Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tăng hậu gánh: giảm áp lực trong lồng ngực làm tăng hậu gánh thất trái, cản trở tống máu thất trái. Ở bệnh nhân COPD có suy tim trái, cai thở máy dễ thất bại do suy tim và phù phổi cấp.

Tăng hậu gánh: giảm áp lực trong lồng ngực làm tăng hậu gánh thất trái, cản trở tống máu thất trái. Ở bệnh nhân COPD có suy tim trái, cai thở máy dễ thất bại do suy tim và phù phổi cấp.

Tải bản đầy đủ - 0trang

20



Các yếu tố tiên lượng cai thở máy

Thời gian thở máy

Thời gian thở máy càng kéo dài càng làm tăng tỷ lệ cai thở máy thất bại, và làm

tăng tỷ lệ tử vong. Chậm trễ cai thở máy được định nghĩa là thở máy trên 2 tuần mà

khơng có các yếu tố ngồi hơ hấp gây cản trở cai thở máy [18].

Quá trình cai thở máy chiếm khoảng 40 - 59% tổng thời gian thở máy [5],

[6] việc thở máy kéo dài làm tăng nguy cơ biến chứng như viêm phổi, chấn thương

áp lực...

Trong các nghiên cứu của Coplin W.M [17] và Pilcher D.V [19] ở các bệnh

nhân chậm cai thở máy (thở máy khoảng 20 ngày trước khi được tiến hành cai thở

máy) đều cho thấy tăng tỷ lệ tử vong, thời gian nằm viện và tăng khả năng phải đặt

lại ống nội khí quản.

Các nguyên nhân gây thở máy kéo dài như: viêm phổi liên quan đến thở máy

(VAP), chấn thương áp lực, tình trạng co thắt phế quản không được giải quyết triệt

để, lạm dụng an thần, các bệnh lý kèm theo (suy tim, suy thận, béo phì...) [14].

Tần số thở

Meade M. và cộng sự (2001) quan sát trên 65 nghiên cứu về các nhóm đối

tượng khác nhau cho thấy với tần số thở > 38 lần/phút có khả năng dự đốn khả

năng cai thở máy thất bại [20].

Theo Conti G. và cộng sự (2004), tần số thở ≤ 35 nhịp/phút khả năng dự đốn

thơi thở máy thành công với độ nhạy 94%, độ đặc hiệu 7% [21].

Santos E.J. (2013) đánh giá trên 166 bệnh nhân cai thở máy cho thấy nhịp

thở có khả năng dự báo khả năng cai thở máy thất bại với điểm cut - off > 24, độ

nhạy 100%, đặc hiệu 85% [22], khác với các nghiên cứu trước đây. Do vậy việc sử

dụng tần số thở đánh giá khả năng cai thở máy thất bại hiện vẫn còn nhiều bàn cãi.

Thể tích khí lưu thơng (Vt)

Nghiên cứu của Yang và Tobin (1991) đánh giá trên 100 bệnh nhân thở máy

do suy hô hấp, bệnh lý thần kinh và sau phẫu thuật thần kinh cho thấy với thể tích khí

lưu thơng > 325ml có giá trị dự báo cai thở máy thành cơng có độ nhạy là 97% và độ

đặc hiệu là 54% [23].



21



Theo Conti G. và cộng sự (2004), Vt > 5 ml/kg có giá trị dự đốn cai thở

máy thành cơng với độ nhạy 54% và độ đặc hiệu 57% [21].

