Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3. Tai biến liên quan tới môi trường địa chất khu vực đầm phá Tam Giang - Cầu Hai

Bảng 3. Tai biến liên quan tới môi trường địa chất khu vực đầm phá Tam Giang - Cầu Hai

Tải bản đầy đủ - 0trang

sản



Kiểu MTĐC

đồng bằng ven

biển



- Không ổn định cửa đầm phá. Do kết hợp động lực san bằng bờ của

biển xẩy ra mạnh mẽ về mùa khô và động lực sông mạnh về mùa lũ,

cửa đầm phá không ổn định vị trí, hình thái và trạng thái tồn tại. Cửa

Tư Hiền có xu thế biến đổi chu kỳ ngắn với hiện tượng lấp, mở, thay

đổi vị trí giữa Vinh Hiền và Hải Bình. Cửa Thuận An có xu thế biến

động chu kỳ dài với hiện tượng dịch chuyển về phía tây bắc. Hậu quả

của không ổn định cửa rất nặng nề, gần đây nhất phải kể tới sự kiện lấp

cửa Tư Hiền vào tháng 12/1994, sự kiện mở cửa Tư Hiền, mở cửa Hòa

Dn lặp lại vị trí lịch sử đầu tiên năm 1404 và vào tháng11/1999

- Lũ và ngập lụt về mùa mưa

- Sinh hạn và xâm nhập mặn về mùa khô. Đây là hai dạng tai biến phổ

biến theo mùa, gây hậu quả kinh tế - xã hội nặng nề, đặc biệt đối với

các điều kiện sinh cư của cộng đồng ven biển miền Trung nói chung



4. TÁC ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI TỚI MÔI TRƯỜNG ĐỊA CHẤT KHU VỰC ĐẦM

PHÁ

Thơng qua các hành động phát triển của mình dưới bất cứ hình thức nào, con người

cũng tác động tới MTĐC khu vực, nơi con người đang chiếm cứ không gian, sinh sống nhờ

vào khai thác các dạng tài nguyên MTĐC. Ngược lại, thông qua chế độ địa động lực, MTĐC

tác động trở lại tới con người, nơi sinh cư và các điều kiện sinh cư dưới dạng tai biến. Dù

trực tiếp hay gián tiếp, con người tác động tới MTĐC là tác động tới các đơn vị cấu trúc, chế

độ động lực, cơ cấu tài nguyên và thậm chí kích thích các yếu tố động lực MTĐC sinh tai

biến. Dưới đây là các hành động chủ yếu của con người tác động tới MTĐC khu vực đầm

phá TG - CH.

4.1. Khai thác lưu vực

Mọi hành động phát triển kinh tế - xã hội diễn ra trên lưu vực đều là yếu tố động lực

nhân sinh tác động trực tiếp tới MTĐC khu vực đầm phá hay gián tiếp tới MTĐC đầm phá

dưới dạng khai thác sử dụng đất và nước. Cả hai dạng này tác động tới MTĐC thông qua sự

thay đổi động thái nước mặt đệm. Dù rằng nước khí quyển rơi trong khu vực khơng ổn định

theo thời gian và phân bố không đều theo không gian, thậm chí là cực đoan, do nhiều nguyên

nhân khác nhau trong đó chủ yếu là sự biến đổi khí hậu, nhưng sự thay đổi động thái nước

mặt đệm chủ yếu do con người. Khai thác rừng đầu nguồn làm giảm khả năng sinh thủy là

tình trạng chung ở tất cả các tiểu lưu vực đông Trường Sơn không riêng ở Bắc Trung Bộ, làm

giảm chức năng điều tiết dòng chảy mặt và hạ thấp gương nước ngầm, dẫn đến tình trạng như

vẫn thường xảy ra: dòng chảy mặt mùa kiệt trở nên quá kiệt và gia tăng xâm nhập mặn theo

sơng, gia tăng lớp dòng chảy mặt và hệ số tập trung nước về mùa mưa, dễ sinh lũ và ngập lụt,

gia tăng khả năng xâm thực - bóc mòn và rửa trôi bề mặt. Hiện nay, những nỗ lực to lớn bảo

vệ và phục hồi tự nhiên rừng đầu nguồn nhằm khôi phục lại các chức năng tự nhiên vốn quý

