Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nền kinh tế tri thức

Nền kinh tế tri thức

Tải bản đầy đủ - 0trang

nghiệp sang kinh tế tri thức. Đây là một bước ngoặt có ý nghĩa lịch sử trọng đại đối

với quá trình phát triển của nhân loại. Những năm gần đây trong nhiều cơng trình

nghiên cứu, nhiều hội nghị, hội thảo quốc tế và trong nhiều văn bản chiến lược phát

triển của các quốc gia người ta đã dùng nhiều tên gọi khác nhau cho giai đoạn phát

triển mới.

Năm 1995, Tổ chức OECD nêu ra khái niệm kinh tế tri thức: “Nền kinh tế tri

thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh, truyền bá và sử dụng tri thức trở thành yếu

tố quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, không ngừng nâng cao chất lượng

cuộc sống”.

Năm 1998, Bộ Thương mại và Công nghiệp Anh đưa ra định nghĩa: “Một

nền kinh tế dẫn dắt bởi tri thức là một nền kinh tế mà việc sản sinh và khai thác tri

thức có vai trò nổi trội trong q trình tạo ra của cải”

Định nghĩa APEC nêu ra năm 2000, cho rằng: “Kinh tế tri thức là nền kinh tế

trong đó sự sản sinh ra, truyền bá và sử dụng tri thức là động lực chủ yếu nhất của

sự tăng trưởng, tạo ra của cải, việc làm trong tất cả các ngành kinh tế".

Tóm lại, mỗi định nghĩa trên đây, tuy có sự diễn giải đơi chút khác nhau, nhưng

nội dung cơ bản là thống nhất với định nghĩa của Tổ chức nghiên cứu của Liên hợp

quốc.

* Những đặc trưng chủ yếu của nền kinh tế tri thức.

Thứ nhất, là sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ý tưởng đổi mới và phát triển

cơng nghệ mới trở thành chìa khoá cho việc tạo ra việc làm mới và nâng cao chất

lượng cuộc sống. Nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, dịch chuyển cơ cấu nhanh

Trong những năm qua các nền kinh tế phát triển trên thế giới đã có những

chuyển đổi to lớn, sâu sắc về cơ cấu kinh tế, về cách thức hoạt động và các qui tắc

hoạt động; đang phát triển nhanh các ngành kinh tế dựa vào tri thức; các ý tưởng

đổi mới và cơng nghệ là chìa khố cho việc tạo ra việc làm mới và nâng cao chất

lượng cuộc sống. Nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, dịch chuyển nhanh cơ cấu.

5



Nhưng đây cũng là nền kinh tế mang tính rủi ro, và không ngừng thay đổi, luôn đặt

ra nhiều thách thức mới.

Nếu như trong khi nền kinh tế công nghiệp dựa vào sự tổ chức sản xuất

hàng loạt, qui chuẩn hố, thì nền kinh tế tri thức được tổ chức trên cơ sở sự sản

xuất linh hoạt hàng hoá và dịch vụ dựa vào công nghệ cao, đây cũng là kinh tế văn

phòng (người trực tiếp sản xuất ra sản phẩm trong các nhà máy ít đi, người làm

việc ở văn phòng nhiều lên).

Thứ hai, là sản xuất cơng nghệ trở thành loại hình sản xuất quan trọng nhất,

tiên tiến nhất, tiêu biểu nhất của nền sản xuất tương lai. Các ngành kinh tế tri thức

đều phải dựa vào công nghệ mới để đổi mới và phát triển. Các doanh nghiệp đều có

sản xuất cơng nghệ, đồng thời có nhiều doanh nghiệp chun sản xuất cơng nghệ,

có thể gọi là doanh nghiệp tri thức, trong đó khoa học và sản xuất được nhất thể

hố, khơng còn phân biệt phòng thí nghiệm với cơng xưởng, những người làm việc

trong đó là công nhân tri thức, họ vừa nghiên cứu vừa sản xuất.

