Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 1.4: Chỉ định của test đi bộ 6 phút

Bảng 1.4: Chỉ định của test đi bộ 6 phút

Tải bản đầy đủ - 0trang

18



Sau phẫu thuật ghép phổi hoặc cắt phổi

Phẫu thuật làm giảm thể tích phổi

Phục hồi chức năng hơ hấp

Điều trị nội khoa bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Tăng áp phổi

Suy tim

Đánh giá triệu chứng cơ năng tại một thời điểm

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Xơ phổi

Suy tim

Bệnh mạch máu ngoại biên

Bệnh nhân cao tuổi

Dự báo khả năng nhập viện và tỷ lệ tử vong

Suy tim, bệnh phổi mạn tính hoặc tăng áp phổi

CHỐNG CHỈ ĐỊNH

Chống chỉ định tuyệt đối:

- Tiền sử ĐTNKOĐ hoặc NMCT mới xảy ra trong vòng 1 tháng.

Chống chỉ định tương đối:

- Nhịp tim lúc nghỉ > 120ck/p

- Huyết áp tâm thu > 180mmHg

- Huyết áp tâm trương > 100mmHg.

Đối với những bệnh nhân có các chống chỉ định tương đối cần hỏi lại ý

kiến bác sĩ điều trị về chỉ định thực hiện test đi bộ 6 phút. Cần tham khảo kết

quả điện tim đã làm trong 6 thắng vừa qua của bệnh nhân.

Khơng có chống chỉ định thực hiện test đi bộ 6 phút ở bệnh nhân đau

ngực ổn định. Tuy nhiên bệnh nhân phải được dùng các thuốc giãn vành trước

khi tham gia test.

TÍNH AN TỒN



19

- Địa điểm thực hiện test phải bố trí ở nơi có khả năng tiếp cận nhanh

chóng với các phương tiện cấp cứu.

- Thuốc và phương tiện cần có: oxy, nitroglycerin ngậm dưới lưỡi,

aspirin, albuterol xịt định liều hoặc khí dung, điện thoại gọi trợ giúp cấp cứu.

- Kỹ thuật viên hướng dẫn thực hiện test đi bộ 6 phút phải thành thạo các

kỹ năng hồi sinh tim phổi cơ bản, khuyến khích biết hồi sinh tim phổi nâng cao.

- Bác sĩ điều trị hoặc bác sĩ ra chỉ định khơng cần thiết phải có mặt trong

khi bệnh nhân thực hiện test.

- Trong trường hợp bệnh nhân đang duy trì oxy liệu pháp liên tục ở nhà,

cần tiếp tục cho bệnh nhân dùng oxy với liều tương tự hoặc theo chỉ định của

bác sĩ.

- Lập tức dừng test đi bộ khi bệnh nhân có một trong các triệu chứng

sau: (I) đau ngực, (2) khó thở khơng dung nạp được, (3) chuột rút chân, (4)

chống, (5) vã mồ hơi, (6) vẻ mặt tái nhợt.

- Kỹ thuật viên hướng dẫn thực hiện test phải có khả năng nhận biết các

triệu chứng trên và có khả năng xử trí kịp thời: dừng test, cho bệnh nhân ngồi

hoặc nằm nghỉ, đo các thông số mạch, huyết áp, SpO2, cho thở oxy nếu cần thiết.

CÁC LƯU Ý VỀ MẶT KỸ THUẬT

Địa điểm:

Nơi thực hiện test đi bộ là một hành lang dài, thẳng, bằng phẳng, vắng

người qua lại. Có thể tiến hành ngồi trời nếu điều kiện thời tiết cho phép. Lối

đi nên dài tối thiểu 30m. Đánh dấu điểm xuất phát bằng một đường kẻ đỏ

đậm, đánh dấu chia vạch mỗi 3 mét ở cuối lối đi nên cắm cột mốc báo hiệu vị

trí quay đầu.

Đi bộ trên thảm chạy giúp tiết kiệm không gian tuy nhiên không được

khuyến cáo áp dụng trong test đi bộ 6 phút do có nhiều yếu tố gây sai số.