10



của nó chưa đáp ứng nhu cầu thực tế trong khi phát triển rừng trồng chủ yếu phủ xanh đất

trống, đồi trọc và cung cấp nguyên liệu. Loại rừng này ít có khả năng sinh thủy và giữ vỏ

phong hoá; trong trận lũ tháng 11/1999, lũ bùn đá, trượt lở hầu như chỉ xảy ra ở vùng có rừng

trồng, loại rừng khơng có cấu trúc nhiều tầng.

Nhằm đáp ứng nhu cầu nước, chủ yếu là nước nông nghiệp, trong lưu vực hiện có trên

10 hồ chứa lớn nhỏ với năng lực thiết kế tưới 100ha trở lên, 6 đập dâng có năng lực tưới 50ha

trở lên, 56 trạm bơm tưới, tiêu, đủ năng lực tưới tiêu cho gần 10000 ha (chưa kể hồ Truồi). ở

mức độ đó, các cơng trình này cũng đủ thay đổi cân bằng nước các sơng có cửa điều tiết dẫn

đến cạn kiệt nhanh nguồn nước, hạ thấp mực nước các sông và xâm nhập mặn sâu theo sơng

trong khi vai trò điều tiết dòng chảy (dòng chảy lũ, dòng chảy kiệt) chưa phát huy hiệu quả

cao (Hà Học Kanh , 1996 [14]). Là sản phẩm của tương tác lục địa - biển, hệ đầm phá TG CH không tránh khỏi những thay đổi về chế độ động lực, gia tăng đáng kể sự ảnh hưởng của

biển về mùa khô, thu hẹp mặt cắt ướt qua cửa đầm phá do động lực biển san bằng bờ. Do cân

bằng nước thay đổi, cân bằng bồi tích và dinh dưỡng cũng thay đổi, sẽ tác động lâu dài tới

quá trình phát triển hệ đầm phá TG – CH.

4.2. Chiếm cứ không gian môi trường địa chất khu vực đầm phá

Con người chiếm cứ không gian MTĐC để tiến hành các hoạt động sống của mình là

tất yếu qua các thế hệ nối tiếp nhau nhưng vấn đề là ở chỗ sao cho phù hợp với quy luật phát

triển địa chất, ít ra là các q trình địa chất ngoại sinh, để giảm độ nhạy cảm tai biến tới mức

thấp nhất, tức là thiệt hại thấp nhất. Bản chất của tai biến chỉ đơn giản là hiện tượng bất

thường gây thiệt hại cho con người vượt qua hệ thống tri thức, khả năng dự báo và năng lực

ứng xử của họ.

Hình thái phân bố dân cư chiếm cứ không gian MTĐC khu vực hiện nay là kết quả của

ba yếu tố:

- Sức hút đô thị hướng về cố đô Huế và các tiểu đô thị.

- Sức hút giao lưu lục lộ.

- Sức hút giao lưu thủy lộ và văn hóa làng nghề (trong khn khổ bài viết này, tác giả

xin dừng lại ở yếu tố thứ ba).