Hiện nay trên lĩnh vực công nghệ thông tin các doanh nghiệp tri thức phát

triển rất nhanh, chỉ trong khoảng 5-10 năm từ chỗ tay không trở thành những tài

sản khổng lồ hàng chục tỷ USD, như Nescape, Yahoo, Dell, Cisco...

Sự hình thành và phát triển các khu cơng nghệ (technology park) là yếu tố

rất quan trọng thúc đẩy phát triển nhanh sự ra đời các công nghệ mới. Đây là những

vườn ươm cơng nghệ; ở đây có các điều kiện thuận lợi để nhất thể hố q trình

nghiên cứu, thực nghiệm khoa học, triển khai công nghệ và sản xuất, nhờ đó các ý

tưởng khoa học nhanh chóng trở thành công nghệ và đưa ra sản xuất.

Những thập kỷ gần đây trên thế giới các khu công nghệ phát triển rất

nhanh, đó là một cách tổ chức để đi nhanh vào kinh tế tri thức.

Vì nền sản xuất dựa vào cơng nghệ cao, tiêu hao ít ngun liệu, năng

lượng, thải ra ít phế thải, cho nên trong nền kinh tế tri thức có thể thực hiện được

sản xuất sạch, không gây ô nhiễm môi trường. Kinh tế tri thức là nền kinh tế phát

6



triển bền vững.

Trong xã hội mạng lại có điều kiện giải quyết tốt mối quan hệ giữa sản xuất

và tiêu dùng; nhờ có mạng có thể sản xuất theo nhu cầu của khách hàng, theo đơn

đặt hàng, không để ứ đọng trong kho khối lượng lớn hàng hố. Giữa sản xuất và

tiêu dùng có thể đạt được sự hài hoà.

Thứ ba, là việc ứng dụng công nghệ thông tin rộng rãi trong mọi lĩnh vực

và thiết lập mạng thông tin đa phương tiện phủ khắp nước, nối với hầu hết các tổ

chức, các gia đình. Thông tin trở thành tài nguyên quan trọng nhất. Mọi người đều

có nhu cầu thơng tin và được truy nhập vào các kho thơng tin cần thiết cho mình.

Mọi lĩnh vực hoạt động trong xã hội đều có tác động của công nghệ thông tin để

nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, cũng chính vì vậy nhiều người gọi nền

kinh tế tri thức là nền kinh tế số hay kinh tế mạng hay kinh tế số.

Thứ tư, là các doanh nghiệp vừa cạnh tranh vừa hợp tác để phát triển.

Trong cùng một lĩnh vực khi một công ty thành cơng hơn, lớn mạnh hơn, thì cơng

ty khác tìm cách sáp nhập vào hoặc chuyển hướng khác ngay, nếu không muốn bị

phá sản. Mà trong nền kinh tế tri thức vì nảy sinh nhiều cơng nghệ mới nên ln

ln xuất hiện nhiều công ty mới; sự ra đời của công ty gắn với sự ra đời của một

công nghệ mới, một sáng chế mới. Các công ty phải luôn đổi mới và phải kịp thời

chuyển hướng theo sự phát triển của công nghệ. Để tăng sức mạnh các công ty phải

hợp tác với nhau, để tồn tại và phát triển.

Thứ năm, xã hội thông tin thúc đẩy sự dân chủ hố. Thơng tin đến với mọi

người. Mọi người đều dễ dàng truy cập đến các thông tin cần thiết. Dân chủ hoá

các hoạt động và tổ chức điều hành trong xã hội được mở rộng. Người dân nào

cũng có thể được thông tin kịp thời về các quyết định của cơ quan nhà nước hoặc tổ

chức có liên quan đến họ và họ có thể có ý kiến ngay nếu thấy khơng phù hợp. Do

đó phải tạo khơng khí dân chủ, cách làm việc dân chủ. Khi chuẩn bị các quyết định,

các chính sách, luật pháp cơ quan nhà nước rất dễ dàng đưa ra lấy ý kiến nhân dân.

7



Việc tập hợp ý kiến, nguyện vọng của nhân dân cũng rất dễ dàng, thuận tiện.