Trong một nghiên cứu trên các bệnh nhân có bệnh phổi nặng quãng đường



20

bệnh nhân đi được trên thảm chạy trong 6 phút ngắn hơn 14% so với đi bộ

trên hành lang do bệnh nhân không tự điều chỉnh được tốc độ bước đi của

mình. Đồng thời quãng đường đi được trên thảm chạy cũng có sự dao động

rất lớn (120m - 390m) giữa các bệnh nhân do không quen sử dụng thảm chạy

so với quãng đường đi được là 360m khi đi bộ trên hành lang. Vì vậy kết quả

đi bộ 6 phút trên thảm chạy không thể thay thế cho kết quả đi bộ trên hành

lang bình thường.

Phương tiện cần có:

1. Đồng hồ đếm ngược 6 phút

2. Thiết bị điện tử đếm số vòng đi được.

3. Hai cột mốc nhỏ để đánh dấu vị trí quay đầu.

4. Ghế ngồi cho bệnh nhân tại vị trí gần vạch xuất phát

5. Bảng kiểm.

6. Nguồn oxy.

7. Máy đo huyết áp.

8. Điện thoại liên lạc cấp cứu

9. Máy khử rung tự động (AED)

Chuẩn bị bệnh nhân

1. Trang phục nhẹ nhàng, dễ cử động.

2. Nếu bệnh nhân phải dùng gậy khi đi lại, vẫn cho bệnh nhân tiếp tục

dùng gậy khi thực hiện test.

3. Tiếp tục dùng các thuốc đang sử dụng hàng ngày

4. Có thể ăn nhẹ trước buổi test đầu giờ sáng hoặc đầu giờ chiều

5. Bệnh nhân không nên gắng sức mạnh trong vòng hai giờ trước khi

thực hiện test đi bộ.

Quy trình thực hiện test đi bộ 6 phút



21

1. Nếu làm test nhiều lần nên thực hiện vào cùng một thời điểm trong

ngày để giảm thiểu các sai số gây ra do nhịp ngày đêm.

2. Không cần có giai đoạn khởi động trướckhi thực hiện test.

3. Cho bệnh nhân ngồi nghỉ trên ghế gần vị trí xuất phát trước khi tham

gia test 10 phút. Trong thời gian đó, kiểm tra lại các chống chỉ định, đo mạch,

huyết áp, trang phục hồn thành đầy đủ các thơng tin ở trang đầu của bảng

kiểm.

4. Có thể đo bão hòa oxy mao mạch tại thời điểm trướckhi đi bộ

5. Cho bệnh nhân đứng dậy, đánh giá mức độ khó thở và mức độ mệt

mỏi chung của bệnh nhân tại thời điểm xuất phát theo thang điểm Borg.

6. Cài đặt thiết bị đếm số vòng đi được Ở giá trị 0 và đồng hồ đếm ngược ở

giá trị 6 phút. Tập hợp tất cả các phương tiện cần thiết và đi đến vạch xuất phát.

7. Giải thích cách thực hiện test cho bệnh nhân:

“Mục tiêu của test đi bộ là bạn sẽ cố gắng đi bộ quãng đường càng dài

càng tốt trong vòng 6 phút. Bạn sẽ bắt đầu tại điểm xuất phát đi bộ đến vị trí

cột mốc 30m, sau đó nhanh chóng quay ngược lại và đi bộ trở lại vị trí xuất

phát. Tiếp tục đi lặp lại quãng đường vừa đi cho đến khi hết thời gian. Trong

quá trình đi bộ, bạn có thể tăng giảm tốc độ, có thể dừng lại nghỉ, nhưng cần

nhanh chóng đi bộ trở lại ngay khi có thể để đảm bảo quãng đường đi được là

dài nhất có thể. Bạn có thể dừng hẳn nếu thấy không đủ sức tiếp tục đi".

Sau dó kỹ thuật viên sẽ đi bộ mẫu một vòng cho bệnh nhân xem.

8. Cho bệnh nhân đứng tại vị trí xuất phát. Kỹ thuật viên cũng nên đứng

gần vị trí xuất phát trong q trình thực hiện test. Khơng nên đi bộ cùng bệnh

nhân. Bấm giờ ngay khi bệnh nhân bắt đầu xuất phát.

