Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
với nơi điều trị chửa trứng trước đó (n=159)

với nơi điều trị chửa trứng trước đó (n=159)

Tải bản đầy đủ - 0trang

61



Tổng



26



16,4



133



83,4



Nhận xét: Tỷ lệ biến chứng UNBN nguy cơ cao ở 2 nhóm bệnh nhân

có tiền sử điều trị chửa trứng tại CSYT tuyến trung ương và tuyến dưới có sự

khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Bệnh nhân được điều trị chửa

trứng ở tuyến dưới có nguy cơ mắc UNBN nguy cơ cao gấp 3,6 lần so với

nhóm được được điều trị tại tuyến trung ương (95% CI: 1,45-8,93).

Bảng 3.11. Mối liên quan giai đoạn bệnh u nguyên bào nuôi và thiếu máu

(n=201)

Nguy cơ cao

UNBN



Nguy cơ thấp

Số



Số



Tỷ lệ



lượng



(%)







17



33,3



34



66,7



Khơng



17



11,3



133



88,7



Tổng



34



16,9



167



83,1



Thiếu máu



lượn

g



Tỷ lệ



OR

(95% CI)



p



(%)



3,91



0,001



(1,81-8,45)



Nhận xét: Bệnh nhân có tình trạng thiếu máu (nồng độ Hemoglobin

<110 g/l) có nguy cơ mắc UNBN thuộc nhóm nguy cơ cao gấp 3,91 lần so với

bệnh nhân không thiếu máu (p < 0,01; 95% CI: 1,81-8,45).

Bảng 3.12. Mơ hình phân tích hồi quy đa biến

Yếu tố nguy cơ



OR (95%CI)



p



Không tuân thủ theo dõi sau

chửa trứng



69,21 (15,99-299,53)



< 0,001



Điều trị chửa trứng ở tuyến

tỉnh



6,27 (1,34-29,39)



0,02



Thiếu máu



1,38 (0,38-5,02)



0,62



Không được tư vấn sau



0,19 (0,03-1,14)



0,07



62



chửa trứng

Nhận xét: Qua mơ hình phân tích hồi quy đa biến ta thấy trong tất cả

các yếu tố liên quan đến giai đoạn biến chứng UNBN sau chửa trứng, yếu tố

tuân thủ theo dõi sau điều trị chửa trứng là quan trọng nhất. Việc không tuân

thủ theo dõi sau chửa trứng là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tỷ lệ xuất hiện

biến chứng UNBN giai đoạn muộn (thuộc nhóm nguy cơ cao) tăng rõ rệt.

Bên cạnh đó, một yếu tố nguy cơ khác là cơ sở điều trị chửa trứng

trước đó cũng có liên quan tới sự tăng tỷ lệ biến chứng UNBN nguy cơ cao.

Bệnh nhân đã được điều trị chửa trứng tuyến cơ sở có nguy cơ mắc UNBN

thuộc nhóm nguy cơ cao lớn hơn so với nhóm bệnh nhân điều trị chửa trứng

tuyến trung ương.



3.2. KẾT QUẢ ĐÀO TẠO, TỔ CHỨC KHÁM THEO DÕI SAU CHỬA TRỨNG VÀ

MỨC ĐỘ BIẾN CHỨNG U NGUYÊN BÀO NUÔI



3.2.1.Kết quả đào tạo và tổ chức khám theo dõi chửa trứng tại tuyến tỉnh

Bảng 3.13. Hiệu quả thay đổi kiến thức của cán bộ y tếvề chẩn đốn,điều

trị u ngun bào ni

Trước đào tạo

Tỉnh thành



Sau đào tạo



Chỉ số

hiệu quả

(%)



Số lượng

đạt



Tỷ lệ

(%)



Số lượng

đạt



Tỷ lệ

(%)



Bắc Ninh (n=20)



5



25,0



20



100



100



Hà Nam (n=20)



0



0,0



20



100



100



Hải Dương (n=20)



11



55,0



20



100



100



Hưng Yên (n=20)



7



35,0



20



100



100



63



Vĩnh Phúc (n=20)



14



70,0



20



100



100



Hà Tĩnh (n=20)



4



20,0



20



100



100



Ninh Bình (n=20)



5



25,0



20



100



100



Nam Định (n=20)



4



20,0



20



100



100



Yên Bái (n=20)



2



10,0



20



100



100



Phú Thọ (n=20)



3



15,0



20



100



100



Quảng Ninh (n=20)



3



15,0



20



100



100



Bắc Giang (n=20)



2



10,0



20



100



100



Tổng cộng



60



25,0



240



100



100



Nhận xét: Hiệu quả về đào tạo kiến thức chẩn đoán, điều trị bệnh

UNBN cho cán bộ y tế ở tất cả các tỉnh đều đạt 100%. Tỷ lệ cán bộ đạt kiến

thức trước đào tạo là 25% và sau đào tạo là 100%.

