Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 1. Phân chia môi trường trầm tích hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai

Bảng 1. Phân chia môi trường trầm tích hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hệ MTĐC lục địa gồm hai kiểu: kiểu MTĐC đồng bằng ven biển và kiểu MTĐC đồi

và núi thấp. Kiểu MTĐC đồng bằng ven biển đặc trưng bởi lắng đọng trầm tích aluvi lấp đầy

các dạng địa hình trũng thấp tồn tại từ trước Holoxen muộn, trong đó có hệ thống các lagun

cổ, trong pha ∆ theo nguyên lý phát triển đồng bằng ven biển của Strickland (1926) [5] ở nơi

giàu bồi tích cát và các dạng tích tụ cát. Q trình này vẫn còn tiếp tục bởi hoạt động địa chất

của các sông đổ vào đàm phá. Kiểu MTĐC đồi và núi thấp phát triển đặc trưng quá trình xâm

thực bóc mòn và rửa trơi bề mặt các thành tạo địa chất trước Đệ tứ, một mặt hình thành phổ

biến các thể tích tụ deluvi, proluvi, bãi bồi ven sơng nhưng mặt khác cung cấp một lượng lớn

bồi tích cho đầm phá và biển.

3.2. Động lực và tiến hóa môi trường địa chất khu vực đầm phá

3.2.1. Động lực nội sinh

Môi trường địa chất hệ đầm phá TG - CH chịu ảnh hưởng của chế độ nâng kế thừa và

nâng phân dị phức tạp. Kiểu MTĐC cồn - đụn và bãi biển, lagun ven bờ và đồng bằng ven

biển phát triển trên đới sụt hạ tương đối trong Đệ tứ với tốc độ nâng trung bình 0,12 0,15mm/năm (Lê Đức An và Ma Kông Cọ, 1979 [5]) bên cạnh khối nâng tây Huế (tốc độ vận

động 0,3mm/năm) và khối nâng Bạch Mã (tốc độ vận động 0,5mm/năm) ở phía nam. Hệ

MTĐC biển phía ngồi phát triển trên đới căng giãn (Lê Như Lai, 1995 [5]) chuyển tiếp với

đới rift sơng Hồng. Tồn bộ các thành tạo địa chất khu vực bị phá hủy mạnh bởi các hệ đứt

gãy hiện đại phát sinh từ hệ đứt gãy sâu A Lưới, các đứt gãy phát sinh cục bộ và các đứt gãy

thuộc hệ đứt gãy Hải Vân - Sơn Trà [12]. Phát sinh từ hệ đứt gãy sâu A Lưới, có các hệ đứt

gãy Phò Trạch, hệ đứt gãy Huế, hệ đứt gãy Rào Trăng. Đây là các hệ đứt gãy trượt phải, định

hướng á vỹ tuyến (hình 3).

Hình 3. Sơ đồ địa động lực nội sinh hiện đại khu vực đầm phá Tam Giang - Cầu Hai



5



Trong các đứt gãy phát sinh cục bộ, điển hình là hệ đứt gãy sông Tả Trạch, trượt phải

và định hướng á kinh tuyến (BTB - NĐN) cắt qua phá Tam Giang, hệ đứt gãy sông Hữu

Trạch biểu hiện trượt trái, định hướng ĐB - TN cắt qua đầm Thủy Tú. Thuộc hệ đứt gãy Hải

Vân - Sơn Trà, các đứt gãy chính có biểu hiện trượt phải, định hướng TB - ĐN chia cắt khối

Bạch Mã và đầm Cầu Hai. Vận động nâng và hoạt động của các hệ đứt gãy phá hủy hiện đại

đã làm xuất hiện các vòm nâng cục bộ, gây biến dạng cấu trúc mạng lưới dòng chảy mặt đổ

vào đầm phá, như vòm nâng Phú Vang, vòm nâng Thủy Thanh.

3.2.2. Động lực ngoại sinh

Hệ đầm phá TG - CH là bồn hội lưu của hầu hết các hệ thống sông Thừa Thiên - Huế

(trừ hệ thống sông Xê Xáp ở miền tây), hàng năm tiếp nhận tổng thủy lượng 5,171 x 10 9m3,

và tải lượng phù sa 620000 tấn, chưa tính đến lượng trao đổi với biển. Quá trình san bằng

địa hình đồng bằng ven biển và lấp đầy lagun ven bờ diễn ra liên tục thông qua các cơ chế:

tích tụ bãi bồi châu thổ lagun lấn tiến và thu hẹp diện tích đầm phá, tích tụ lấp đầy và nơng

hóa vực nước đầm phá với tốc độ vào khoảng 2,17 mm/năm [14] nhờ hoàn lưu nội tại và trao

đổi nước giữa biển và đầm phá, và cơ chế san bằng bờ của biển với lượng xuất chuyển bồi

tích dọc bờ do sóng vào khoảng 3,5 triệu tấn/năm, trong đó ưu thế về phía nam 0,5 triệu

tấn/năm, dẫn đến trạng thái và vị trí cửa đầm phá không ổn định [5, 14, 15, 17].