9. Khơng nói chuyện với bệnh nhân trong quá trình thực hiện test. Tập

trung theo dõi bệnh nhân để đếm đúng sổ vòng bệnh nhân đi được. Khuyến

khích bệnh nhân bằng những câu đã được chuẩn hứa với giọng nói thích hợp,



22

khơng nên sử dụng cụm từ khác hoặc ngôn ngữ cơ thể để cổ vũ bệnh nhân

trong quá trình đi bộ vì sẽ ảnh hưởng đến quãng đường đi được:

Sau phút đầu tiên: “Bạn đã làm rất tốt, bạn còn 5 phút nữa"

Sau phút thứ hai : “Hãy tiếp tục đi bộ, bạn còn 4 phút nữa"

Sau phút thứ ba: “Bạn làm tốt lắm, bạn đã hoàn thành được nửa thời gian"

Sau phút thứ tư: “Hãy tiếp tục việc đi bộ của bạn, bạn chỉ còn hai phút nữa”.

Sau phút thứ năm: “Bạn đang làm rất tốt, bây giờ bạn chỉ còn 1 phút nữa thôi"

Nếu bệnh nhân thấy cần dừng lại nghỉ trong khi thực hiện test, nói với

bệnh nhân họ có thể ngồi nghỉ nhưng hãy nhanh chóng đứng lên đi tiếp ngay

khi có thể đồng thời vẫn tiếp tục bấm giờ khi bệnh nhân ngồi nghỉ. Nếu bệnh

nhân ngừng hẳn khi chưa hết 6 phút, ghi vào bảng kiếm thời điểm dừng, lý do

dừng đi bộ và quãng đường đi được.

Nếu bệnh nhân vẫn tiếp tục đi, khi đồng hồ báo còn 15 giây, nhắc bệnh

nhân như sau: "Chỉ trong giây lát nữa tôi sẽ bảo bạn dừng đi bộ, ngay khi tơi

nói hãy dừng lại và đứng ngun tại vị trí, tôi sẽ đi lại chỗ bạn đứng".

Khi đồng hồ hết giờ, ra hiệu cho bệnh nhân đứng lại đồng thời đi lại phía

bệnh nhân nếu thấy bệnh nhân quá mệt có thể mang cho bệnh nhân ghế ngồi.

Đánh dấu vị trí đứng của bệnh nhân.

10. Đánh giá lại mức độ mệt và mức độ khó thở dựa trên bảng điểm

Borg, đồng thời hỏi bệnh nhân "Có điều gì cản trở làm bệnh nhân khơng đi xa

thêm được”.

11. Nếu có thiết bị đo độ bão hòa oxy, đo lại bão hòa oxy mao mạch và

tần số tim của bệnh nhân sau khi kết thúc test.

12. Ghi lại số vòng bệnh nhân đi được và quãng đường đi thêm được ở

vòng cuối cùng, quy ra số mét đi được trong 6 phút.

13. Chúc mừng bệnh nhân đã cố gắng hoàn thành test và mời bệnh nhân

uống nước nếu có nhu cầu.



23

Bảng 1.5. Thang điểm Borg

o

Khơng cảm thấy khó thở/mệt

.5

Cảm thấy khó thở/mệt rất rất ít

1

Cảm thấy khó thở/mệt rất ít

2

Cảm thấy khó thở/mệt ít

3

Cảm thấy khó thở/mệt mức độ trung bình

4

Cảm thấy khó thở/mệt hơi nhiều

5

Cảm thấy khó thở/mệt nhiều

6

7

Cảm thấy khó thở/mệt rất nhiều

8

9

10

Cảm thấy khó thở/mệt rất rất

SỰ BẢO ĐẢM VỀ CHẤT LƯỢNG

Các sai số trong quá trình thực hiện test nên cố gắng tránh càng nhiều

càng tốt. Để làm được điều này nên tuân thủ các tiêu chuẩn đã nêu trong quy

trình thực hiện test.

Bảng 1.6. Các sai số có thể gặp của test đi bộ 6 phút

Các yếu tố làm giảm quãng đường đi được:

· Bệnh nhân lùn

· Bệnh nhân cao tuổi

· Bệnh nhân thừa cân, béo phì

· Bệnh nhân nữ

· Bệnh nhân có suy giảm nhận thức

· Hành lang đi bộ ngắn hơn quy định (phải quay đầu nhiều)

· Bệnh nhân bị bệnh phổi mạn tính, hen phế quản, xơ nang phổi, bệnh

phổi kẽ.

· Bệnh nhân có bệnh lý tim mạch: đau ngực, NMCT, suy tim, đột quị,



24

bệnh động mạch ngoại vi.