Bảng 3.14. Hiệu quả thay đổi kiến thức của cán bộ y tếvề chẩn đoán, điều

trị và theo dõi sau chửa trứng

Trước đào tạo

Tỉnh thành



Sau đào tạo



Chỉ số

hiệu quả

(%)



Số lượng



Tỷ lệ



Số lượng



Tỷ lệ



đạt



(%)



đạt



(%)



Bắc Ninh (n=20)



4



20



16



80



75,0



Hà Nam (n=20)



6



30



17



85



78,6



Hải Dương (n=20)



2



10



18



90



88,8



Hưng Yên (n=20)



7



35



18



90



83,0



Vĩnh Phúc (n=20)



5



25



17



85



80,0



Hà Tĩnh (n=20)



6



30



16



80



69,1



Ninh Bình (n=20)



3



15



17



85



82,4



64



Nam Định (n=20)



8



40



20



100



100,0



Yên Bái (n=20)



6



30



18



90



85,7



Phú Thọ (n=20)



5



25



17



85



80,0



Quảng Ninh (n=20)



4



20



19



95



93,8



Bắc Giang (n=20)



5



25



18



90



86,7



Tổng cộng



61



25,4



211



87,9



83,8



Nhận xét: Hiệu quả về đào tạo kiến thức chẩn đoán, điều trị, theo dõi

sau chửa trứng cho cán bộ y tế tương đối cao,Chỉ số hiệu quả cao nhất là

100% ở tỉnh Nam Định. Sau đào tạo, hầu hết các cán bộ y tế đã có được kiến

thức cơ bản đủ để triển khai khám và theo dõi phát hiện được các biến chứng

UNBN cho bệnh nhân sau điều trị chửa trứng. Chỉ số hiệu quả chung ở 12

tỉnh là 83,8%.

Bảng 3.15. Kết quả triển khai khám, theo dõi cho bệnh nhân sau điều trị

chửa trứng ở tuyến tỉnh

Chỉ số đánh giá



Trước can

thiệp



Sau can

thiệp



Hiệu quả



Số tỉnh có triển khai khám



3 tỉnh



12 tỉnh



Tăng



Chất lượng khám tại tuyến



Chưa đầy đủ,



Đủ và



Mới



tỉnh



chưa đúng quy



đúng quy



trình



trình



Khơng có



35/173



Số bệnh nhân theo dõi đầy



Giảm chi phí



đủ tại tuyến tỉnh, khơng đến



đi lại



tuyến trên

Số bệnh nhân chỉ theo dõi tại

BVPSTW sau chửa trứng



Tăng



Hầu hết



62/173



Giảm quá tải

tuyến Trung

ương



65



Nhận xét: Trước can thiệp, các tỉnh hầu hết chưa triển khai khám và

theo dõi cho bệnh nhân sau điều trị chửa trứng. Một số tỉnh có thực hiện xét

nghiệm cho bệnh nhân nhưng chưa theo quy trình chuẩn. Sau can thiệp, việc

thực hiện khám và xét nghiệm βhCG huyết thanh cho bệnh nhân sau điều trị

chửa trứng đã theo quy

B

Bi

Th trình chuẩn.



Chẩn đốn

Điều trị

Theo dõi



Khi triển khaiếnệeokhám theo dõi ở tuyến tỉnh, nghiên cứu đã thực hiện ở 12

ch

n

dõi



tỉnh có bệnh nhân chửa

trứng. Sau can thiệp, 12 bệnh viện tuyến tỉnh trên đã

hứ

đầ

ny

thực hiện được việc nkhám

theo dõi cho bệnh nhân.

hđủ,

g



Tỷ lệ bệnh nhân

âkh được khám tại tuyến tỉnh đạt 64,1%. Còn lại gần 1/3

U

nơn

n

số bệnh nhân chỉ khám

ở tuyến trung ương do nhà ở Hà Nội hoặc bệnh nhân

bcsgg



có điều kiện kinh tế và

hỏaph

u khơng muốn khám ở tuyến tỉnh.