Thông khí phút (MV)

Giá trị bình thường khoảng 5-6 lít/phút ở người khỏe mạnh lúc nghỉ, nhưng tăng

ở bệnh nhân thở máy hoặc tăng CO2 (như sốt, tăng chuyển hóa), nhiễm toan chuyển

hóa, thiếu oxy máu, tăng khoảng chết, tăng kích thích trung tâm hơ hấp. Khi thơng khí

phút tăng là dấu hiệu nhu cầu thơng khí tăng [14], [24]

Theo Jacob và cộng sự (1997), với thơng khí phút < 10 lít/phút thì giá trị dự báo

thơi thở máy thành cơng có độ nhạy là 76% và độ đặc hiệu là 40% [25]

Theo Conti G. và cộng sự (2004), thơng khí phút ≤ 12 lít/phút có giá trị dự

đốn thơi thở máy thành công với độ nhạy 86%, độ đặc hiệu 14% [22].

Theo Yang K.L. và Tobin M.J. (1991), thơng khí phút ≤ 15 lít/phút có giá trị

dự đốn thơi thở máy với độ nhạy 78%, độ đặc hiệu 18% [23]

Tuy nhiên, theo các nghiên cứu tổng kết cho thấy thông khí phút là yếu tố dự

báo khả năng thơi thở máy kém [21].

Độ giãn nở phổi (compliance)

Độ giãn nở phổi là lượng hóa gián tiếp cơng thở cần thiết để vượt qua lực

đàn hồi của hệ hô hấp.

Theo nghiên cứu Yang và Tobin (1991), Cdyn > 22 ml/cmH 2O, có khả năng

dự đốn cai máy thành cơng với độ nhạy 75% và độ đặc hiệu 36% [23].

Tuy nhiên việc dùng chỉ số này trên lâm sàng còn nhiều hạn chế việc tự động

đo compliance chỉ có trên một số dòng máy thở.

Công thở (WOB)

Công thở là một yếu tố dự đốn khả năng cai thở máy vì có xu hướng cao

hơn ở bệnh nhân cai thở máy thất bại. Tuy nhiên, giá trị chính xác để phân biệt bệnh

nhân có khả năng cai thở máy thành công hay thất bại chưa được xác định.



22



Năm 1995, Levy M.M. và cộng sự tiến hành nghiên cứu trên các đối tượng

thở máy khác nhau rút ống nội khí quản thành cơng cho thấy: nhóm COPD có cơng

thở trung bình là 1,55 J; nhóm viêm phổi có cơng thở trung bình là 1,22 J [26].

Chỉ số thở nhanh nông (RSBI)

RSBI là tỉ số giữa tần số thở tự nhiên trong 1 phút (f) và thể tích thở tự nhiên

trung bình của 1 lần thở (VT), là chỉ số đánh giá hiệu suất thơng khí, đo bằng khí

dung kế Drager.

Trong nghiên cứu của Frutos F. [27]và Scheinhorn D.J [28]. cho thấy RSBI

càng cao thì tỷ lệ cai thở máy thất bại và đặt lại nội khí quản càng cao (19% với

RSBI >75 nhịp/phút/lít). Theo tác giả Nguyễn Văn Tín [29], và Meade M [20] cho

thấy RSBI ≤ 105 nhịp/phút/lít có giá trị dự đốn cai thở máy và rút ống nội khí quản

thành cơng với độ nhạy và độ đặc hiệu cao [30]

Áp lực hít vào tối đa

Khả năng của cơ hô hấp là một trong những chỉ số quan trọng nhất dự đoán kết

quả cai thở máy. MIP đánh giá tổng sức mạnh cơ hít vào và phản ánh chính xác dự trữ

hơ hấp, được đo bằng khí áp kế Boehringer, giá trị bình thường (giảm dần theo độ tuổi)

là 111 ± 34 cmH2O, có giá trị dự đốn khả năng rút ống nội khí quản thành cơng cao

với p = 0.04, độ nhạy 100%, đặc hiệu 50%. Theo Nguyễn Văn Tín [29] với MIP ≥40

cmH2O có khả năng rút ống nội khí quản thành công cao (p<0.01), với độ nhạy 63%

và độ đặc hiệu 82%.