Từ lâu, dân cư đồng bằng phân bố tập trung dọc theo thung lũng các hệ thống sông đổ

vào đầm phá TG - CH, đặc biệt là sơng Ơ Lâu, sơng Bồ, sông Hương, sông Đại Giang, và

sông Truồi, và ven bờ đầm phá với các kiểu quần cư rất đa dạng, kể cả kiểu quần cư trên mặt

nước. ở nhiều nơi trong số đó, dân cư phân bố tập trung ngay trên các bãi bồi ven sông, bãi

bồi châu thổ lagun và bãi bồi lagun vốn nhạy cảm lũ và ngập lụt hàng năm. Họ tập trung ở

đây vì sự điều hồ khí hậu cục bộ ở vùng khắc nghiệt, tiện lợi nhiều mặt, tập qn làng nghề

mà vơ tình bỏ qua quy luật phát triển địa chất của sông và đầm phá, bỏ qua các yếu tố động

lực sinh tai biến. Có thể coi hệ thống đê hiện nay là ranh giới xác lập vành đai an toàn tương

đối nhưng thay vì chiếm cứ vùng trống để sử dụng tạm thời theo mùa, nhiều cơng trình, cơ sở

sản xuất cố định và nhà ở lại đặt trên đó, dẫn đến còn q ít cơ hội thốt khỏi ảnh hưởng của

lũ và ngập lụt và tai biến đã từng xảy tới .

11



Tình trạng tương tự cũng xảy ra ở vùng cửa đầm phá nhưng còn phức tạp hơn. Hình

thái cửa đầm phá, cả hình thái cấu trúc và hình thái động lực, dễ thay đổi bởi cả động lực

sông và động lực biển san bằng bờ. Các dạng tích tụ liên quan tới cấu trúc vùng cửa đầm phá

ít ra là khơng có tiền đề địa chất để chiếm cứ khơng gian sử dụng đất cố định. Trong lịch sử

phát triển của mình, cửa Thuận An biến động chu kỳ dài. Sau lần mở cửa đầu tiên vào năm

1404 tại Hòa Dn, vị trí cửa này đã tái lập lại khơng ít hơn 2 lần vào khoảng năm 1498 1504 và năm 1999, và toàn bộ vùng cửa Thuận An đầy biến động, trong đó có cơ chế dịch

cửa dần về phía tây bắc từ vị trí Thái Dương Hạ trong suốt thế kỷ qua (từ năm 1904). Trên cơ

sở các đặc điểm hình thái động lực bờ khảo sát được trong những năm 1993 - 1996 và diễn

biến lịch sử, vị trí Hồ Dn đã từng được cảnh báo xung yếu và cảnh báo lần đầu tiên trong

khuôn khổ đề tài độc lập cấp nhà nước ĐKTL - 95 - 09 [14]. Khơng chỉ riêng trong sự kiện

mở cửa Hồ Duân vào tháng 11/1999, cả trong lịch sử biến động vùng cửa Thuận An, những

thiệt hại trực tiếp, gián tiếp ở mức độ khác nhau hẳn đã từng xảy ra.

ở ven bờ đầm phá, không gian MTĐC bị chiếm cứ chủ yếu nhằm phát triển nông

nghiệp, thủy sản và mở rộng điểm dân cư. Hành động này tác động trực tiếp vào mơi trường

lắng đọng trầm tích bãi bồi ven bờ và bãi bồi châu thổ lagun, làm giảm diện tích mặt nước và

sức chứa thủy vực và giảm chức năng điều hồ lũ. Nhánh sơng La ỷ, sơng Phố Lợi (Phú

Thanh) và nhánh sông Tân Mỹ từng là các chi lưu quan trọng trong cấu trúc thủy văn vùng

cửa sông Hương, đã bị chặn đắp, gây thiếu hụt bồi tích một vùng nằm giữa Phú Thanh, Phú

Dương, Phú Tân và đầm Thanh Lam, kèm theo sự tập trung bồi tích phát triển bãi bồi nhanh

về phía Thuận An và gia tăng sự phát triển phân dị giữa phá Tam Giang và đầm Thủy Tú.