Nguyên tắc "dân biết, dân bàn, dân kiểm tra" sẽ được thực hiện đầy đủ nhất. Cho

nên CNTT thúc đẩy sự phát triển dân chủ. Có dân chủ mới phát huy được khả năng

sáng tạo của mọi người.

Cách tổ chức quản lý cũng sẽ thay đổi nhiều. Trong thời đại thơng tin, mơ hình

chỉ huy tập trung, có đẳng cấp là khơng phù hợp. Xu thế là theo mơ hình phi đẳng cấp,

phi tập trung, mơ hình mạng, trong đó tận dụng các quan hệ ngang; vì thơng tin đến

được một cách thuận lợi nhanh chóng tất cả mọi nơi, không cần đi qua các nút xử lý

trung gian. Đó là mơ hình tổ chức dân chủ, nó linh hoạt trong điều hành, dễ thích nghi

với đổi mới, khơi dậy sự năng động sáng tạo của mọi người.

Thứ sáu, xã hội thông tin là một xã hội học tập. Giáo dục rất phát triển.

Mọi người đều học tập, học thường xuyên, học ở trường và học trên mạng, để

không ngừng trau dồi kỹ năng, phát triển trí sáng tạo. Khơng học tập thường xun

thì khơng phát triển được nền kinh tế tri thức. Mọi người thường xuyên được bổ

túc, cập nhật kiến thức, chủ động theo kịp sự đổi mới và có khả năng thúc đẩy sự

đổi mới. Với sự bùng nổ thông tin và sự ln đổi mới kiến thức, mơ hình giáo dục

truyền thống: đào tạo xong rồi ra làm việc là khơng còn phù hợp, mà phải đào tạo

cơ bản, ra làm việc và tiếp tục đào tạo, vừa đào tạo vừa làm việc. Con người phải

học tập suốt đời, vừa học vừa làm việc. Hệ thống giáo dục phải đảm bảo cho mọi

người bất cứ lúc nào bất cứ ở đâu cũng có thể học tập được. Mạng thơng tin có ý

nghĩa rất quan trọng cho việc học tập suốt đời.

Đầu tư cho giáo dục và cho khoa học chiếm tỷ lệ rất cao. Nói chung đầu tư

vơ hình (cho con người, cho giáo dục, khoa học, văn hoá xã hội...) cao hơn đầu tư

hữu hình (đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật). Phát triển con người trở thành

nhiệm vụ trung tâm của xã hội. Vốn con người là yếu tố then chốt nhất tạo ra giá trị

cho doanh nghiệp tri thức.



8



Thứ bảy, vốn quý nhất trong nền kinh tế tri thức là tri thức. Tri thức là

nguồn lực hàng đầu tạo sự tăng trưởng. Không phải như các nguồn lực khác bị mất

đi khi sử dụng, tri thức và thơng tin có thể được chia xẻ, và trên thực tế lại tăng lên

khi sử dụng. Nền kinh tế tri thức do đó là một nền kinh tế dư dật chứ không phải

khan hiếm.

Thứ tám, sự sáng tạo, đổi mới thường xuyên là động lực chủ yếu nhất

thúc đẩy sự phát triển. Cơng nghệ đổi mới rất nhanh, vòng đời cơng nghệ rút

ngắn; q trình từ lúc ra đời, phát triển rồi tiêu vong của một lĩnh vực sản xuất,

hay một cơng nghệ chỉ mấy năm, thậm chí mấy tháng. Các doanh nghiệp muốn

trụ được và phát triển thì phải luôn đổi mới công nghệ và sản phẩm. Sáng tạo là

linh hồn của sự đổi mới.

Thứ chín, nền kinh tế tri thức là nền kinh tế tồn cầu hố. Thị trường và sản

phẩm mang tính tồn cầu, một sản phẩm sản xuất ở bất kỳ nơi nào cũng có thể

nhanh chóng có mặt khắp nơi trên thế giới.