ửutát

Đặc điểm nhóm

điềuBAN

trị chửa

SAU bệnh

CHỬAnhân

TRỨNG

ĐẦUtrứng

n1 = tại

181BVPSTW được chọn

hacn

hiệ



vào nghiên cứu: Số bà

bệnh

nhân sau chửa trứng ban đầu (n1) là 181 bệnh nhân.

tr

ehn

CÓ THAI



oửo

Diễn biến thay đổi ứbiế

mẫu nghiên cứu trong quá trình quản lý, theo dõi bệnh

n2 = 1

ndann

nhân được thể hiện trong

sơ đồ sau:



truch

BIẾN CHỨNG UNBN n3=35ơiứứn

i

ng

g



BỎ THEO DÕI



n4 = 2



CĨ βhCG VỀ ÂM TÍNH

n5=143



GIỮ THAI



n8 = 2



CĨ THAI n7 = 5



KHƠNG GIỮ THAI



n9 = 3



TIẾP TỤC THEO DÕI TỚI ĐỦ 6 THÁNG

n10= 138



BỎ THEO DÕI



n6 = 3



66



Sơ đồ 3.1. Kết quả theo dõi bệnh nhân sau chửa trứng

Trong q trình theo dõi có 35 bệnh nhân ( n3) biến chứng UNBN trước

khi βhCG về âm tính; 1 bệnh nhân có thai trước khi βhCG âm tính ( n2) và 2

bệnh nhân bỏ theo dõi trước khi βhCG âm tính ( n4) cũng bị loại khỏi nhóm

nghiên cứu. Còn lại 143 bệnh nhân ( n5) có βhCG đã về âm tính được tiếp tục

theo dõi tới đủ 6 tháng.

Trong giai đoạn này có thêm 3 bệnh nhân bỏ theo dõi ( n6) nữa bị loại

khỏi nghiên cứu. Đồng thời xuất hiện 5 bệnh nhân có thai sau khi βhCG đã

âm tính (n7), trong đó 3 bệnh nhân sau khi tư vấn bỏ thai tiếp tục ở lại nhóm

nghiên cứu (n9) theo dõi tới đủ 6 tháng và khơng xuất hiện biến chứng; 2

bệnh nhân có thai còn lại tiếp tục giữ thai (n8) và bị loại khỏi nghiên cứu.

Bảng 3.16. Đánh giá sự tuân thủ theo dõi của bệnh nhân sau chửa trứng

Nội dung đánh giá

Bệnh nhân tự đi khám và theo dõi đúng lịch trình

Số bệnh nhân cần nhắc nhở 1 lần mới đi

khám



Số

lượng



Tỷ lệ

(%)



98



56,6



31



17,9



67



Bệnh

nhân

không tự theo

dõi sau điều

trị chửa trứng



Số bệnh nhân cần nhắc nhở nhiều lần mới

đi khám



16



9,3



Số bệnh nhân nhận được hỗ trợ về tài

chính mới đi khám



22



12,7



Số bệnh nhân có dấu hiệu bất thường mới

đi khám



3



1,7



Bệnh nhân có Số bệnh nhân giữ thai

thai < 6 tháng

Số bệnh nhân bỏ thai



3



1,7



3



1,7



Số bệnh nhân bỏ theo dõi (rời khỏi nhóm nghiên cứu)



5



2,9



Tổng số bệnh nhân đủ tiêu chuẩn nhóm nghiên cứu



173



100



Nhận xét: Bệnh nhân tuân thủ theo dõi 168/173 chiếm 97,1%. Trong

đó, số bệnh nhân tự nguyện tuân thủ theo dõi định kỳ sau chửa trứng chiếm

hơn một nửa 98/173 (56,6%).Số bệnh nhân vẫn khám định kỳ đủ lịch trình

nhưng cần sự nhắc nhở hoặc hỗ trợ mới đi khám chiếm 69/173 (39,9%).

Trong số này, nhóm phải nhắc nhở 1 lần mới đi khám chiếm đa số (17,9%).

Có 3 bệnh nhân (1,7%) đến khi có dấu hiệu rong huyết và đau bụng mới đi

khám. 12,7% số bệnh nhân phải nhận được hỗ trợ về chi phí khám mới đến

khám.

