Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phương pháp thông khí hỗ trợ áp lực (PSV)

Phương pháp thông khí hỗ trợ áp lực (PSV)

Tải bản đầy đủ - 0trang

26



1.3. Rối loạn chức năng cơ hoành

1.3.1. Giải phẫu cơ hồnh

Cơ hồnh là một vân cơ dẹt, rộng, hình vòm, làm thành một

vách gân - cơ ngăn giữa lồng ngực và ổ bụng. Cơ hồnh có vai trò quan trọng

trong sinh lý hơ hấp. Khi cơ hồnh co thì vòm hoành hạ xuống, lồng ngực giãn, áp

lực trong lồng ngực giảm, khơng khí được hít vào. Cơ hồnh được cấp máu bởi

động mạch hoành trên, hoành dưới và các nhánh xuất phát từ trung thất sau. Được

chi phối vận động chính bởi dây thần kinh hồnh và 6 nhánh của dây thần kinh gian

sườn cuối.

1.3.2. Vai trò cơ hồnh trong sinh lý hơ hấp [44]

Động tác hít vào

Hít vào thơng thường: Hít vào thơng thường là một động tác chủ động, đòi

hỏi tiêu tốn năng lượng cho sự co của các cơ hô hấp. Các cơ hô hấp tham gia hoạt

động tạo nên động tác hít vào thơng thường bao gồm: Cơ hoành, cơ bậc thang, cơ

răng to, cơ liên sườn trong và cơ liên sườn ngoài. Khi các cơ hơ hấp này co lại làm

tăng kích thước lồng ngực theo cả ba chiều, đó là chiều thẳng đứng (trên dưới),

chiều trước sau và chiều ngang (phải trái).

Tăng chiều đứng thẳng:

Đáy của lồng ngực là cơ hồnh. Bình thường cơ hồnh lồi lên phía lồng ngực

theo hai vòm là vòm gan và vòm dạ dày. Khi cơ hồnh co, hai vòm này phẳng ra và

hạ thấp xuống về phía bụng, do đó làm cho kích thước theo chiều đứng thẳng của

lồng ngực được tăng lên. Cơ hoành hạ thấp 1 cm có thể làm tăng thể tích lồng ngực

lên 250 cm3. Hít vào bình thường cơ hồnh hạ thấp 1,5 cm. Diện tích cơ hồnh

khoảng 250 cm2. Cơ hồnh là một cơ hơ hấp quan trọng, khi liệt cơ hồnh hô hấp bị

rối loạn nghiêm trọng, những bệnh của cơ hồnh có ảnh hưởng tới hoạt động của cơ

hồnh đều ảnh hưởng tới hô hấp.

Tăng chiều trước sau và chiều ngang:

Ở tư thế nghỉ ngơi, các xương sườn chếch ra trước và xuống dưới. Khi các

cơ hít vào co lại, xương sườn quay xung quanh một trục đi qua hai điểm khớp với



27



đốt sống và xương ức, làm cho xương sườn chuyển từ tư thế chếch xuống sang tư

thế nằm ngang hơn và đưa ra trước do đó tăng đường kính trước sau và đường kính

ngang của lồng ngực.

Các cơ liên sườn cũng đóng vai trò quan trọng trong việc làm tăng đường kính

trước sau và đường kính ngang của lồng ngực. Động tác hít vào là động tác tích cực vì

được thực hiện nhờ năng lượng co cơ của cơ hồnh và các cơ hít vào khác.

Do kích thước của lồng ngực được tăng lên theo cả ba chiều nên dung tích của

lồng ngực tăng lên, áp suất trong lồng ngực và trong phổi âm hơn giai đoạn trước khi

hít vào, tạo nên sự chênh lệch áp suất giữa mơi trường bên ngồi và phổi, khơng khí di

chuyển từ bên ngồi mơi trường vào phổi.

Như vậy động tác hít vào đã dẫn đến kết quả là khơng khí di chuyển từ ngồi

mơi trường vào phổi đến tận các phế nang.

Hít vào gắng sức: Nếu ta cố gắng hít vào hết sức thì có thêm một số cơ nữa

cũng tham gia vào động tác hít vào như cơ ức đòn chũm, cơ ngực, cơ chéo, đó là

những cơ hít vào phụ. Vì cần phải cố định đầu và tay để huy động các cơ hơ hấp phụ,

người hít vào gắng sức thường có một tư thế rất đặc biệt là cổ hơi ngửa, hai cánh tay

dang ra không cử động.