3.2.3. Sự phát triển và tiến hóa mơi trường địa chất khu vực đầm phá

Trải qua lịch sử phát triển địa chất khu vực lâu dài trước Holoxen (giai đoạn tiền lagun)

và Holoxen (giai đoạn thành tạo lagun) trên đới sụt hạ tương đối tân kiến tạo và kiến tạo hiện

đại, hệ đầm phá TG - CH ra đời trong Holocene muộn sau khi Đại Trường Sa (hệ thống cồn đụn và bãi biển đồ sộ kéo dài từ cửa Việt tới núi Linh Thái) hình thành. Sau khi hình thành,

hệ đầm phá TG - CH phát triển có tính giai đoạn rõ ràng. Kết thúc giai đoạn trẻ được đánh

dấu bằng sự kiện mở cửa thứ hai tại làng Hòa Duân vào năm 1404, và hệ đầm phá TG - CH

đang phát triển ở giai đoạn trưởng thành [5]. Từ khi mở cửa Hòa Dn, cửa Tư Hiền tồn tại

trước đó trở thành cửa phụ và trạng thái tồn tại của cả hai cửa trở nên không ổn định, môi

trường lắng đọng trầm tích lagun phân dị mạnh giữa các phụ kiểu, đặc biệt là giữa các tiểu

vùng của phụ kiểu châu thổ lagun.

Lúc mới hình thành, hệ đầm phá TG – CH rộng hơn bây giờ nhiều (Lê Quý Đôn, 1976

[5]) và trong suốt giai đoạn phát triển trẻ, chỉ tồn tại một cửa Tư Hiền (xưa có một thời gọi là

cửa Tư Dung). Bồi tích từ cửa sơng Ơ Lâu và sông Hương cùng tham gia tạo hệ thống bãi bồi

ven bờ lagun theo suốt chiều dài từ cửa Ô Lâu tới Hà Trung. Ngồi bãi bồi dạng thềm, còn

xuất hiện bãi bồi dạng đảo ở cuối đầm Thủy Tú có cấu trúc hình thái delta rất điển hình (khu

Ba Cồn). Phát triển sang giai đoạn trưởng thành, hệ đầm phá TG - CH tồn tại hai cửa, trong

đó cửa Tư Hiền chịu ảnh hưởng của thủy triều có biên độ cao hơn thủy triều ở cửa Thuận An.

6



nguồn nuôi bồi tích cho bãi bồi ven bờ đầm Thủy Tú và bãi bồi dạng đảo ở phía cuối khơng

còn đáng kể. Thay vào đó là sự lớn nhanh của bãi bồi châu thổ sơng Hương lấn tiến về phía

cửa Thuận An. Các đặc trưng lý hóa khối nước đầm phá càng giảm nhanh tính chất đồng nhất

giữa các tiểu vùng cửa sơng châu thổ lagun, giữa các cửa và thậm chí giữa các bộ phận khác

nhau (Tam Giang, Thủy Tú, Cầu Hai) của lòng chảo lagun.

Lagun ven bờ, một bồn tích tụ hiện đại, tất yếu trải qua các giai đoạn phát triển trẻ,

trưởng thành và suy tàn để hoàn thiện cấu trúc hình thái đồng bằng ven biển như đã từng xảy

ra trong lịch sử phát triển địa chất đồng bằng ven biển miền Trung Việt Nam [3]. Ngoài các

quá trình động lực tự nhiên, các lagun ven bờ hiện nay nói chung và hệ đầm phá TG - CH nói

riêng còn chịu tác động mạnh của con người ngày càng gia tăng (động lực nhân sinh) dưới

nhiều hình thức khác nhau. Vì vậy, khơng thể dự báo khoảng thời gian suy tàn của hệ đầm

phá TG - CH khi chỉ ước định tốc độ lắng đọng trầm tích như hiện nay ngoài việc cho rằng

hệ đầm phá TG - CH tiếp tục phát triển phân dị mạnh trong thời gian đủ dài trong điều kiện

dâng cao mực nước đại dương thế giới.