Q trình tồn cầu hố cũng là q trình chuyển sang nền kinh tế tri thức,

tồn cầu hố và kinh tế tri thức thúc đẩy nhau, gắn quyện với nhau, là hai anh em

sinh đôi của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại. Tồn cầu hố một mặt

tạo thuận lợi cho sự phát triển nhanh kinh tế tri thức ở các nước, nhưng đồng thời

cũng đặt nhiều thách thức rủi ro. Trên thế giới hiện nay thì khoảng cách giàu nghèo

vẫn đang tăng nhanh do chêch lệch nhiều về tri thức và điều đó chỉ có thể xố được

khi rút ngắn khoảng cách và tri thức.

Thứ mười, là sự thách thức đối với văn hoá. Trong nền kinh tế tri thức - xã

hội thơng tin, văn hố có điều kiện phát triển nhanh và văn hoá là động lực thúc

đẩy sự phát triển kinh tế xã hội. Do thông tin, tri thức bùng nổ, trình độ nền văn hố

nâng cao, nội dung và hình thức các hoạt động văn hố phong phú đa dạng.

Nhờ các phương tiện truyền thông tức thời, nhất là internet, một sáng tác ra

đời tức thời lan truyền đến mọi nơi trên thế giới. Giao lưu văn hoá hết sức thuận

9



lợi, tạo điều kiện cho các nền văn hố có thể tiếp thu các tinh hoa của nhân loại để

phát triển nền văn hố của mình. Nhưng mặt khác các nền văn hoá đứng trước

những rủi ro rất lớn: bị pha tạp, dễ mất bản sắc… Nhiệm vụ gìn giữ, phát huy bản

sắc văn hố mỗi dân tộc trở nên rất nặng nề. Cái chính là phải giáo dục truyền

thống, phát huy các giá trị truyền thống, xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên

tiến đậm đà bản sắc dân tộc, có đủ sức mạnh nội sinh.

3. Tính tất yếu cơng nghiệp hố, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri

thức ở nước ta

CNH là một giai đoạn tất yếu của mỗi quốc gia. Đối với nước ta, từ một nền

kinh tế nông nghiệp lạc hậu, muốn tiến lên CNXH, nhất thiết phải trải qua CNH.

Cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH) giúp phát triển lực lượng sản xuất,

làm thay đổi căn bản công nghệ sản xuất, tăng năng suất lao động. Đây là thời kỳ

tạo tiền đề vật chất để không ngừng củng cố và tăng cường vai trò của kinh tế nhà

nước trong điều tiết sản xuất và dẫn dắt thị trường. Đồng thời, CNH-HĐH là động

lực phát triển kinh tế-xã hội, tạo điều kiện tăng cường củng cố an ninh-quốc phòng

và là tiền đề cho việc xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ, đủ sức tham gia

một cách có hiệu quả vào sự phân cơng và hợp tác quốc tế.

Trong q trình CNH-HĐH, nước ta có thuận lợi cơ bản là nước đi sau, có

thể học hỏi được kinh nghiệm thành công của những nước đi trước và có cơ hội rút

ngắn thời gian thực hiện quá trình này. Trước đây, nước Anh thực hiện CNH đầu

tiên, phải mất 120 năm; nước Mỹ đi sau, chỉ mất 90 năm; sau nữa là Nhật Bản

xuống còn 70 năm; và các nước cơng nghiệp mới (NICs) có hơn 30 năm. Việt Nam

thực thực hiện quá trình này trong bối cảnh loài người đang bắt đầu chuyển sang

phát triển kinh tế tri thức (KTTT), với sự bùng nổ của tự động hóa, cơng nghệ

thơng tin, cơng nghệ gen, cơng nghệ nano, cơng nghệ vật liệu mới... đúng như tiên

đốn của C. Mác và Ph. Ăng-ghen từ giữa thế kỷ XIX: ''Tri thức sẽ trở thành lực

lượng sản xuất trực tiếp''. Đây chính là cơ hội lịch sử hiếm hoi mà thời đại tạo ra để

10



các nước đi sau như Việt Nam rút ngắn khoảng cách và đuổi kịp các nước đi trước.