Trong động tác hít vào gắng sức, cơ hồnh tiếp tục hạ thấp hơn so với hít vào

thơng thường, có thể hạ thấp tới 7 - 8 cm, có thể làm tăng thể tích lồng ngực lên tới

1500 - 2000 cm3. Kết quả của động tác hít vào gắng sức là khơng khí có thể di

chuyển thêm vào phổi khoảng 1500- 2000 ml. Qua đây cũng thấy vai trò của cơ

hồnh trong các động tác hô hấp quan trọng đến mức nào. Cơ chế của sự tăng thơng

khí này là do sự huy động thêm các cơ hô hấp phụ và sự co tiếp tục của cơ hồnh làm

tăng dung tích phổi do đó làm cho áp suất trong ngực, phổi tiếp tục thấp hơn áp suất

bên ngồi mơi trường. Sự chênh lệch về áp suất làm cho khơng khí tiếp tục di chuyển

thêm từ ngồi mơi trường vào trong phổi đến các phế nang.

Động tác thở ra

Thở ra thông thường: Thở ra thông thường là một động tác thụ động vì nó

khơng đòi hỏi năng lượng co cơ, các cơ hít vào ở giai đoạn này khơng co nữa,



28



chúng giãn ra trở về vị trí cũ, làm cho lồng ngực được trở về vị trí ban đầu dưới tác

dụng của sức đàn hồi ngực phổi và sức chống đối của các tạng bụng. Các xương

sườn hạ xuống, các vòm hồnh lại lồi lên phía trên lồng ngực. Kết quả là dung tích

lồng ngực giảm làm cho áp suất của phổi tăng lên có tác dụng đẩy khơng khí từ

phổi ra ngồi mơi trường.

Động tác thở ra gắng sức: Khi cố gắng thở ra hết sức, cần huy động thêm

một số cơ nữa, chủ yếu là các cơ thành bụng. Những cơ này khi co lại kéo xương

sườn xuống thấp hơn nữa, đồng thời ép thêm vào các tạng ở bụng, dồn cơ hồnh lồi

thêm lên phía trên lồng ngực, làm cho dung tích lồng ngực tiếp tục giảm, áp suất

trong ngực phổi tăng lên thêm và kết quả là không khí tiếp tục được đẩy từ phổi ra

ngồi mơi trường. Động tác thở ra gắng sức cũng đòi hỏi năng lượng co cơ, do đó nó

cũng là một động tác hơ hấp tích cực

1.3.3. Rối loạn chức năng cơ hồnh

1.3.3.1. Rối loạn chức năng cơ hoành trong đợt cấp COPD

Trong đợt cấp COPD, có nhiều lý do gây tăng cơng hơ hấp cả thì thở vào và

thỉ thở ra. Trong thì thở vào, cơng hơ hấp tăng để thắng sức cản đường dẫn khí. Thì

thở ra bình thường là thụ động, nhưng trong đợt cấp COPD, các cơ hô hấp phải làm

việc gắng sức để thắng lại sức cản đường dẫn khí và độ chun của phổi giảm. PEEP

nội sinh (Auto-PEEP) góp phần quan trọng gây tăng cơng thở ra, tình trạng căng

phổi q mức làm cho cơ hồnh bẹt ra, vùng chêm (vùng tiếp xúc giữa cơ hoành và

thành ngực cuối thì thở ra) giảm xuống làm chức năng hoạt động của cơ hoành kém

hiệu quả [27]. Mặt khác việc sử dụng điều trị bằng liệu pháp corticoid, tình trạng

suy dinh dưỡng cũng làm giảm khả năng hoạt động của cơ hoành.

1.3.3.2. Rối loạn chức năng cơ hoành do thở máy

Thở máy thường được chỉ định trong những trường hợp bệnh nhân không đủ

khả năng tự đảm bảo quá trình thơng khí. Mặc dù thở máy có thể coi là một phương

án cứu sinh trong những điều kiện nhất định, nhưng thở máy lại dẫn tới hậu quả làm

suy nhược cơ hoành do teo cơ và giảm chức năng co bóp. Tác động bất lợi này của

thở máy trên cơ hoành được gọi là rối loạn chức năng cơ hoàng gây ra do thở máy



29



(VIDD) và VIDD là một đóng góp chính cho các vấn đề về cai thở máy ở bệnh

nhân thơng khí nhân tạo.

