tiện và an

toàn cũng là yếu quan trọng tạo cho cho trẻ có sức khoẻ tốt. Thiết kế, lắp đặt hệ thống

cấp thoát nước ln phải đảm bảo để phòng học khơng bị thấm nước trên tường phòng

học hoặc tường phòng vệ sinh, khơng đọng nước dưới nền trũng, không tạo nên mùi hôi

khai, ẩm mốc, khơng tạo sự rò rỉ đường ống, khơng phải dùng hệ thống hứng nước dự trữ

không an toàn ở nhóm lớp và phải ln đủ nước cho sinh hoạt của trẻ trong ngày...

c. Mơi trường giáo dục ngồi lớp học:

Mơi trường ngoài lớp học là yếu tố góp phần tích cực trong các hoạt động nâng cao

chất lượng chăm sóc giáo dục toàn diện trẻ. Nhiều trường mầm non đã tập trung xây

dựng môi trường giáo dục ngoài lớp học an toàn, đẹp, hấp dẫn trẻ. Hầu hết các nhà

trường đều quan tâm, mong muốn đạt được đó là diện tích đất trong nhà trường, diện tích

sân vườn và diện tích các khu vực bổ trợ cho hoạt động ngoài trời của trẻ. Có diện tích

đất đủ rộng nhà trường có thể bố trí các khu vực cho trẻ hoạt động vui chơi, sinh hoạt,

học tập ngoài trời một cách khoa học và phù hợp hơn. Những yêu cầu về môi trường

ngoài lớp học được cán bộ giáo viên nghiên cứu, tìm hiểu như bố trí diện tích sân tập thể

dục cho trẻ toàn trường và khu chơi thể thao (cột bóng rổ, thang leo...); khu vực chơi với

đồ chơi ngoài trời (cầu trượt, đu quay, đu bay, bập bênh, nhà bóng...); khu vực chơi “giao

thơng”; khu vực chơi với đất, cát, nước, đá, sỏi...; khu vực trẻ trồng rau, trồng cây và

chăm sóc cây cối, con vật ni; khu chơi với các nhân vật cổ tích, hay còn gọi là “ vườn

cổ tích”; khu “sân khấu ngoài trời”, nơi đặt giá vẽ; khu trồng cỏ, trồng hoa, trồng cây

cảnh, cây ăn quả, cây bóng mát trên sân trường; khu tạo cảnh đồng cỏ, đồi, núi, vòi

phun nước...; hệ thống đường đi lối lại trên sân; độ cao của hệ thống tường bao, độ rộng

của cổng và biển trường; khu đặt bảng tuyên truyền, hộp thư cha mẹ... Đặc biệt, với yếu

20



tố thời tiết khí hậu nắng nóng nhiều, sân chơi của trẻ rất cần có cây xanh bóng mát, hệ

thống mái tơn mái lá góp phần tạo bóng mát cho sân chơi của trẻ nhưng khơng thể thay

thế cho hệ thống cây bóng mát được, việc trồng các cây bóng mát vẫn phải được chú

trọng.

Vấn đề sử dụng cơ sở vật chất trong lớp học và sử dụng cơ sở vật chất ngoài lớp học ở

trường mầm non một cách có hiệu quả để trẻ mầm non ở trường được an toàn, thuận lợi,

phù hợp, đáp ứng yêu cầu giáo dục phát triển thể chất, nhận thức, tình cảm, thẩm mỹ cho

trẻ là nội dung giáo viên mầm non luôn phải nghiên cứu hàng ngày trong quá trình chăm

sóc giáo dục trẻ . Người giáo viên nhóm lớp phải luôn luôn sáng tạo trong việc tận dụng

môi trường, trang trí nó, làm đẹp nó, làm mới nó mỗi ngày để có sự đổi mới trong nội

dung cho trẻ khám phá. Ví dụ: Cũng là vườn cây cảnh, hôm nay giáo viên hướng dẫn trẻ

tưới nước cho cây với những dụng cụ vừa sức với trẻ, ngày mai giáo viên lại hướng dẫn

trẻ nhìn ngắm quan sát, phát hiện cây có gì mới so với hơm qua, khuyến khich trẻ trang

trí cho vườn cây đẹp hơn, mới lạ hơn với những đồ dùng do cô chuẩn bị và trẻ lựa chọn...

Như vậy, việc sử dụng môi trường xung quanh vào chăm sóc giáo dục trẻ gắn liền với kế

hoạch giáo dục của từng giáo viên nhóm lớp. Mức độ sử dụng sáng tạo đến đâu lại đòi

hỏi người lập kế hoạch phải nghiên cứu kỹ, người duyệt kế hoạch phải gợi ý rộng để có

sự đa dạng trong các hoạt động sử dụng môi trường trong và ngoài lớp học.

Xây dựng môi trường trong lớp học và ngoài lớp học ở trường mầm non là một

việc làm khó có thể nói là hoàn toàn hoàn thiện dù ở bất kỳ chi tiết nào, bởi nó đòi hỏi sự

thay đổi, sự mới mẻ mỗi ngày của môi trường để có thể tác động đến trẻ, thu hút trẻ, kích

thích sự hứng thú khám phá hoạt động của trẻ, dẫn đến sự tích cực trong nhận thức và tư

duy linh hoạt của trẻ.

Trẻ là trung tâm của mọi hoạt động giáo dục trẻ trong nhà trường, vì vậy mọi sự

bổ sung xây dựng môi trường cơ sở vật chất cho trẻ hoạt động đều phải đề cập tới sự vừa

sức, sự phù hợp với trẻ. Sân chơi của người lớn có thể có bậc, có gờ cạnh cao nhưng sân

chơi của trẻ phải nhẵn, khơng có gờ cạnh để khi chạy nhảy tránh cho trẻ không bị vấp

ngã; vv...

21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kế hoạch là cơ sở để thống nhất mọi hoạt động. Giáo viên phải hình dung được rõ ràng công việc sắp phải làm và hoàn toàn chủ động công việc trong nhóm, lớp, đồng thời đưa các hoạt động vào nề nếp.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×