4.3. Xây dựng cơ sở hạ tầng thủy lợi ven bờ đầm phá

Nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội khu vực đầm phá TG - CH, một cơ sở

hạ tầng thủy lợi nhiều hạng mục cơng trình đã được xây dựng có liên quan tới tất cả các đơn

vị cấu trúc MTĐC đầm phá. Ngay từ năm1931, đập Thuận An dài 1900m đã được xây dựng

nhằm giữ ngọt và ngăn mặn. Trong khi chưa kịp phát huy hiệu quả, đập Thuận An lại trở

thành vật cản lũ và đã có 4 lần phá dỡ hạ thấp cao độ cơng trình từ 2,0 m tới 0,0m vào các

năm 1932, 1934, 1942 và 1953 trên tổng chiều dài 1050m. Sau trận lũ ngày 22/9/1953 và trận

lũ năm 1954, đập Thuận An xem như bị vỡ [23], nay còn sót lại đoạn nối bờ Thái Dương

Đơng. Sau này, đập có chức năng tương tự được xây dựng tại Thảo Long chắn cửa sông

Hương, các đập khác được xây dựng tại vùng cửa sông Truồi (đập Cống Quan) và vùng cửa

sơng Ơ Lâu (đập Cửa Lác). Ngồi hệ thống kênh mương, cống, hiện có tới 162km đê bao ven

bờ đầm phá và một cầu bê tông lớn - cầu Thuận An nối liền bờ trước và bờ sau đầm phá.

Trong trận bão tháng 12/1994, cửa Tư Hiền (tại Vinh Hiền) bị bồi lấp, ngay sau đó đã được

gia cố bằng đá granit. Trận lũ tháng 11/1999, cửa Hoà Duân mở lại theo cơ chế bức xung, rồi

một năm sau đó đã được hàn khẩu cưỡng bức bằng cơng trình cứng.

Tất cả các cơng trình được xây dựng nhằm bảo vệ nơi sinh cư và các điều kiện sinh cư

của cộng đồng ven bờ đầm phá nhưng đồng thời can thiệp trực tiếp vào cấu trúc và động lực

MTĐC khu vực đầm phá, tác động vào quá trình phát triển lagun ven bờ vốn biến động phức

tạp và càng phức tạp hơn. Các đập ngăn mặn, giữ ngọt, hệ thống đê bao ngăn lũ tiểu mãn bảo

12



vệ 2 vụ đông xuân và hè thu nhưng đồng thời cũng trở thành vật cản lũ, gây ngập lụt một

vùng chừng 4000ha trong mùa lũ chính vụ. Là sản phẩm tương tác lục địa - biển, đầm phá

TG - CH ra đời và trở thành bồn hội lưu của hầu hết các sông của tỉnh Thừa Thiên - Huế, nơi

phản ánh sự ảnh hưởng của biển gia tăng về mùa khô và của lục địa gia tăng về mùa mưa,

dẫn đến cửa đầm phá luôn biến động cấu trúc hình thái theo mùa, thay đổi vị trí và đóng, mở

theo chu kỳ nhiều năm. Lấp cửa Tư Hiền gần đây nhất vào tháng 12/1994 là kết quả của quá

trình động lực san bằng bờ trong một chu kỳ nhiều năm, trả lại vị trí cửa Hải Bình cho đầm

Cầu Hai, một cửa nhỏ ở sát mũi Chân Mây tây. Trong lịch sử, sự chuyển đổi vị trí cửa giữa

Vinh Hiền và Hải Bình, hoặc cùng tồn tại trạng thái đóng, mở đã từng xảy ra. Nhưng trong

trận lũ lớn tháng 11/1999, chính sự gia cố tương đối vững chắc cửa Tư Hiền sau khi bị lấp và

sự hiện diện phần sót lại của đập Thuận An năm xưa đã trở thành một trong những nguyên

nhân lặp lại vị trí lịch sử cửa Hòa Dn bởi dòng lũ ln tìm đường thoát ngắn nhất ở nơi

xung yếu nhất [20]. Đương nhiên trong trận lũ này, cửa Tư Hiền ở Vinh Hiền mở lại, lấp cửa

Hải Bình, làm thay đổi cơ bản cấu trúc hình thái delta triều lên ở cửa Tư Hiền khi một lượng

cát đồ sộ tràn vào, đồng thời cũng gây biến dạng đáng kể cấu trúc delta triều xuống ở cửa

Thuận An, ách tắc giao thông thủy, và cảng Tân Mỹ lúc đó hầu như khơng có tầu ra vào.