Lịch sử và tổng quan về VIDD

Sự hiểu biết về hiện tượng VIDD đã phát triển trong 25 năm bằng các nghiên

cứu mô tả chuyển thành các nghiên cứu nhằm tìm ra cơ chế của hiện tượng VIDD.

Nghiên cứu đầu tiên về thở máy kéo dài dẫn tới rối loạn chức năng cơ hoành được

công bố 25 năm trước. Nghiên cứu hồi cứu này chỉ ra rằng thở máy dẫn tới hậu quả

là các sợi tơ cơ của cơ hoành bị teo ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ phải hỗ trợ thở máy kéo

dài, nhưng chưa đưa ra được cơ chế tác bệnh sinh [45]. Nghiên cứu về tình trạng

teo cơ và rối loạn chức năng co bóp của cơ hồnh trên động vật gặm nhấm xuất hiện

năm 1994 [46]. Nghiên cứu này chỉ ra sau 48 giờ từ khi thở máy kiểm sốt sẽ xuất

hiên tình trạng giảm khối lượng và vận tốc co cơ hoành. Trên con người, tới năm

2008, nhiều nghiên cứu đã thực hiện và chứng minh khá rõ ràng thở máy dẫn tới

hậu quả teo cơ và rối loạn chức năng co bóp của cơ hồnh [47], [48]

Thở máy gây teo cơ hoành

Trên động vật: Các nghiên cứu thực hiện trên nhiều loài động vật báo cáo

rằng thở máy gây teo đáng kể sợi cơ hoành [49], [50], [51]

Trên người: có ba nghiên cứu độc lập đánh giá ảnh hưởng của thở máy kéo

dài liên quan đến teo cơ hoành. Teo các sợi tơ của cơ hoành xảy ra đáng kể ở những

bệnh nhân được thở máy hỗ trợ tồn bộ trong 24h, mức độ teo cơ có mối liên quan

vơi thời gian thở máy [52]. Ngoài ra các nghiên cứu sử dụng siêu âm đánh giá cơ

hoành chứng minh sự teo cơ hồnh xảy ra trong vòng 24 đến 48h sau thở máy hỗ

trợ hoàn toàn, đồng thòi xác nhận teo cơ hồnh xảy ra như một hàm tuyến tính với

thời gian thở máy với tỷ lệ teo trung bình mất 6% độ dày màng trên mỗi ngày thở

máy [47]. Hơn nữa, trên cả người và động vật, teo cơ hoành xảy ra ở cả thở máy hỗ

trợ toàn bộ cũng như hỗ trợ một phần [53]

Cơ chế bệnh sinh gây teo cơ hoành trong thở máy: Kích thước các sợi cơ

xương được điều chỉnh cân bằng giữa q trình tổng hợp và thối hóa Protein. Cụ

thể tăng co bóp làm tăng tổng hợp Protein, ngược lại, sự giảm hoạt động cơ hoành

lại giảm tổng hợp protein [54]. Sự suy giảm tổng hợp protein lúc đầu trong thở máy



30



hỗ tợ tồn bộ có thể do giảm q trình dịch mã Protein bởi các phân tử mARN

chuỗi nặng của sợi cơ Myosin [55] [56]

Giảm tổng hợp Protein

Bình thường: Q trình tổng hợp Protein của cơ kiểm sốt chủ yếu bới quá

trình dịch mã, qui định ngay tại thời điểm bắt đầu, con đường tín hiệu Akt/mTOR

(Con đường tín hiệu khởi động có tác dụng tăng sinh tế bào) được chỉ ra là một chìa