Việc chuyển nền kinh nước ta sang hướng phát triển dựa vào tri thức trở thành yêu

cầu cấp thiết khơng thể trì hỗn.

Chính vì thế, tại Đại hội lần thứ IX, lần đầu tiên, Đảng ta đã ghi vào văn kiện

luận điểm quan trọng về phát triển KTTT ''Đi nhanh vào công nghệ hiện đại ở

những ngành và lĩnh vực then chốt để tạo bước nhảy vọt về công nghệ và kinh tế,

tạo tốc độ tăng trưởng vượt trội ở những sản phẩm và dịch vụ chủ lực. Cơng nghiệp

hóa gắn với hiện đại hóa ngay từ đầu và trong suốt các giai đoạn phát triển. Nâng

cao hàm lượng tri thức trong các nhân tố phát triển kinh tế- xã hội, từng bước phát

triển KTTT ở nước ta''. Tới Đại hội X, việc phát triển KTTT được thể hiện rõ với tư

cách là một yếu tố cấu thành đường lối CNH-HĐH đất nước: ''Tranh thủ cơ hội

thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn

quá trình CNH-HĐH đất nước theo định hướng XHCN gắn với phát triển KTTT,

coi KTTT là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và CNH-HĐH. Phát triển mạnh các

ngành và sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức; kết hợp

việc sử dụng vốn tri thức của con người Việt Nam với tri thức mới nhất của nhân

loại”. Và Đại hội XI, với định hướng chiến lược cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi

mơ hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng, sang phát triển hợp lý

giữa chiều rộng và chiều sâu, chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền

vững, Đảng ta tiếp tục khẳng định: ''phát triển mạnh khoa học, cơng nghệ làm động

lực đẩy nhanh q trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố, phát triển KTTT, góp phần

tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, sự phát

triển nhanh, bền vững của đất nước”.

Từ một nền kinh tế nông nghiệp đi lên CNXH, trong bối cảnh tồn cầu hóa,

chúng ta phải tiến thành đồng thời hai quá trình: Chuyển từ nền kinh tế nông

nghiệp lên kinh tế công nghiệp (CNH-HĐH); chuyển từ kinh tế nông-công nghiệp

lên KTTT. Trong khi ở các nước đi trước, đó là hai q trình kế tiếp nhau, thì ở

11



nước ta, tận dụng cơ hội là nước đi sau, hai quá trình này được lồng ghép với nhau,

kết hợp các bước đi tuần tự với các bước phát triển nhảy vọt, tức là gắn CNH-HĐH

với phát triển KTTT.

II. Nội dung và giải pháp cơ bản đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại

hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức ở nước ta

1. Nội dung đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở

Việt Nam

* Phát triển mạnh các ngành và các sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao

dựa nhiều vào tri thức; kết hợp sử dụng nguồn vốn tri thức của con người Việt Nam

với tri thức mới nhất của nhân loại.

Đó là các ngành cơng nghiệp cơng nghệ thơng tin, công nghiệp công nghệ

cao, các ngành dịch vụ dựa vào xử lý thơng tin, tài chính, ngân hàng, giáo dục đào

tạo, nghiên cứu phát triển công nghệ và ứng dụng trực tiếp để tạo ra sản phẩm. Chỉ

có như vậy mới làm cho tổng giá trị sản phẩm tăng nhanh, nhưng tổng tiêu hao

nhiên liệu, nguyên liệu, vật tư hầu như không tăng mấy; số lượng người lao động

trong khu vực sản xuất hàng hố có xu hướng ngày càng ít đi, trong khi số người

làm việc ở các văn phòng hiện đại đa chức năng và làm cơng việc xử lý thông tin

chiếm tỷ lệ rất lớn trong cơ cấu tổng thể lực lượng lao động xã hội.

Vấn đề quan trọng hàng đầu là, chúng ta phải chủ động phát huy năng lực

sáng tạo tri thức ở trong nước, đồng thời phải biết tranh thủ cơ hội tiếp thu tri thức

của thế giới tồn cầu hóa.

