Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trong tất cả các nghiên cứu trong nước kể trên, tỷ lệ bệnh nhân UNBN có nguồn gốc từ chửa trứng đều chiếm >75%. Điều này cho thấy vai trò cấp thiết của việc quản lý nhóm bệnh nhân sau chửa trứng để phát hiện được sớm các biến chứng UNBN.

Trong tất cả các nghiên cứu trong nước kể trên, tỷ lệ bệnh nhân UNBN có nguồn gốc từ chửa trứng đều chiếm >75%. Điều này cho thấy vai trò cấp thiết của việc quản lý nhóm bệnh nhân sau chửa trứng để phát hiện được sớm các biến chứng UNBN.

Tải bản đầy đủ - 0trang

83



Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đương với kết quả của Phạm

Huy Hiền Hào và CS(2013), nhóm thời gian tiềm ẩn <4 tháng chiếm 80,7%,

từ 4-7 tháng là 9% và nhóm từ trên 13 tháng là 7,3% [123].

So sánh với kết quả nghiên cứu của Đoàn Anh Đức (2014) thời gian

tiềm ẩn <4 tháng chiếm 90,4%[118]. Kết quả này cao hơn kết quả của chúng

tôi do nghiên cứu thực hiện trên nhóm đối tượng UNBN nguy cơ thấp trong

khi các bệnh nhân nguy cơ cao thì thường sẽ có thời gian tiềm ẩn kéo dài.

Đối với nhóm bệnh nhân UNBN xuất hiện sau chửa trứng, do đặc điểm

của biến chứng UNBN chủ yếu xuất hiện trong 3 tháng đầu tiên sau chửa

trứng nên nếu bệnh nhân được theo dõi đầy đủ sau chửa trứng có khả năng sẽ

phát hiện được hết các biến chứng sớm.

4.1.2.4.Địa bàn sinh sống

Yếu tố nghề nghiệp và nơi sinh sống của bệnh nhân có liên quan đến tỷ

lệ mắc bệnh NBN còn chưa rõ ràng. Nghiên cứu dịch tễ học bệnh NBN thực

hiện tại Vương quốc Anh cho thấy yếu tố chủng tộc quan trọng hơn yếu tố địa

lý. Bằng chứng là những phụ nữ sinh sống ở Anh quốc mà có nguồn gốc châu

Á có nguy cơ mắc chửa trứng và UNBN cao hơn rõ rệt so với những phụ nữ

bản xứ (Tham B.L.W. và CS, 2003)[17]. Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của Lê

Điềm và CS (1982) thực hiện ở Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng, tỷ lệ bệnh

nhân bị chửa trứng làm nghề nông cao gấp đôi các đối tượng khác [112].

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy bệnh nhân là nông dân

chiếm tỷ lệ 90/201 ứng với 44,8%, bệnh nhân sống ở nông thôn và miền núi

chiếm 158/201 ứng với 78,6%. Kết quả này cũng phù hợp với kết quả nghiên

cứu của Đoàn Anh Đức và CS(2013): người bệnh là nơng dân có tỷ lệ mắc

bệnh UNBN cao nhất (41,2%)[118].

Rõ ràng, tỷ lệ bệnh nhân UNBN là nơng dân, sống ở nơng thơn cao

cũng hồn tồn hợp lý vì những bệnh nhân này thường có mức thu nhập và



84



điều kiện sống thấp hơn, phải làm việc vất vả hơn những nhóm nghề khác.

Thêm vào đó, trong điều kiện sản xuất nông nghiệp ở nước ta hiện nay, những

đối tượng này phải tiếp xúc với môi trường độc hại do hố chất nên số bệnh

nhân thuộc nhóm nghề nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao là phù hợp.

4.1.2.5. Nồng độ βhCG huyết thanh

Từ những năm 50 của thế kỷ trước, các nhà khoa học đã phát hiện ra

hCG là hormon glycoprotein duy nhất do nguyên bào nuôi chế tiết ra, đặc biệt

βhCG được coi là một chất chỉ điểm đặc biệt phản ánh chính xác sự hiện diện

và mức độ hoạt động của các NBN trong cơ thể tại thời điểm đó.