khóa quan trọng quy định quá trình dịch mã [57]. Cụ thể mTOR phức tạp typ I

(mTOR1) đóng vai trò quan trọng trong ít nhất hai bước khi bắt đầu dịch mã. Đầu

tiên, mTORC1 điều chỉnh mRNA liên kết với ribosome bằng cách kiểm soát tính

khả dụng của yếu tố khởi đầu sinh vật nhân chuẩn 4E (eIF4E). Khi phosphoryl hóa

bởi Akt, mTORC1 có thể gắn Phospho vào Protein bám elF4E (4E-BP1), một chất

ức chế cạnh tranh của eIF4E [58]. Phosphoryl hóa 4E-BP1 giải phóng eIF4E cho

phép hình thành ribosome chức năng. Hơn nữa, mTORC1 trực tiếp gắn phospho và

protein ribosome 70-kDa S6 kinase 1 (p70S6K1), Proein này sau đó gắn Phospho

tạo thành các thành phần cần thiết trong quá trình hình thành / bảo trì ribosome [59]

Bằng chứng mới đây từ cả thí nghiệm trên người và động vật cho thấy thở

máy kéo dài giảm kích hoạt Akt trong cơ hồnh do thiếu hụt phospho máu [45] dẫn

đến giảm phản ứng phosphoryl hóa của p70S6K1 và 4E-BP1 [60]. Toàn bộ hiểu

biết về cơ chế điều chỉnh Akt vẫn chưa rõ, nhưng khả năng bao gồm giảm IGF-1

hoặc các yếu tố tăng trưởng khác và / hoặc các yếu tố bên trong [57]. Thở máy kéo

dài dẫn đến giảm IGF-1 trong cơ hoành [53]. Tổng hợp những kết quả này cho thấy

sự gián đoạn của tín hiệu Akt / mTOR đóng một vai trò quan trọng trong giảm tổng

hợp Protein cơ hoành liên quan đến thở máy.

Thở máy làm tăng phân giải protein của cơ hoành: Các bằng chứng chứng

tỏ rằng thở máy tăng hoạt động của tât cả 4 hệ thống phân giải Protein của cơ hoành

ở cả người và động vật khi tiếp xúc với mày thở trên 12h [61], [62].



31



Hình 1.5. Minh họa dấu hiệu Akt Và mTOR gây giảm tổng hợp protein trong cơ

hoành khi thở máy

Thở máy gây ra rối loạn chức năng co bóp của cơ hồnh: Trong hai thập kỉ qua,

nhiều nghiên cứu đã báo cáo rằng thở máy dẫn tới rối loạn chức năng co bóp của cơ

hồnh. Cho đến nay, chỉ có hai báo cáo được xuất bản tồn tại liên quan đến tác động

của thở máy kéo dài lên sản xuất lực cơ hoành ở người. Trong cả hai nghiên cứu ,

việc sản xuất lực cơ hồnh được đánh giá trong cơ thể bằng kích thích từ tính của

dây thần kinh hồnh theo sau là đo hoặc áp lực xuyên cơ hoành hoặc thay đổi áp lực

trong nội khí quản như chỉ số của sản xuất lực cơ hoành. Cả hai báo cáo chứng

minh rằng thở máy kéo dài gây ra hiện tượng giảm sinh lực cơ hoành [52], [63].

Giống hệt với các cơ xương khác, sarcomere là yếu tố chức năng cơ bản của các sợi

cơ hoành. Trong sarcomere, sự tương tác giữa các protein sarcomeric (ví dụ: actin

và myosin) cung cấp đơn vị cơ bản để sản xuất lực. Mặc dù tác động của thở máy

kéo dài lên tính chất co bóp cơ hồnh được mơ tả rõ, cơ chế chịu trách nhiệm những

thâm hụt này vẫn chưa được biết rõ. Tuy nhiên, gần đây các nghiên cứu đã cung cấp



32



manh mối về các cơ chế tiềm năng chịu trách nhiệm về thiếu hụt lực co bóp do thở

máy gây ra bao gồm cả co bóp do stress oxy hóa, rối loạn chức năng và / hoặc tổn

thương sarcomere. Một nghiên cứu sử dụng mơ hình lợn cho thấy Thở máy kéo dài

dẫn đến giảm độ nhạy canxi của sợi cơ hoành [63], hoạt hóa canxi kém hiệu quả

của sợi cơ hồnh (nghĩa là, số lượng cầu nối myosin tương đối thấp hơn được đính

kèm ở trạng thái liên kết mạnh ở nồng độ canxi tối đa ). Cơ chế phân tử có trách

nhiệm sự suy giảm độ nhạy cảm này do thở máy gây ra trong cơ hồnh sợi cơ còn

chưa biết nhưng có thể liên kết với sự biến đổi oxy hóa của các protein co cơ hồnh