4.4. Khai thác tài nguyên đầm phá

Tài nguyên đầm phá rất đa dạng, được khai thác từ lâu dưới nhiều hình thức khác nhau

và tác động tới MTĐC đầm phá ở mức độ khác nhau, trong đó mức độ đáng kể cần đề cập tới

là thay đổi cơ chế hồn lưu nội tại và giảm khả năng thốt lũ. Hai tác động đáng kể này đều

bắt nguồn từ khai thác tiềm năng nuôi trồng và đánh bắt thủy sản tự nhiên trong đầm phá.

Tình tới năm 1995 [11], có tới 4694 thuyền khai thác với hàng ngàn ngư cụ nhiều chủng loại,

đáng lưu ý trong đó có 1674 trộ sáo, 1958 miệng đáy, 805 chuôm và 202 miệng rớ. Các ngư

cụ này là vật cản quan trọng làm ảnh hưởng cơ chế hồn lưu bồi tích theo phương nằm

ngang, trao đổi nước và dinh dưỡng theo cả phương thẳng đứng và nằm ngang, gia tăng tính

chất kín cục bộ trong quá trình phát triển đầm phá. ở ven bờ đầm phá, 1530ha đầm ni thủy

sản (tính tới năm 1997) cũng góp phần quan trọng thu hẹp diện tích và sức chứa thủy vực,

thu hẹp môi trường lắng đọng trầm tích, tăng cường bồi lấp nền đáy đầm phá, giảm chức

năng điều hòa lũ và ổn định gương nước ngầm khu vực.

Trên đây là bốn hành động tiêu biểu trong số nhiều hành động phát triển khác nhau của

con người tác động tới MTĐC khu vực đầm phá. Tuy nhiên, các tác động từ hoạt động này

không tách rời và thường tổ hợp với nhau hoặc dẫn suất tác động tới quá trình phát triển địa

chất lagun ven bờ. Trong nhiều trường hợp thông qua hành động phát triển kinh tế - xã hội

của mình, tác động của con người trở thành yếu tố kích thích tai biến MTĐC.

5. KẾT LUẬN





Hệ đầm phá TG - CH, kiểu MTĐC lagun ven bờ ở miền Trung Việt Nam điển hình về cấu

trúc, động lực hình thành, phát triển và tiến hóa phức tạp, chứa đựng nguồn tài nguyên to

lớn và giầu tiềm năng phát triển, và điển hình về tai biến địa chất vùng bờ biển.

13







Tác động của con người, thơng qua hành động phát triển kinh tế - xã hội của mình, tới

khu vực đầm phá TG - CH dù trực tiếp hay gián tiếp là tác động vào cấu trúc và chế độ

động lực MTĐC, can thiệp vào sự phát triển tự nhiên của một lagun ven bờ đang phát

triển phân dị ở giai đoạn trưởng thành vốn biến động phức tạp, làm cho biến động phức

tạp hơn, đặc biệt đối với vùng cửa Thuận An và Tư Hiền. Ngược lại, thông qua chế độ

động lực MTĐC sinh tai biến, những biến động này tác động tới con người, gây hậu quả

kinh tế - xã hội ở mức độ khác nhau.



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Brovko, P.F., 1990.

Sự phát triển lagun ven bờ. NXB Đại học Tổng hợp Viễn Đông, 147 tr (tiếng Nga).

2. Coates, D.R., 1977.

Environmental Geology. John Wiley and Sons. 701p.

3. Nguyễn Hữu Cử, 1995.

Hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam. Các cơng trình nghiên cứu Địa chất và

Địa vật lý biển, tr. 113 - 120. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.

4. Nguyễn Hữu Cử, 1996.

Điều kiện động lực hình thành và phát triển hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai. Các cơng

trình nghiên cứu Địa chất và Địa vật lý biển, tr. 234 - 240. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà

Nội.