Hiện nay, xét nghiệm định lượng nồng độ βhCG trong huyết thanh của

người bệnh được thực hiện một cách dễ dàng, cho kết quả chính xác. Do đó,

việc theo dõi diễn biến nồng độ βhCG huyết thanh là yếu tổ quan trọng nhất

đánh giá tiến triển của bệnh và kết quả điều trị [126], [127]. Nồng độ βhCG

huyết thanh tại thời điểm phát hiện biến chứng UNBN là mộtyếu tố tiên lượng

bệnh. Nồng độ càng cao phản ánh lượng tế bào u trong cơ thể nhiều là yếu tố

tiên lượng xấu.

Theo Đoàn Anh Đức và CS (2014), nồng độ βhCG huyết thanh lúc

trước điều trị ≥ 40.000 đơn vị/L là yếu tố làm nguy cơ kháng thuốc tăng 1,7

lần so với nhóm có nồng độ βhCG huyết thanh lúc trước điều trị < 40.000 IU/l

với OR = 1,7; 95% CI: 1,1-2,9 [118].

Theo kết quả nghiên cứu của chúng tơi, nồng độ βhCG huyết thanh

trung bình của bệnh nhân UNBN trước điều trị là 99.900 ± 264.000 IU/l. Giá

trị thấp nhất là 9 và cao nhất là 2.500.000 IU/l.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương đương với kết quả của

Đoàn Anh Đức (2013), nồng độ βhCG huyết thanh trung bình lúc trước điều

trị là 116.800 ± 210.852 IU/l.

Giá trị nồng độ βhCG huyết thanh của bệnh nhân UNBN thường được

phân chia theo các mốc giá trị cụ thể để tính điểm nguy cơ. Kết quả nghiên



85



cứu của chúng tơi về tỷ lệ bệnh nhân có nồng độ βhCG huyết thanh theo các

mốc giá trị so sánh với của tác giả khác cũng cho kết quả tương tự.

Bảng 4.3. So sánh phân bố nồng độ hCG với các tác giả khác

Tỷ lệ bệnh nhân có βhCG huyết thanh (%)

STT Tác giả



Năm



3



<10 IU/l



1034



<10 IU/l



104-<105IU/l ≥105IU/l



Phạm Huy

1



Hiền Hào



2013



44



18,1



33,1



1,2



2018



31,8



20,9



29,4



17,9



[116]

2



Kết quả nghiên

cứu



4.1.2.6. Vị trí di căn

Khác với những ung thư biểu mơ khác ở người, UNBN là một hình thái

u tương đối đặc biệt không chỉ bởi nguồn gốc u là từ mơ lai ghép mà cả tính

chất di căn đặc biệt của u. Bằng nhiều nghiên cứu, các nhà khoa học đã chứng

minh được UNBN di căn theo đường máu từ giai đoạn sớm, bên cạnh đó

UNBN vẫn mang đầy đủ tính chất của một khối u ác tính thực sự đó là tính

chất xâm lấn tại chỗ và phá hủy tổ chức xung quanh.

Chính vì vậy, trong tất cả các bảng phân loại của WHO hay FIGO, yếu

tố di căn ln là một trong những yếu tố quan trọng góp phần phân loại, xếp

giai đoạn và tiên lượng bệnh.

Theo nghiên cứu của chúng tơi, tỷ lệ bệnh nhân có di căn ngoài tử cung

là 25/201 tương 12,4% tổng số bệnh nhân. Trong đó di căn phổi gặp nhiều

nhất chiếm tỷ lệ 75% các vị trí. Các vị trí di căn khác như ở não, gan, thận ít

hơn chỉ gặp 1-2 bệnh nhân. Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của

Phạm Huy Hiền Hào [116] và Đoàn Anh Đức và CS [118].