[64]. Một liên kết khác có thể xảy ra giữa q trình oxy hóa do thở máy gây ra rối

loạn chức năng co bóp là kết nối giữa ROS và kích hoạt calpain. Sản xuất ROS do

thở máy tạo ra trong cơ hoành thúc đẩy kích hoạt calpain. Hoạt động calpain có thể

làm suy giảm các protein quan trọng tham gia vào duy trì cấu trúc sarcomere dẫn

đến gián đoạn sarcomere, làm suy yếu khả năng tạo lực của cơ [58]. Như vậy, cơ

chế chính xác chịu trách nhiệm cho rối loạn chức năng co bóp cơ hồnh do thở máy

gây ra vẫn chưa rõ ràng.Tuy nhiên, có vẻ như nguyên nhân của rối loạn chức năng

co bóp cơ hồnh do thở máy bao gồm các biến đổi oxy hóa của các protein co cơ

dẫn đến giảm sự nhạy cảm của sợi cơ với canxi, protease kích hoạt dẫn đến gián

đoạn sarcomere và mất chuỗi protein nặng của sợi Myosin.

Tóm lại, rối loạn chức năng cơ hoành gây ra do thở máy bao gồm teo cơ và

rối loạn chức năng co bóp xảy ra sớm trong vòng 24 đến 48 giờ đầu tiên khi thở

máy. Thở máy kéo dài cũng gây tổn thương cho cơ hoành về kiến trúc sợi (tức là

cấu trúc sarcomere bị gián đoạn) và giảm hô hấp ty thể. Hơn nữa, thở máy tăng sản

xuất ty thể của ROS trong sợi cơ hồnh dẫn đến tổn thương oxy hóa các protein và

lipid cơ hoành, sự giảm tổng hợp protein và kích hoạt các hệ thống phân giải protein

chính trong cơ hoành, tăng tốc độ phân hủy protein và teo sợi. Rối loạn chức năng cơ

hoành do thở máy được nghiên cứu nhiều hiện nay là một nguyên nhân quan trọng

trong cai thở máy thất bại và được nỗ lực chứng minh như là một yếu tố tiên lượng tốt,

có giá trị chẩn đoán cao trong dự báo kết quả cai thở máy ở nhiều nhóm bệnh nhân.

1.4. Siêu âm đánh giá chức năng cơ hoành

1.4.1. Tổng quan về siêu âm đánh giá chức năng cơ hoành

trên thực hành lâm sàng



33



Siêu âm là phương tiện thăm dò hình ảnh đầu giường, có giá trị cao trong

việc theo dõi và chăm sóc các bệnh nhân nặng. Nhất là trong những tình huống

khẩn cấp, mà đòi hỏi có định hướng chẩn đốn hình ảnh đầy đủ bị ngăn cản như

bệnh quá nặng, không thể di chuyển tới địa điểm chụp Xquang... Siêu âm là một kỹ

thuật không xâm lấn, đã chứng minh là một phương thức đầu giường chính xác, an

tồn, dễ sử dụng, khắc phục nhiều giới hạn kỹ thuật hình ảnh chuẩn. Siêu âm đánh

giá chức năng cơ hoành ngày càng được xem trọng và nâng cao do tính khả thi, độ

chính xác trong chẩn đốn, điều trị các bệnh lý như đặc biệt nó tỏ ra là một tham số

rất hữu ích cho dự báo kết quả cai thở máy ở nhiều nhóm đối tượng. Đánh giá siêu

âm của cơ hoành gần đây đã bắt đầu phổ biến trong HSCC như là nhu cầu đánh giá

chức năng cơ hoành phát sinh trong nhiều tình huống lâm sàng. Chuyển động bất

thường của cơ hồnh được quan sát thấy trong các tình trạng như chấn thương dây

thần kinh hoành, bệnh thần kinh cơ [64], [65] sau phẫu thuật vùng bụng [24] hoặc

phẫu thuật tim [66] và ở những bệnh nhân nặng phải thở máy.