Áp lực bít đường thở 0,1 giây (P0.1)

P0.1 là sự thay đổi áp lực đường thở được sinh ra do hoạt động co cơ hít và và

khi đường thở bị bít tắc tại thời điểm 0,1 giây đầu tiên trong thì thở vào, áp lực này

đánh giá khả năng gắng sức thở (đánh giá chính xác cơng suất trung tâm hơ hấp).

P0.1 được đo bằng khí áp kế Adaptor với giá trị bình thường P0.1 < 2cmH 2O (với

người bình thường khơng có sự gắng sức thở) [6]

P0.1 tăng cao dễ dẫn đến kiệt sức hô hấp làm tỷ lệ cai thở máy thất bại càng

cao. Trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Tín [29] cho thấy P0.1 thấp có giá trị dự

đốn cai thở máy thành cơng với độ nhạy và độ đặc hiệu cao (97% và 58%).



23



Tỷ lệ P0.1/MIP cũng là một chỉ số có giá trị trong dự đoán kết quả cai thở

máy và rút ống nội khí quản. Trong nghiên cứu của Capdevila X [31] , P0.1/MIP

<0,09 có giá trị dự đốn cai thở máy và rút nội khí quản thành cơng với độ nhạy

98% và độ đặc hiệu là 100%.

Tri giác và khả năng ho

Điểm Glassgow của bệnh nhân là một chỉ số lựa chọn cai thở máy. Bảng

điểm Glassgow cải tiến được áp dụng để cho điểm đánh giá tri giác ở các bệnh nhân

thở máy có ống nội khí quản, khi đó điểm nói được tính là 1 điểm ở tất cả bệnh

nhân. Trong nghiên cứu của Namen A.M [32] cho thấy cai thở máy và rút nội khí

quản thành cơng ở 75% các trường hợp có Glassgow ≥ 8 điểm so với 33% ở bệnh

nhân có Glassgow < 8 điểm. Đối với các bệnh nhân đang dùng an thần, nên lựa

chọn cai thở máy với điểm Ramsay ≤ 3.

Khả năng ho của bệnh nhân cũng là một chỉ số quan trọng dự đốn rút nội khí

quản thành cơng, được đánh giá theo thang điểm 0 - 5 hoặc đo lưu lượng đỉnh thở ra

(PEF). Theo tác giả Khamiees M [33], nếu PEF giảm thì Tỷ lệ rút nội khí quản thất

bại tăng cao (PEF ≤ 60L/phút: OR = 5) và nếu điểm ho ≤ 2 có tỷ lệ rút nội khí quản

thất bại cao gấp 4 lần so với điểm ho > 2.

Biên độ dao động cơ hoành

Cơ hoành là cơ rất quan trọng tham gia q trình hơ hấp. Rối loạn chức năng

cơ hoành là một biểu hiện của bệnh nhân COPD vì vậy rối loạn chức năng cơ hồnh

có thể ảnh hướng đến quá trình cai thở máy [14], [32].

DiNino E và cộng sự thực nghiệm đo sự khác biệt của độ dày cơ hồnh ở cuối

thì thở vào và thì thở ra nhận thấy sự khác biệt ≥ 30% có giá trị dự báo thất bại rút

ống nội khí quản với độ nhạy 88% và độ đặc hiệu 71% [34], Ferrari và cộng sự cho

kết quả 36% với độ nhạy 82% và độ đặc hiệu 88% [35].

Osman and Hashim với biên độ dao động cơ hoành DE < 10 mm là giá trị dự

báo thất bại cai thở máy giá trị [36]. Chỉ số này càng được nhiều quan tâm thời gian

gần dây và nhiều nghiên cứu còn tiếp tục.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tăng hậu gánh: giảm áp lực trong lồng ngực làm tăng hậu gánh thất trái, cản trở tống máu thất trái. Ở bệnh nhân COPD có suy tim trái, cai thở máy dễ thất bại do suy tim và phù phổi cấp.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×