86



Bảng 4.4. So sánh các vị trí di căn với các tác giả khác

STT



Tác giả



Năm



Tỷ lệ các vị trí di căn (%)

Phổi



Âm đạo



Não



Gan



1



Phạm Huy Hiền

Hào [116]



2004



37,9



13,8



2,9



1,5



2



Tơn Nữ Tuyết Trinh

[24]



2003



56,3



26,4



2,3



4,6



3



Đoàn Anh Đức và

CS[118]



2013



45



55



4



Kết quả nghiên cứu



2018



59,3



22,2



7,4



3,7



4.1.2.7. Chỉ định cắt tử cung - Kết quả giải phẫu bệnh lý

UNBN xuất hiện sau thai nghén, do vậy tử cung là nơi xuất phát của

bệnh. Việc cắt tử cung giúp loại bỏ các ổ NBN còn lại ở tử cung, đặc biệt các

trường hợp có nhân di căn tại tử cung. Tuy nhiên, do tác dụng ngày càng hiệu

quả của hóa chất toàn thân đã làm thay đổi hướng tiếp cận điều trị với nhóm

bệnh này. Chỉ định cắt tử cung trong điều trị UNBN chỉ còn áp dụng chủ yếu

cho nhóm đối tượng bệnh nhân lớn tuổi, đủ con, kháng thuốc và có nguy cơ

chảy máu [128]. Cắt bỏ tử cung trong UNBN giúp giảm lượng hóa chất dùng

cho bệnh nhân, từ đó giảm được độc tính của hóa chất.

Fang J. và cộng sự (2012) nghiên cứu về chỉ định cắt tử cung ở nhóm

đối tượng UNBN nguy cơ cao cho thấy đơi khi việc cắt tử cung vẫn là có lợi

hơn ở một số bệnh nhân. Mặc dù di căn ở tiểu khung và phổi không phải là

chống chỉ định tuyệt đối của phẫu thuật cắt tử cung, chỉ định cắt tử cung nói

chung cũng khơng nên đặt ra khi đã có di căn xa ngồi tiểu khung và phổi

[92].



87



Trong tổng số 201 bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi, số

bệnh nhân phải cắt tử cung cũng là số bệnh nhân có kết quả giải phẫu bệnh

chiếm 96/201, ứng với 47,8%.

Kết quả giải phẫu bệnh là CTXL chiếm 50%, UTNBN chiếm 27,1%.

Kết quả này cũng tương đương với kết quả nghiên cứu của Phạm Huy Hiền

Hào (CTXL 48,4%,UTNBN 22,2%, cắt tử cung 54/166) [116] và Đoàn Anh

Đức (CTXL 65%, UTNBN 28,9% cắt tử cung 63%) [118].

4.1.2.8. Hóa chất

MTX lần đầu tiên được đưa vào điều trị bệnh NBN từ năm 1956 đến

nay. Đây là hóa chất quan trọng nhất, được sử dụng trong nhiều loại phác đồ

đơn và đa hóa chất để điều trị các giai đoạn bệnh khác nhau trên lâm sàng.

MTX đã làm thay đổi tiên lượng của bệnh NBN [129]. Nhóm bệnh nhân được

chỉ định phác đồ đa hóa chất ngay từ đầu trong nghiên cứu chiếm tỷ lệ là

20,9%, ứng với 42 bệnh nhân. Số này bao gồm những bệnh nhân khi chẩn

đoán UNBN được xếp vào nhóm nguy cơ cao và những bệnh nhân UNBN tái

phát quay trở lại khoa điều trị. Việc sử dụng phác đồ đa hóa chất như EMA –

CO và EMA – EP cũng gây nhiều tác dụng phụ như: thiếu máu, suy tủy, suy

chức năng gan thận, mệt mỏi, nơn….khiến cho bệnh nhân phải thường xun

trì hỗn việc tiếp tục điều trị hoặc có trường hợp phải thay đổi phác đồ hoặc

bỏ điều trị tiếp.