Chỉ định lâm sàng cho việc siêu âm đánh giá chức năng cơ hồnh

Có nhiểu chỉ định để đánh giá cơ hoành bằng siêu âm trong thực hành lâm

sàng: Như chăm sóc y tế, phẫu thuật hoặc các lĩnh vực chuyên sâu khác. Thông

thường, siêu âm được sử dụng để chấn đốn, nhưng cũng có trường hợp để hướng

dẫn cho các trường hợp khác như hướng dẫn đặt điện cực trong thăm dò điện cơ để

hạn chế tối đa tràn khí màng phổi [67]

1.4.2. Kỹ thuật siêu âm đánh giá cơ hoành [65]

Kỹ thuật siêu âm cơ hoành sử dụng hai loại đầu dò:

Đầu dò phẳng tuyến tính tần số cao 5-18 MHZ, thường dùng cho khơng

gian bên ngồi, độ phân giải không gian lớn, dùng để đánh giá độ dày co hồnh DT

Đầu dò hai mặt lồi tần số thấp 1-5MHz, độ phân giải khơng gian ít hơn,

thường dùng để quan sát sự di chuyển của cơ hoành (Đo biên độ cơ hoành DE).

2 phương pháp quan sát cơ hồnh bằng siêu âm

Phương pháp B-mode: cho hình ảnh theo thời gian thực

Phương pháp M-mode: hiển thị một chùm hình ảnh B-Mode trên trục y khi

nó thay đổi theo thời gian trên trục x, đánh giá một trang vị trí cụ thể theo thời gian

và có thể đánh giá sự di chuyển hay biên độ dao động của cơ hồnh.



34



Hình 1.6. Vùng siêu âm ứng dụng của cơ hồnh

Đánh giá độ dày cơ hoành bằng phương pháp B-mode

Bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa

Sử dung đầu dò phẳng tuyến tính tần số cao 10 MHz, đặt vng góc với

thành ngực vị trí khoang liên sườn 8-9 ở đường nách trước hoặc nách giữa. Đầu dò

đặt vng góc với thành ngực theo cấu trúc trục dài. Hình ảnh cơ hồnh được quan

sát là cấu trúc gồm 2 lớp trống âm ở giữa, bao quanh là hai lớp tăng âm song song

tương ứng vói màng phổi và phúc mạc. Khi đã thấy rõ hình ảnh cơ hồnh, Chuyển

chế độ B-mode. Độ dày cơ hoành được đo từ hai điểm đánh dấu cuối thì hít và cuối

thì thở ra. Các phép đo được thực hiện từ đường giữa của màng phổi tới đường giữa

của phúc mạc.



Hình 1.7. Đo độ dày cơ hồnh (DT) bằng phương pháp B-mode

Đo dày cơ hồnh bình thường được đưa ra là 1,8-3mm

Đánh giá biên độ dao động của cơ hoành bằng phương pháp M-mode

Bệnh nhân ở tư thế năm ngửa



35



Sử dụng đầu dò lồi hai mặt tần số 3,5 Hz, đặt phía dưới mạn sườn theo

đường nách trước bên phải và trái, hướng trực tiếp về phía đầu và phía lưng, sao

cho chùm siêu âm vng góc với góc phần ba phía trước cùa mỗi nửa cơ hoành.

Chuyển chế độ M-mode, sử dụng gan làm cửa sổ âm bên phải và lách bên trái, để

xác định chuyển động theo hai chiều trên một trục. Trong thì hít vào, cơ hồnh di

chuyển về phía đi đầu dò. Trong thì thở ra, cơ hồnh di chuyển ra xa đầu dò. Biên

độ cơ hồnh được xác định là chiều cao đo từ đường cơ sở đến điểm cao nhất của vị

trí hít vào trên hình ảnh.



Hình 1.8. Đo biên độ dao động cơ hoành (DE) bằng phương pháp M-mode

Giá trị bình thường của biên độ cơ hồnh được đưa ra 1.8 ± 0.3, 7.0 ± 0.6

cm cho nam, và 1.6 ± 0.3, 5.7 ± 1.0 cho nữ trong thở bình thường và thở sâu.