5. Nguyễn Hữu Cử, 1996.

Đặc điểm địa chất hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai trong Holocene và phức hệ Trùng lỗ

chứa trong chúng. Luận án phó tiến sỹ địa chất học.

6. Nguyễn Hữu Cử, 1999.

Tổng quan tình hình nghiên cứu tài nguyên và môi trường đầm phá ven bờ miền Trung

Việt Nam. Tài nguyên và Môi trường biển, Tập VI, tr. 126 - 142. NXB Khoa học và Kỹ

thuật, Hà Nội.

7. Nguyễn Hữu Cử, 2000.

Địa chất môi trường trong đánh giá tác động môi trường. Tài nguyên và Môi trường biển,

Tập VI, tr. 143 - 151. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.

8. Nguyễn Hữu Cử, 2001.

Định hướng chiến lược kiểm soát lũ miền Trung Việt Nam. Tài nguyên và Môi trường

biển, Tập VII, tr. 289 - 302. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.

9. Nguyễn Hữu Cử, 2001.

Overview of coastal hazards in Vietnam. Marine science and technology, 6 th Asean science

and technology week, conference document, p.93. Bandar Seri Begawan, Brunei

Darussalam.

10. Nguyễn Hữu Cử và Nguyễn Vũ Tuấn, 2001.

14



Tác động của con người tới môi trường địa chất vùng bờ châu thổ sông Hồng. Tài nguyên

và Môi trường biển, Tập VIII, tr. 43 - 53. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.

11. Nguyễn Lương Hiền, 1997.

Hiện trạng và định hướng phát triển nghề cá phá Tam Giang trong mối quan hệ với nghề

cá biển Thừa Thiên - Huế. Tài nguyên và Môi trường biển, Tập IV, tr. 338 - 350. NXB

Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.

12. Nguyễn Đình Hoè, Trần Đình Lân và Nguyễn Hữu Cử, 1995.

Một số đặc điểm địa động lực nội sinh hiện đại và tác động của chúng đối với hệ đầm phá

Tam Giang - Cầu Hai. Kỷ yếu Hội thảo khoa học về đầm phá Thừa Thiên - Huế, tr. 16 23, Hải Phòng, 11/1994.

13. Nguyễn Chu Hồi, Trần Đức Thạnh và nnk, 1995.

Nghiên cứu sử dụng hợp lý một số hệ sinh thái tiêu biểu ở vùng biển ven bờ Việt Nam, mã

số KT - 03 - 11, phần hệ sinh thái đầm phá ven bờ miền Trung. Lưu trữ tại Phân viện Hải

dương học tại Hải Phòng.

14. Nguyễn Chu Hồi, Trần Đức Thạnh và nnk, 1996.

Nghiên cứu khai thác sử dụng hợp lý tiềm năng phá Tam Giang. Đề tài độc lập cấp Nhà

nước, mã số KTĐL 95 - 09. Lưu trữ ở Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng.

15. Trần Đức Thạnh, 1997.

Tác động mơi trường của việc lấp cửa, chuyển cửa ở hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai. .

Tài nguyên và Môi trường biển, Tập IV, tr. 185 - 196. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà

Nội.

16. Trần Đức Thạnh, Nguyễn Chu Hồi, Nguyễn Hữu Cử, Trần Đình Lân và nnk, 1998.

Đánh giá tiềm năng và đề xuất lựa chọn khu bảo vệ đất ngập nước hệ đầm phá Tam Giang

- Cầu Hai. Đề tài cấp tỉnh Thừa Thiên - Huế. Lưu trữ ở Phân viện Hải dương học tại Hải

Phòng.

17. Trần Đức Thạnh, Trần Đình Lân, Nguyễn Hữu Cử và nnk, 1998.

Nguyên nhân bồi lấp cửa Tư Hiền ở hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai. Tài nguyên và Môi

trường biển, Tập V, tr. 28 - 43. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.