Có 5 bệnh nhân bỏ theo dõi. 5 bệnh nhân này đã khám một vài lần, sau

đó khơng đi khám nữa, đồng thời khơng liên lạc được với bệnh nhân sau đó.

Có 6 bệnh nhân có thai lại trong thời gian theo dõi khi nồng độ βhCG

huyết thanh chưa về âm tính hoặc chưa đủ 6 tháng. 3/6 trường hợp sau khi

nghe tư vấn đã đồng ý hút thai, tiếp tục theo dõi. 3 trường hợp còn lại tiếp tục

giữ thai đến lúc đẻ. Cả 6 trường hợp đều chưa phát hiện biến chứng UNBN.

3.2.2. Hiệu quả phát hiện u nguyên bào nuôi sau chửa trứng

3.2.2.1. Đặc điểm của nhóm bệnh nhân chửa trứng



68



Biểu đồ 3.8. Phân bố chửa trứng toàn phần và bán phần

Nhận xét: Trong tổng số 173 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chọn vào nhóm

nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân CTTP cao gấp đôi tỷ lệ bệnh nhân CTBP.

Bảng3.17. Đặc điểm về nhóm tuổi và loại chửa trứng

Loại CT

Nhóm tuổi



CTTP



CTBP



Số

Tỷ lệ

Số

Tỷ lệ

lượng (%) lượng (%)



Tổng



p



Số

lượng



Tỷ lệ

(%)



< 20



6



42,9



8



57,1



14



100



0,79



20 - 39



77



64,7



42



35,3



119



100



0,002



≥ 40



32



80,0



8



20,0



40



100



0,001



Tổng



115



66,5



58



33,5



173



100



0,031



Nhận xét: Độ tuổi trung bình của bệnh nhân chửa trứng là 31,05 ±

1,00. Tuổi thấp nhất là 17 và tuổi cao nhất là 54. Nhóm bệnh nhân trong độ

tuổi 20-39 gặp nhiều nhất trong khi nhóm bệnh nhân trẻ < 20 tuổi chiếm tỷ lệ

thấp nhất. Nhóm bệnh nhân trẻ < 20 tuổi có tỷ lệ mắc CTTP và CTBP tương

đương nhau (43% so với 57%). 2 nhóm bệnh nhân lớn tuổi hơn đều có tỷ lệ

mắc CTTP cao hơn CTBP có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Bảng 3.18. Đặc điểm về địa bàn sinh sống và loại chửa trứng

Loại CT



CTTP

Số

lượng



Tỷ lệ

(%)



Hà Nội



34



65,4



Nơi khác



81



Tổng



115



Địa bàn



CTBP



Tổng



Số

Tỷ lệ

Số

lượng (%) lượng



Tỷ lệ

(%)



18



34,6



52



100



66,9



40



33,1



121



100



66,5



58



33,5



173



100



p



0,842



69



Nhận xét: Bệnh nhân sống ở Hà Nội và ở các tỉnh thành khác đều có tỷ

lệ CTTP cao hơn tỷ lệ CTBP. Tỷ lệ bệnh nhân CTTP ở Hà Nội thấp hơn ở các

tỉnh thành khác, tuy nhiên sự khác biệt khơng có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Bảng 3.19. Đặc điểm về số con hiện có và loại chửa trứng

CTTP



Loại CT



CTBP



Tổng



p



Số

lượng



Tỷ lệ

(%)



Số

lượng



Tỷ lệ

(%)



Số

lượng



Tỷ lệ

(%)



0



42



65,6



22



34,4



64



100



1



23



59,0



16



41,0



39



100



2



42



70,0



18



30,0



60



100



3



8



80,0



2



20,0



10



100



Tổng số



115



66,5



58



33,5



173



100



Số con



0,54



Nhận xét: Trong số 173 bệnh nhân chửa trứng, nhóm bệnh nhân chưa

có con nào và có 2 con chiếm tỷ lệ cao nhất. Cả 4 nhóm bệnh nhân nhóm đều

có tỷ lệ CTTP cao hơn CTBP, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân đã có 3 con,tuy

nhiên sự khác biệt này khơng có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Bảng 3.20. Đặc điểm về thiếu máu của bệnh nhân với loại chửa trứng