1.4.3. Một số nghiên cứu về siêu âm đánh giá cơ hoành trong

tiên lượng cai thở máy

Cơ hồnh là cơ chính tham gia vào q trình hơ hấp. Siêu âm với sự phát

triển vượt bậc và kỹ thuật và chất lượng hình ảnh đã cung cấp một một phương tiện

thăm dò đơn giản, hữu ích cho việc xác định, đánh giá chức năng cơ hoành, lần đầu

tiên được công bố bởi Cohen năm 1969 [65]. Một nghiên cứu tổng quan có hệ thống

[68] đã thống kê có 19 nghiên cứu thực hiện từ năm 2004 tới năm 2017 để đánh giá

về chức năng cơ hoàng bao gồm biên độ và độ dày cơ hoành với độ nhạy độ đặc

hiệu cao, có giá trị trên lâm sàng.

Nghiên cứu thuần tập của DiNino E và cộng sự năm 2014 [34] thực hiện tại hai

khoa HSCC của hai bệnh viện Memorial Hospital of Rhode Island và Rhode Island.

Nghiên cứu này đánh giá 63 bệnh nhân suy hô hấp do tất cả các nguyên nhân phải thở



36



máy xâm nhập, sẵn sàng cho cai thở máy với tuổi trung bình là 66 ± 19. Các bệnh nhân

này sau khi đủ các tiêu chuẩn đánh giá sẽ trải qua SBT hoặc thở PS. Độ dày cơ hoành

được đo ở thời điểm 5 phút khi SBT hoặc thở mode hỗ trợ PS bằng đầu dò thẳng tần số

7-10Hz. Tiêu chuẩn thất bại được định nghĩa là đặt lại ống trong 48h sau khi rút ống

NKQ. Kết quả, với DTF ≥ 30%, độ nhạy và độ đặc hiệu cho rút ống thành công lần

lượt là 88 và 71%. Giá trị dự đốn dương tính và âm tính là 91 và 63%.

Nghiên cứu thuần tập của Osman và cộng sự tại Ai Cập năm 2004 thực hiện

trên 68 bệnh nhân sau phẫu thuật có thở máy. Các bệnh nhân sau đủ tiêu chuẩn cai

thở máy sẽ ngắt kết nối với máy thở và tham gia SBT bằng ống Chữ T. Siêu âm

đánh giá cơ hoành về biện độ và độ dày được thực hiện suốt quá trình SBT. Kết quả,

giá trị cut-off của DE là 10 mm là và DTF là 28% , có giá trị tiên lượng kết quả cai

thở máy...

Bảng 1.3 tóm tắt các nghiên cứu chính về siêu âm đánh giá cơ hồnh trong

tiên lượng cai thở máy.

Bảng 1.3. Một số nghiên cứu về siêu âm cơ hoành trong tiên lượng cai thở máy

Nghiên cứu



Quốc gia



Thiết kế nghiên cứu



Ali 2017 [69]



Ai cập



Thuần tập



Baess 2016 [70]



Ai cập



Thuần tập



Blumhort 2016 [71]

Carrie 2017 [72]

Dinino 2014 [34]



Mỹ

Pháp

Mỹ



Thuần tập

Thuần tập

Thuần tập



Farghaly 2016 [73]



Ai cập



Thuần tập



Fayed 2016 [11]

Ferrari 2014 [35]

Flevari 2016 [74]

Jiang 2014 [75]

Kim 2011 [66]



Ai cập

Ý

Hi Lạp

Đài loan

Hàn quốc



Thuần tập

Thuần tập

Thuần tập

Thuần tập

Thuần tập



Osman 2004 [36]



Ai cập



Thuần tập



Spadaro 2016 [76]

Saeed 2016 [77]



Ý

Ai cập



Thuần tập

Thuần tập



Giá trị Cut-off

DTF >30%

DE >1.5 cm

DTF ≥30%

DE >1 cm

DTF >20%

DE >2.7 cm

DTF≥ 30%

DTF ≥34.5%

DE ≥1.5 cm

DTF >29%

DTF >36%

DE≥ 1 cm

DE ≥1.1 cm

DE <1,4 cm

DTF≥ 28%

DE≥ 1 cm

DE>1.4 cm

DE ≥ 1,1 cm



CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phương pháp thông khí hỗ trợ áp lực (PSV)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×