· Các bệnh lý cơ xương: viêm khớp, chấn thương mắt cá, đầu gối, khớp

háng, teo cơ…

Các yếu tố làm tăng quãng đường đi được:

· Bệnh nhân cao

· Nam giới

· Tính cách năng động

· Bệnh nhân đã từng tham gia test đi bộ trước đó

· Bệnh nhân có bệnh nhưng đã được uống thuốc ngay trước khi thực hiện test.

· Bệnh nhân có tình trạng thiếu oxy khi gắng sức nhưng được cung cấp

oxy đẩy đủ.



PHIÊN GIẢI KẾT QUẢ

Test đi bộ 6 phút được chỉ định ở bệnh nhân tại thời điểm trước và sau

can thiệp điều trị, vì vậy câu hỏi đầu tiên cần trả lời sau hai test là bệnh nhân

có cải thiện rõ rệt về mặt lâm sàng không.

Trong điều kiện test được thực hiện đúng tiêu chuẩn do một kỹ thuật viên

hướng dẫn và có đi bộ thủ trướckhi thực hiện test cho thấy test có khả năng phản

ánh khá chính xác sự thay đổi về triệu chứng cơ năng. Cho đến khởi điểm hiện

tại các khuyến cáo vẫn nhất trí đánh giá dựa vào giá trị tuyệt đôi của quãng

đường thay đổi trướcvà sau điều trị để phản ánh hiệu quả điêu trị.

* Siêu âm Doppler.

Là một thăm dò khơng chảy máu giúp chẩn đoán bệnh động mạch chi

dưới [4], [5], [58], [70].

Hình ảnh siêu âm Doppler động mạch chi dưới bình thường.



25

Trên siêu âm 2D, động mạch được thăm dò có dạng hai đường thẳng

song song nhau, đập theo nhịp tim.

Thành động mạch đều, nhẵn, bao gồm ba lớp đi từ phía trong lòng động

mạch ra:

- Đường trong cùng mịn, mảnh, đậm âm, tương ứng với phản hồi của

sóng siêu âm lên bề mặt nội mạc mạch máu.

- Đường ở giữa giảm âm, tương ứng với bề dày lớp nội- trung mạc.

- Đường ngoài cùng khá dày, đậm âm hơn lớp trong, tương ứng với lớp

ngoại mạc.

Trên siêu âm Doppler xung:

Phổ Doppler động mạch chi dưối khi nghỉ có dạng tăng sức cản ngoại vi

với hình ảnh ba pha đặc trưng:

- Một đỉnh tâm thu nét và hẹp, bao gồm thành phần tâm thu dốc lên và

thành phần cuối tâm thu dốc xuống nhanh.

- Một phổ âm đầu tâm trương, phản ánh sức cản ngoại vi lớn.

- Một sóng dương phản hồi, không hằng định, với một vài dao động phía

sau, phản ánh sức đàn hồi tốt của động mạch (ở người trẻ).

 Khi thực hiện nghiệm pháp gắng sức, phổ Doppler động mạch chi

dưới thay đổi một cách đối xứng:

- Vận tốc đỉnh tâm thu tăng.

- Thời gian đạt vận tốc tâm thu tối đa giảm với thành phần dốc lên dốc

đứng hơn nữa.

- Xuất hiện phổ tâm trương dương.

Hình ảnh siêu âm Doppler động mạch chi dưới bị tổn thương.



26

Đối với tổn thương hẹp.

Trên siêu âm Doppler xung khi nghỉ:

- Sự tăng tốc và phân tán của phổ Doppler tại vị trị trí hẹp: tăng vận tốc

tâm thu tối đa là dấu hiệu đầu tiên của hẹp động mạch.

- Tín hiệu âm thanh tại vị trí hẹp có dạng tiếng rít sắc nhọn.

- Sự gia tăng vận tốc tối đa phụ thuộc vào mức độ hẹp của lòng mạch,

tuy nhiên khi hẹp trên 70% lòng mạch thì có sự chuyển hướng theo chiều

ngược lại do giảm lưu lượng tuần hoàn.

- Theo quy ước, vận tốc tâm thu tối đa lớn hơn hoặc bằng 2m/s tương

ứng với mức độ hẹp lòng mạch trên 70%.