3.3. Tài nguyên và tai biến môi trường địa chất khu vực đầm phá Tam Giang - Cầu Hai

3.3.1. Tài nguyên

Tài nguyên MTĐC khu vực đầm phá TG - CH được đề cập tới trong phạm vi kiểu

MTĐC cồn - đụn và bãi biển, kiểu MTĐC lagun ven bờ và kiểu MTĐC đồng bằng ven biển.

Theo quy luật chung, tiềm năng tài nguyên vùng bờ biển tập trung chủ yếu ở các loại hình

thủy vực ven bờ, trong đó có lagun, và ưu thế tiềm năng tài nguyên sinh vật. Đối với vùng bờ

biển miền trung Việt Nam, nơi có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và tài nguyên thiên nhiên

nghèo kiệt, tiềm năng tài nguyên và giá trị sử dụng của các thủy vực ven bờ, trong đó có hệ

thống đầm phá, càng có ý nghĩa và có vai trò quan trọng trong quy hoạch phát triển kinh tế xã hội khu vực [6]. Có thể khái quát các dạng tài nguyên thiên nhiên liên quan tới các đơn vị

cấu trúc MTĐC khu vực đầm phá trên bảng 2 với giá trị tài nguyên lớn nhất, cả tài nguyên

sinh vật và phi sinh vật, thuộc về kiểu MTĐC lagun ven bờ. Mặc dù giá trị sử dụng lớn

nhưng tiềm năng khai thác chỉ có hạn định để duy trì sự ổn định cơ cấu tài nguyên và phát

triển các giá trị tài nguyên, để hạn chế nảy sinh các vấn đề địa chất môi trường.

3.3.2. Tai biến

Tai biến MTĐC vùng bờ biển luôn là vấn đề địa chất mơi trường bức xúc, ảnh hưởng

tồn diện tới sự phát triển kinh tế - xã hội vùng bờ biển. Tai biến MTĐC vùng bờ biển Thừa

Thiên - Huế chủ yếu là các dạng tai biến địa chất ngoại sinh, được trình bày khái quát trên

bảng 3 theo cách phân tích logic dẫn suất MTĐC xuất hiện tai biến, động lực sinh tai biến,

dạng tai biến và hậu quả kinh tế - xã hội của tai biến .

Tai biến MTĐC khu vực đầm phá TG - CH gây hậu quả kinh tế - xã hội nặng nề và

thách thức năng lực ứng xử lớn nhất là sự không ổn định của đầm phá phát triển trong giai

đoạn trưởng thành, lũ và ngập lụt hằng năm. Tuy nhiên, nâng cao năng lực ứng xử tai biến

đồng nghĩa với gia tăng chi phí thay thế ban đầu, đó là điều cần xét đến trong các quy hoạch

phát triển kinh tế - xã hội khu vực.

7



8



Bảng 3. Tai biến liên quan tới môi trường địa chất khu vực đầm phá Tam Giang Cầu Hai

Các kiểu MTĐC

khu vực

Kiểu MTĐC cồn

đụn và bãi biển



Kiểu MTĐC

lagun ven bờ



Tai biến

- Xói lở bờ biển. Bờ biển ổn định tương đối trong nhiều năm nay bởi

cân bằng bồi tụ - xói lở theo mùa thay thế nhau nhưng xói lở đột biến

từ năm 1999. Do thay đổi hình thái động lực vùng cửa Thuận An trong

thời gian 11/1999 - 11/2001, bờ cát làng Thái Dương (Hải Dương) bị

xói lở lùi tới 37m gây sập đổ hải đăng và cơng trình phụ cận, xói lở đẩy

lùi bãi Thuận An tới trên 40m gây sập đổ nhà nghỉ cả cũ và mới xây.