4.1.2.9. Điểm số nguy cơ theo FIGO

Bảng điểm đánh giá nguy cơ này được sử dụng rộng rãi khắp thế giới

để chẩn đoán giai đoạn và tiên lượng cũng như chỉ định điều trị cho bệnh

nhân. Từ năm 2000, FIGO đã phát triển từ bảng điểm cũ của WHO - 1983 để

trở thành bảng điểm FIGO 2000 được áp dụng rộng rãi đến ngày nay. Mặc dù

cũng có một số hạn chế trong việc đánh giá nguy cơ khi áp dụng cho CTXL

cũng như không đánh giá chi tiết được các mức độ di căn, bảng số FIGO về



88



cơ bản đáp ứng được yêu cầu nên vẫn được hầu hết các nước trên thế giới sử

dụng [56], [130].

Bảng 4.5. So sánh điểm số nguy cơ với tác giả A. S. Lumsden

Tỷ lệ (%)

Điểm



Kết quả



FIGO



nghiên

cứu



Tỷ lệ (%)



Lumsden

A.S.



Điểm



Kết quả



FIGO



nghiên

cứu



LumsdenA.S

.



0



9,0



8,6



7



9,0



3,2



1



21,4



14,6



8



3,4



1,9



2



12,4



19,8



9



2,5



0,6



3



10,0



22,3



10



1,0



0,5



4



8,4



15,5



12



0,5



5



18,4



7,9



13



0,5



6



3,5



5,0



Tổng số

nguy cơ

thấp (%)



Tổng số

83,1



93,7



nguy cơ



16,9



6,3



cao (%)



Kết quả nghiên cứu của chúng tôi về các mức độ nguy cơ cao - thấp:

bệnh nhân nguy cơ cao chiếm 1/5 số bệnh nhân, tương ứng 34 bệnh nhân có

điểm số nguy cơ theo FIGO ≥7 điểm. Số điểm nguy cơ 5-6 điểm chiếm

44/201 bệnh nhân tương ứng 21,9%. Nếu điểm nguy cơ từ ≥ 5 điểm có tới 78

bệnh nhân ứng với 38,9%. Kết quả này cho thấy nhóm nguy cơ cao của

UNBN cao hơn nhiều so với kết quả nghiên cứu trên 618 bệnh nhân UNBN ở

Bệnh viện Charing Cross, Anh trong giai đoạn từ 2000-2009 (16,9% so với

6,3%) (LumsdenA.S. và cộng sự, 2012)[131].



89



Theo Brown J. và cộng sự (2017), đối với nhóm nguy cơ FIGO từ 5-6

điểm sẽ có 50% bệnh nhân kháng với đơn hóa chất trong khi với nhóm nguy

cơ FIGO từ 0-4 điểm tỷ lệ điều trị khỏi là 100% [19].

Cũng theo nghiên cứu của Lumsden A.S. và cộng sự (2012) trên 618

bệnh nhân UNBN sau chửa trứng tại Bệnh viện Charing Cross, nhóm nguy cơ

có điểm FIGO 5-6 điểm khi điều trị bằng MTX liều thấp 1 tuần/lần có tỷ lệ

khỏi chỉ là 12%, trong khivới nhóm nguy cơ 0-1 điểm và 2-4 điểm, tỷ lệ khỏi

tương ứng tới 70% và 40% [131]. Theo Matsui H. điểm nguy cơ FIGO 5 – 6

mà kết quả giải phẫu bệnh là UTNBN thì được xếp như nhóm nguy cơ cao và

chỉ định dùng hóa chất phối hợp [132].

4.1.3.Các yếu tố liên quan đến mức độ bệnh

4.1.3.1. Nhóm tuổi và nghề nghiệp của bệnh nhân

Tuổi của bệnh nhân được coi là yếu tố nguy cơ của bệnh NBN. Tuổi

càng cao, nguy cơ mắc bệnh NBN càng lớn và nguy cơ biến chứng UNBN

sau chửa trứng cũng càng lớn. Khi đánh giá mối liên quan giữa các nhóm tuổi

và mức độ nặng nhẹ của biến chứng UNBN, chúng tơi thấy khơng có mối liên

quan có ý nghĩa thống kê (p >0,05).

Tương tự như tuổi, các yếu tố khác như nghề nghiệp, nơi sinh sống đều

khơng có mối liên quan với các mức độ nặng nhẹ của bệnh UNBN trong

nhóm nghiên cứu của chúng tơi (p 0,59 và 0,3 tương ứng). Điều này có thể

được giải thích do cỡ mẫu nghiên cứu chưa đủ lớn.