Dấu hiệu gián tiếp

- Dấu hiệu gián tiếp phản ánh huyết động của tổn thương đối với động



mạch sau vị trí hẹp. Dấu hiệu gián tiếp càng rõ ràng chứng tỏ hẹp càng trầm

trọng. Tuy nhiên còn phụ thuộc vào tuần hồn bàng hệ và mức độ giãn của động

mạch phía hạ lưu. Đối với mức độ tổn thương thì có biểu hiện khác nhau (ví dụ

trong hẹp nhẹ dưới 50% lòng động mạch, dấu hiệu gián tiếp là giảm tốc độ tâm

thu tối đa do giảm lưu lượng tuần hoàn, chỉ số mạch đập giảm; trong hẹp khít

trên 70% lòng động mạch, dấu hiệu gián tiếp là: phổ Doppler dạng một pha sau

hẹp có dạng vòm, Vmax tâm trương rất giảm, thời gian tâm thu tối đa kéo dài,

sóng phản hồi đầu tâm trương mất, hoặc thay thế bởi một phổ dương của sóng

tâm trương).

- Tín hiệu Doppler phía trước vị trí hẹp được đặc trưng bởi sóng tâm thu-tâm

trương do tăng sức cản ngoại vi: chỉ số sức cản và chỉ số mạch đập tăng.



27

Hình ảnh siêu âm 2D và Doppler màu:

Siêu âm Doppler màu giúp khẳng định và phân tích rõ hơn những tổn

thương phát hiện được trên Doppler liên tục.

Những biến đổi đặc trưng của tổn thương hẹp động mạch gồm:

- Trong lòng động mạch tại vị trí hẹp: phổ Doppler màu tăng sáng, với dấu

hiệu aliasing ở nơi hẹp nhất, phản ánh sự tăng vận tốc của dòng máu (dòng rối).

- Ngay sau vị trí hẹp: có thể quan sát thấy phổ Doppler màu có dạng

khảm (mosaic) do dòng rối, có thể kèm theo hình ảnh artefact quanh mạch

máu do dòng chảy bị hẹp gây rung các cấu trúc mô lân cận.

Siêu âm Doppler giúp phân tích kỹ đặc điểm mảng xơ vữa hơn siêu âm

2D: mảng xơ vữa giảm âm (mảng xơ mỡ hay huyết khối), mảng xơ vữa có

những vùng mất liên tục (loét trong mảng xơ vữa).



Đối với tổn thương tắc.

Trên siêu âm 2D, tổn thương tắc nghẽn lòng động mạch biểu hiện bằng

hình ảnh âm gây lấp lòng mạch:

- Huyết khối mới gây tắc động mạch thường có hình ảnh nhạt âm.

- Huyết khối cũ gây tắc mạn tính thường có hình ảnh đậm âm và vơi hố.

Việc đánh giá khá khó khăn nếu tổn thương thun tắc là nhạt âm, đối

với trường hợp này chỉ có thể kết luận sau khi đã thăm dò tồn bộ động mạch

đang nghiên cứu.

Sự vơi hố động mạch có thể làm việc đánh giá khó khăn hơn.

Trên siêu âm Doppler màu, tổn thương tắc thể hiện bằng:

- Hình ảnh sẫm, tối, mất tín hiệu màu trong lòng động mạch bị tắc.



28

- Sự lan truyền sóng động mạch và sự phản hồi tại vị trí tắc gây ra hình



ảnh siêu âm xen kẽ hai màu đỏ và xanh. Sự đảo ngược phổ màu nói trên

ngay sát vị trí tắc cần được thăm dò kỹ vì có thể là sự thay đổi dòng chảy

liên quan đến hướng của một nhánh tuần hồn bàng hệ.

Hình ảnh siêu âm Doppler xung:

Dấu hiệu trực tiếp: Tín hiệu "âm tính" tức là khơng còn tín hiệu Doppler

trong lòng động mạch tại vị trí tắc.

Dấu hiệu gián tiếp:

- Ở phía trên vị trí động mạch bị tắc: cũng giống như tín hiệu ghi được

trong hẹp động mạch – chỉ số sức cản ngoại vi và chỉ số mạch đập đều tăng.

- Ở phía sau vị trí động mạch bị tắc: khơng có tín hiệu Doppler trong lòng

động mạch nếu như tuần hoàn bàng hệ chưa phát triển tại thời điểm thăm dò.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 1.4: Chỉ định của test đi bộ 6 phút

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×