Diễn biến xói lở vẫn còn phức tạp. Xói lở liên tục gây biến dạng hình

thái động lực và cấu trúc đê cát nằm giữa cửa Tư Hiền và Hải Bình

- Cát bay. Hiện tượng cát bay thường xuyên xảy ra trên cả hệ thống cồn

- Đụn, đặc biệt đoạn từ Điền Lộc tới Hải Dương, từ Phú Diên tới Vinh

Hiền gây biến dạng bề mặt, cồn cát di động, vùi lớp cây cối, bồi lấn

khu dân cư

- Cát chảy. Về mùa mưa, cát chảy xẩy ra hầu khắp hệ thống cồn cát, bồi

lấn khu dân cư và đất canh tác trên thềm lagun do chảy tràn, bồi lấp

ven đầm phá do dòng chảy tạm thời. Dạng tai biến này gây ảnh hưởng

lớn tới điều kiện sinh cư của cộng đồng vùng cát

- Lũ và ngập lụt. Do hình thế thời tiết cực đoan gây mưa lớn kéo dài

trên diện rộng, dễ sinh lũ, kết hợp với trạng thái thu hẹp mặt cắt ướt

qua cửa đầm phá trong mùa khô, ngập lụt dễ xẩy ra, gây hậu quả trực

tiếp và gián tiếp tới kinh tế - xã hội khu vực, trong đó có kinh tế thủy

9



sản



Kiểu MTĐC

đồng bằng ven

biển



- Không ổn định cửa đầm phá. Do kết hợp động lực san bằng bờ của

biển xẩy ra mạnh mẽ về mùa khô và động lực sông mạnh về mùa lũ,

cửa đầm phá khơng ổn định vị trí, hình thái và trạng thái tồn tại. Cửa

Tư Hiền có xu thế biến đổi chu kỳ ngắn với hiện tượng lấp, mở, thay

đổi vị trí giữa Vinh Hiền và Hải Bình. Cửa Thuận An có xu thế biến

động chu kỳ dài với hiện tượng dịch chuyển về phía tây bắc. Hậu quả

của không ổn định cửa rất nặng nề, gần đây nhất phải kể tới sự kiện lấp

cửa Tư Hiền vào tháng 12/1994, sự kiện mở cửa Tư Hiền, mở cửa Hòa

Duân lặp lại vị trí lịch sử đầu tiên năm 1404 và vào tháng11/1999

- Lũ và ngập lụt về mùa mưa

- Sinh hạn và xâm nhập mặn về mùa khô. Đây là hai dạng tai biến phổ

biến theo mùa, gây hậu quả kinh tế - xã hội nặng nề, đặc biệt đối với

các điều kiện sinh cư của cộng đồng ven biển miền Trung nói chung



4. TÁC ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI TỚI MƠI TRƯỜNG ĐỊA CHẤT KHU VỰC ĐẦM

PHÁ

Thơng qua các hành động phát triển của mình dưới bất cứ hình thức nào, con người

cũng tác động tới MTĐC khu vực, nơi con người đang chiếm cứ không gian, sinh sống nhờ

vào khai thác các dạng tài nguyên MTĐC. Ngược lại, thông qua chế độ địa động lực, MTĐC

tác động trở lại tới con người, nơi sinh cư và các điều kiện sinh cư dưới dạng tai biến. Dù

trực tiếp hay gián tiếp, con người tác động tới MTĐC là tác động tới các đơn vị cấu trúc, chế

độ động lực, cơ cấu tài nguyên và thậm chí kích thích các yếu tố động lực MTĐC sinh tai

biến. Dưới đây là các hành động chủ yếu của con người tác động tới MTĐC khu vực đầm

phá TG - CH.

4.1. Khai thác lưu vực

Mọi hành động phát triển kinh tế - xã hội diễn ra trên lưu vực đều là yếu tố động lực

nhân sinh tác động trực tiếp tới MTĐC khu vực đầm phá hay gián tiếp tới MTĐC đầm phá

dưới dạng khai thác sử dụng đất và nước. Cả hai dạng này tác động tới MTĐC thông qua sự

thay đổi động thái nước mặt đệm. Dù rằng nước khí quyển rơi trong khu vực không ổn định

theo thời gian và phân bố khơng đều theo khơng gian, thậm chí là cực đoan, do nhiều nguyên

nhân khác nhau trong đó chủ yếu là sự biến đổi khí hậu, nhưng sự thay đổi động thái nước

mặt đệm chủ yếu do con người. Khai thác rừng đầu nguồn làm giảm khả năng sinh thủy là

tình trạng chung ở tất cả các tiểu lưu vực đông Trường Sơn không riêng ở Bắc Trung Bộ, làm

giảm chức năng điều tiết dòng chảy mặt và hạ thấp gương nước ngầm, dẫn đến tình trạng như

vẫn thường xảy ra: dòng chảy mặt mùa kiệt trở nên quá kiệt và gia tăng xâm nhập mặn theo

sông, gia tăng lớp dòng chảy mặt và hệ số tập trung nước về mùa mưa, dễ sinh lũ và ngập lụt,

gia tăng khả năng xâm thực - bóc mòn và rửa trơi bề mặt. Hiện nay, những nỗ lực to lớn bảo

vệ và phục hồi tự nhiên rừng đầu nguồn nhằm khôi phục lại các chức năng tự nhiên vốn quý

10



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 1. Phân chia môi trường trầm tích hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×