4.1.3.2. Vấn đề không tuân thủ theo dõi sau điều trị chửa trứng

Đây là yếu tố quan trọng liên quan đến chiến lược quản lý và theo dõi

bệnh nhân sau chửa trứng. Tại các nước phát triển, do dân trí cao cũng như sự

hồn thiện của mạng lưới y tế, tỷ lệ bệnh nhân không tuân thủ và bỏ theo dõi

sau chửa trứng vô cùng thấp. Theo nghiên cứu của Schmitt C. và cộng sự

(2013) ở Pháp số bệnh nhân bỏ theo dõi là 24/2008 bệnh nhân ứng với 1,1%

[133], nghiên cứu ở Brazin năm 2015 cho tỷ lệ này là 51/3684 bệnh nhân



90



tương đương 1,3% [43], còn theo nghiên cứu của Coyle C. và cộng sự (2018)

ở Anh trên 20.000 bệnh nhân chửa trứng không phát hiện trường hợp nào bỏ

theo dõi [39].

Trong nghiên cứu của chúng tôi, hầu hết các bệnh nhân UNBN nguy cơ

cao đều không tuân thủ theo dõi sau điều trị chửa trứng. Những bệnh nhân

này một phần chưa có hiểu biết đầy đủ về nguy cơ biến chứng UNBN sau

chửa trứng do thiếu sự tư vấn, một phần vì khó khăn trong việc tiếp cận với

cơ sở y tế đủ khả năng thực hiện được công tác theo dõi sau chửa trứng. Tỷ lệ

bệnh nhân UNBN nguy cơ cao ở nhóm khơng tn thủ theo dõi lên tới 70%.

Bệnh nhân không tuân thủ theo dõi chiếm tới 2/3 trong tổng số bệnh nhân

UNBN nguy cơ cao (Bảng 3.9.). Như vậy, bệnh nhân không tuân thủ theo dõi

sau điều trị chửa trứng có nguy cơ bị biến chứng UNBN ở giai đoạn nặng cao

hơn 42 lần so với bệnh nhân tuân thủ theo dõi (95% CI: 13,8 – 130,4).

4.1.3.3. Vấn đề thiếu tư vấn sau điều trị chửa trứng

Bệnh nhân chửa trứng khi nhập viện cần được tư vấn về các nguy cơ,

đặc biệt là nguy cơ biến chứng thành UNBN với tỷ lệ 15-20%. Ngoài ra, vấn

đề tránh thai và lịch - quy trình khám theo dõi sau điều trị chửa trứng cũng

cần được tư vấn đầy đủ.

Việc thiếu tư vấn làm bệnh nhân không nhận thức được tầm quan trọng

của việc khám theo dõi định kỳ sau điều trị chửa trứng (để phát hiện sớm biến

chứng UNBN) sẽ dẫn tới việc không tuân thủ khám và theo dõi đầy đủ sau

chửa trứng. Theo nghiên cứu của chúng tôi, số bệnh nhân không được tư vấn

sau điều trị chửa trứng chiếm tới 1/3 (Bảng 3.10). Việc những bệnh nhân

không được tư vấn xuất phát từ nhiều lí do như: thực hiện nạo hút trứng ở các

cơ sở y tế khơng có xét nghiệm giải phẫu bệnh nên bỏ sót chẩn đoán chửa

trứng, hoặc nhiều cơ sở y tế thiếu kiến thức và kỹ năng tư vấn về nguy cơ của

chửa trứng. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy: bệnh nhân không được tư vấn



91



sau chửa trứng khi bị biến chứng UNBN có nguy cơ trở thành UNBN nguy cơ

cao gấp 2,5 lần so với nhóm được tư vấn (95% CI: 1,1-5,9).