Loại CT



CTTP



CTBP



Tổng

p



Thiếu máu



Số

lượng



Tỷ lệ

(%)



Số

lượng



Tỷ lệ

(%)



Số

lượng



Tỷ lệ

(%)



Khơng



102



65,4



54



34,6



156



100







13



76,5



4



23,5



17



100



Tổng



115



66,5



58



33,5



173



100



0,358



Nhận xét: Trong số 173 bệnh nhân chửa trứng, tỷ lệ thiếu máu chiếm

xấp xỉ 10%. Ở nhóm bệnh nhân khơng thiếu máu, tỷ lệ CTTP cao gấp đơi tỷ

lệ CTBP. Ở bệnh nhân có thiếu máu, tỷ lệ CTTP cao gấp 3 lần CTBP. Tuy



70



nhiên, sự khác biệt về tỷ lệ bị thiếu máu ở hai nhóm bệnh nhân CTTP và

CTBP khơng có ý nghĩa thống kê với p>0,05.

Bảng 3.21. Ngưỡng nồng độ βhCG 100.000 IU/l và loại chửa trứng

Loại CT

Ngưỡng

βhCG



CTTP



CTBP



Tổng



Số

lượn

g



Tỷ lệ

(%)



Số

lượng



Tỷ lệ

(%)



Số

lượn

g



Tỷ lệ

(%)



≥ 100.000 IU/l



89



73



33



27



122



100



< 100.000 IU/l



26



51



25



49



51



100



Tổng số



115



66,5



58



33,5



173



100



p



0,005



Nhận xét: Số bệnh nhân chửa trứng có nồng độ βhCG huyết thanh

>100.000 IU/l cao gấp đơi số bệnh nhân có nồng độ dưới 100.000 IU/l.

Trong nhóm có nồng độ βhCG huyết thanh <100.000 IU/l, tỷ lệ bệnh

nhân CTTP và CTBP tương đương nhau. Trong khi đó, ở nhóm có nồng độ

βhCG huyết thanh ≥100.000 IU/l, tỷ lệ bệnh nhân CTTP (73%) cao hơn hẳn

tỷ lệ CTBP (27%). Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,01.

Bảng 3.22. Phương pháp điều trị chửa trứng ban đầu với loại chửa trứng

CTTP



CTBP



Loại CT



Tổng



Số

lượng



Tỷ lệ

(%)



Số

lượng



Tỷ lệ

(%)



Số

lượn

g



Tỷ lệ

(%)



Nạo trứng



73



58,4



52



41,6



125



100



Mổ cắt TC



42



87,5



6



12,5



48



100



Tổng số



115



66,5



58



33,5



173



100



Điều trị



p



0,001



Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân chửa trứng được nạo thai trứng (125/173)

cao gấp 2,5 lần tỷ lệ bệnh nhân phải cắt tử cung (48/173). Trong số bệnh nhân



71



được cắt tử cung, tỷ lệ bệnh nhân bị CTTP cao gấp gần 7 lần so với CTBP

(87,5% so với 12,5%).

Sự khác biệt về tỷ lệ cắt tử cung và nạo thai trứng ở 2 nhóm bệnh nhân

CTTP và CTBP có ý nghĩa thống kê với p < 0,01.

3.2.2.2. Đặc điểm về biến chứng UNBN sau chửa trứng

Bảng 3.23 . Tỷ lệ biến chứng u nguyên bào nuôi sau chửa trứng

liên quan với loại chửa trứng





UNBN



Khơng



Số

lượng



Tỷ lệ

(%)



Số

lượng



Tỷ lệ

(%)



CTTP



31



27,0



84



73,0



CTBP



4



6,9



54



93,1



Tổng



35



20,2



138



79,8



Loại CT



OR

(95% CI)

4,98

(1,7-14,9)



p



0,002



Nhận xét: Tỷ lệ có biến chứng thành UNBN sau chửa trứng ở nhóm

bệnh nhân CTTP (27%) cao hơn hẳn ở nhóm CTBP (6,9%). Sự khác biệt về tỷ

lệ biến chứng này có ý nghĩa thống kê với p <0,01.

Ngồi ra, yếu tố loại chửa trứng là CTTP có nguy cơ bị biến chứng

thành UNBN cao gấp gần 4,98 lần so với CTBP (95% CI: 1,7 - 14,9).



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

với nơi điều trị chửa trứng trước đó (n=159)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×