18. Trần Đức Thạnh, Nguyễn Chu Hồi, Đỗ Nam, Nguyễn Miên, Nguyễn Hữu Cử và

nnk, 1998.

Định hướng quản lý tài nguyên và môi trường hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai. Tài

nguyên và Môi trường biển, Tập V, tr. 65 - 76. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.

19. Trần Đức Thạnh, 1999.

Một số vấn đề cơ bản về địa môi trường bờ Việt Nam. Tài nguyên và Môi trường biển,

Tập VI, tr. 87 - 97. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.

20. Trần Đức Thạnh, Nguyễn Chu Hồi và Nguyễn Hữu Cử, 2000.

Biến động cửa đầm phá Tam Giang - Cầu Hai và hậu quả môi trường, sinh thái. Thông tin

Khoa học và Công nghệ (Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường tỉnh Thừa Thiên - Huế),

số 2 (28), tr. 31 - 43.

21. Trần Đức Thạnh, Nguyễn Hữu Cử, Nguyễn Chu Hồi và Nguyễn Văn Tiến, 2002.

15



Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai: Giá trị tài nguyên và vấn đề biến động cửa. Nghiên

cứu Huế (Trung tâm Nghiên cứu Huế), Tập 3, tr. 124 - 167.

22. Nguyễn Quang Trung Tiến, 1998.

Biến động địa lý cửa Thuận An và dự án đập sông Hương trước năm 1975. Thông tin

Khoa học và Công nghệ (Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường tỉnh Thừa Thiên - Huế),

số 2 (20), tr. 73 - 79.

23. Ngơ Đình Tuấn, 1995.

Một số vấn đề cần xem xét trong bài toán sử dụng khai thác hợp lý phá Tam Giang - Cầu

Hai. Kỷ yếu Hội thảo khoa học về đầm phá Thừa Thiên - Huế, tr. 81 - 84, Hải Phòng,

11/1994.

Summary

IMPACTS OF HUMAN ACTIVITIES ON THE GEOLOGICAL ENVIRONMENT OF

THE TAM GIANG – CAU HAI COASTAL LAGOON

The Tam Giang - Cau Hai coastal lagoon is large in size and characteristic of the

horizontal structure of a coastal lagoon geological environmental type with four subtypes.

The subtype of lagoonal inlets with a role of connecting with the sea is composed of channels

and a seasonally changeable ebb tidal delta in the Thuan An inlet and a flood tidal delta in the

Tuhien inlet, to which coastal hazards in from of replacing, closing and opening often occur.

The subtype of lagoonal terraces, a part of which is inundated in rainy season and the other

has been impounded for farming, and narrow tidal flats along the lagoonal shore. The subtype

of lagoonal basins called locally Tam Giang, Dam Sam - An Truyen, Thuy Tu and Cau Hai

(southward) with a total of 216 sq.km in area is characteristic of the accumulation of

lacustrine fine - grained sediments with a high wetness and organic matter quantity. The last

subtype of lagoonal deltas of the O Lau, Hong and Truoi - Dai Giang rivers is composed of

river mouths with crossing diversion dams, dammed tributaries and alluvia being used for

agriculture, and even populated.

Human activities affecting the lagoon are in 4 major forms of the exploitation of

catchment areas, multi - use occupation of geological environments, infrastructure

development for land and water use and the exploitation of lagoonal living resources. Their

impacts, though direct or indirect, on the lagoonal geological environment are to deform its

structure, to change the dynamics of geological development, natural resource potentials and,

in a way, to intensify the coastal hazard sensitivity due to the unbalance of water and

reduction in water exchange with the sea, deterring lagoonal inner circulation of water,

materials and nutrients, decrease in lagoonal reservoir and its role of harmonizing floods,

groundwater table, etc.



16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3. Tai biến liên quan tới môi trường địa chất khu vực đầm phá Tam Giang - Cầu Hai

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×