4.1.3.4. Nơi điều trị chửa trứng trước đó

Khi bị chửa trứng, bệnh nhân có thể được điều trị ở nhiều cấp cơ sở y tế

khác nhau từ cấp xã, phường tới cấp tỉnh và trung ương. Thực trạng hiện nay

cho thấy nhiều cơ sở y tế không đủ năng lực để phát hiện được chửa trứng

cũng như có biện pháp xử trí phù hợp. Khác với các bệnh viện tuyến trung

ương, các cơ sở y tế thực hiện kỹ thuật nạo hút thai không làm xét nghiệm

giải phẫu bệnh lý đã bỏ qua một số lượng nhất định bệnh nhân chửa trứng.

Mặt khác, ở tuyến y tế cơ sở, việc tư vấn về chửa trứng và UNBN còn rất hạn

chế.

Theo nghiên cứu của chúng tơi, nhóm bệnh nhân xử trí chửa trứng ở

tuyến trung ương có tỷ lệ biến chứng UNBN nguy cơ cao ít hơn đáng kể so

với nhóm xử trí ở các tuyến cơ sở. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê p

<0,05. Nguy cơ mắc UNBN giai đoạn nặng của nhóm xử trí chửa trứng ở

tuyến cơ sở cao gấp 3,62 lần nhóm điều trị ở tuyến trung ương (95% CI: 1,458,93).

4.1.3.5. Thiếu máu

Thiếu máu cũng là dấu hiệu của bệnh UNBN do trong bệnh này có hiện

tượng rong huyết. Tỷ lệ bệnh nhân UNBN có thiếu máu trong nghiên cứu này

là 25,3%. Tỷ lệ bệnh nhân UNBN có dấu hiệu thiếu máu ở nhóm nguy cơ cao

lớn hơn đáng kể so với nhóm không thiếu máu (33,3% so với 11,3%). Điều

này được giải thích có thể những bệnh nhân UNBN nhóm nguy cơ cao có dấu

hiệu rong huyết điển hình, dẫn tới mất máu và thiếu máu. Nguy cơ này là 3,91

(95% CI: 1,81-8,45).

4.1.3.6. Phân tích đa biến

Khi kết hợp các yếu tố nguy cơ trong mơ hình phân tích đa biến cho

thấy 2 yếu tố nguy cơ liên quan đến tăng tỷ lệ bệnh nhân nhóm nguy cơ cao là



92



việc tuân thủ theo dõi sau điều trị chửa trứng và cơ sở điều trị chửa trứng

trước đó. OR và 95% CI của 2 yếu tố tương ứng này là 69,2 (15,99-299,53)

và 6,27 (1,34-29,39). Trong khi đó, các yếu tố khơng được tư vấn và thiếu

máu khơng còn là yếu tố nguy cơ nữa.

4.2. HIỆU QUẢ CÁC CAN THIỆP TRÊN CÁN BỘ Y TẾ, CƠ SỞ Y TẾ VÀ TRÊN

BỆNH NHÂN



4.2.1. Hiệu quả trên cán bộ y tế sau đào tạo và các cơ sở y tế tuyến tỉnh

Các nước phát triển ở khu vực và trên thế giới đều có dân trí cao, điều

kiện sống tốt hơn, đồng thời có các trung tâm UNBN quản lý bệnh nhân. Tất

cả thông tin về bệnh tật liên quan đến diễn biến bệnh NBN của bệnh nhân, kết

quả xét nghiệm βhCG huyết thanh cũng như mẫu tiêu bản chẩn đoán chửa

trứng đều do trung tâm quản lý. Các trung tâm này cũng là nơi đưa ra chỉ định

theo dõi, thăm dò hình ảnh và các chỉ định điều trị cho bệnh nhân. Việc theo

dõi cho bệnh nhân sau điều trị chửa trứng vẫn diễn ra tại nơi bệnh nhân sinh

sống, giúp bệnh nhân tiện lợi trong vấn đề đi lại.

Do đặc thù nước ta còn nhiều khó khăn, dân trí thấp, hồn cảnh – kinh

tế văn hóa nhiều nơi còn thấp, mặt khác chưa có trung tâm UNBN để chuyên

trách quản lý nhóm bệnh nhân này. Bệnh chửa trứng và UNBN chưa đủ phổ

biến để các cán bộ y tế quan tâm và cập nhật kiến thức trong thực hành lâm

sàng thường quy. Do vậy, việc đào tạo lại kiến thức cho cán bộ y tế tuyến

dưới là rất cần thiết. Việc tổ chức các lớp đào tạo ở tuyến tỉnh theo từng nhóm

khoảng 20 người đã mang lại kết quả cập nhật kiến thức. Chỉ số hiệu quả đào

tạo nâng cao kiến thức ở các tỉnh đều cao (Bảng 3.13 và 3.14). Trước khi đào

tạo, trình độ kiến thức về bệnh chửa trứng và UNBN của cán bộ y tế còn thấp,

nhiều cán bộ thậm trí khơng còn nhớ gì về kiến thức bệnh này. Sau khi đào

tạo, các cán bộ y tế đã có đủ kiến thức để thực hành việc thăm khám theo dõi

cho bệnh nhân sau khi bị chửa trứng.



93



Sự kết hợp với Phòng Chỉ đạo tuyến đã hỗ trợ rất lớn trong việc đào tạo

cũng như triển khai khám, theo dõi cho các bệnh nhân sau điều trị chửa trứng

tại các bệnh viện tuyến dưới. Sau khi đào tạo lại kiến thức và triển khai khám

bệnh nhân sau chửa trứng, tất cả các tỉnh đã có thể thực hiện được công việc

này. Kết quả là nhiều bệnh nhân khi chẩn đốn chửa trứng, thay vì phải lên

tuyến trung ương điều trị như trước đây, nay có thể quay lại tuyến tỉnh để theo

dõi biến chứng UNBN. 2/3 số bệnh nhân chửa trứng đã được khám ở tuyến

tỉnh một cách đầy đủ theo đúng quy trình. Còn 1/3 số bệnh nhân do gần

BVPSTW hoặc thuận tiện trong việc đi lại nên vẫn tiếp tục theo dõi ở trung

ương. Có 5 bệnh nhân bỏ theo dõi không liên lạc được, những bệnh nhân này

có thể do thay đổi địa chỉ hoặc đổi số điện thoại nên chúng tôi đã không biết

bệnh nhân có tiếp tục theo dõi hay khơng.

6 trường hợp có thai đều do thất bại của các biện pháp tránh thai, mặc

dù các bệnh nhân đều đã được tư vấn đầy đủ các biện pháp tránh thai sau điều

trị chửa trứng. 3 trong số đó đã tự nguyện bỏ thai để thuận lợi cho việc theo

dõi biến chứng UNBN và 3 bệnh nhân vẫn giữ thai đến đủ tháng và chưa phát

hiện có biến chứng UNBN.

Trong số các bệnh nhân đi khám đầy đủ chỉ có 56,65% bệnh nhân tự

nguyện đi khám mà khơng có sự nhắc nhở. Số bệnh nhân còn lại có ít nhiều

chậm trễ trong lịch khám nên chúng tôi đã gọi điện để nhắc nhở lịch, các bệnh

nhân này sau đó đã đi khám đầy đủ. Có 17,92% bệnh nhân cần nhắc nhở một

lần và 9,25% bệnh nhân cần nhắc nhở từ hai lần trở lên mới tiếp tục đến khám

lại. Một số bệnh nhân sau khi nhắc nhở khơng đi khám do khó khăn về kinh

phí nên chúng tơi đã hỗ trợ chi phí khám và làm xét nghiệm cho bệnh nhân.

Sau khi nhận được sự hỗ trợ này, tất cả 25 bệnh nhân (tương đương 14,45%)

đã khơng bỏ theo dõi. Bên cạnh đó, có 3 bệnh nhân khi có dấu hiệu ra máu âm

đạo bất thường mới đến cơ sở y tế (1,73%).



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trong tất cả các nghiên cứu trong nước kể trên, tỷ lệ bệnh nhân UNBN có nguồn gốc từ chửa trứng đều chiếm >75%. Điều này cho thấy vai trò cấp thiết của việc quản lý nhóm bệnh nhân sau chửa trứng để phát hiện được sớm các biến chứng UNBN.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×