Thực vậy, trong điều kiện chưa có đủ nguồn lực để phát triển kinh tế tri thức

lên ngay trình độ cao, ta phải chủ động hội nhập quốc tế nhằm đẩy mạnh hợp tác về

công nghệ cao trong nhiều lĩnh vực, trên cơ sở cùng có lợi. Qua hội nhập và hợp

tác cùng với việc gửi đi nâng cao trình độ ở nước ngoài, các chuyên gia Việt Nam

từng bước trưởng thành trong ứng dụng các công nghệ cao và tiến tới sáng tạo tri

thức mới cần thiết cho cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa ở trình độ cao. Nhiều ví dụ

12



trong cơng nghiệp điện tử, trong thiết lập mạng viễn thông quốc gia, trong công

nghiệp chế biến nông sản, trong chế tạo trang thiết bị cơ - điện tử... đã cho thấy kết

quả tốt và đạt bước tiến nhanh rõ rệt.

* Coi trọng số lượng và chất lượng tăng trưởng kinh tế trong mỗi bước phát

triển kinh tế ở từng vùng, từng địa phương, trong từng dự án kinh tế - xã hội.

Trong vấn đề này cần coi trọng cả số lượng và chất lượng tăng trưởng. Phấn

đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ nhanh, chất lượng cao và bền vững hơn, gắn

với phát triển con người; từng bước thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao

chất lượng sống và bảo đảm ngày càng tốt hơn nhu cầu về văn hóa, giáo dục cho

con người. Xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại, hợp lý theo ngành, lĩnh vực và vùng

lãnh thổ. Phát triển mạnh các ngành, các sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao

dựa nhiều vào tri thức. Vấn đề quan trọng hàng đầu là, chúng ta phải chủ động phát

huy năng lực sáng tạo ở trong nước, đồng thời phải biết tranh thủ cơ hội tiếp thu tri

thức của thế giới.

* Xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại, hợp hợp lý theo ngành, lĩnh vực và vùng lãnh thổ.

Chúng ta đang phải đối mặt với sự “yếu kém của nội tại nền kinh tế với mơ

hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế lạc hậu, kém hiệu quả, tích tụ kéo dài từ lâu,

chậm được khắc phục...” (Trích diễn văn bế mạc HNTƯ 3 khóa XI của Tổng Bí thư

Nguyễn Phú Trọng ngày 10-10-2011 )

* Giảm chi phí trung gian, nâng cao năng suất lao động ở tất cả các ngành,

các lĩnh vực, nhất là những ngành, lĩnh vực có sức cạnh tranh cao.

Tạo dựng một nền hành chính có hiệu quả, tích cực chống căn bệnh kinh niên là

tham nhũng, quan liêu, lãng phí sẽ thúc đẩy việc giảm mạnh các chi phí hành chính,

góp phần tăng năng suất lao động và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.

2. Giải pháp cơ bản đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với

phát triển kinh tế tri thức



13



Theo học viện ngân hàng thế giới (WBI), một quốc gia muốn chuyển sang

nền kinh tế tri thức, trước tiên cần hình thành 4 trụ cột quan trọng, đó là:

1. Mơi trường kinh tế và thể chế xã hội thuận lợi cho sáng tạo và sử dụng tri

thức. Một môi trường và thể chế theo luật, cho phép dòng chảy tự do của tri thức,

hỗ trợ công nghệ thông tin và truyền thông, khuyến khích việc làm chủ doanh

nghiệp như trọng tâm của kinh tế tri thức.

2. Giáo dục và đào tạo. Hệ thống giáo dục và đào tạo có chất lượng cao để

người dân được giáo dục và đào tạo, nâng cao năng lực sáng tạo, chia sẻ và sử dụng

tri thức, nguồn nhân lực chất lượng cao

3. Hạ tầng cơ sở thông tin (ICT) hiện đại. Một cơ sở thông tin động, từ radio

đến internet, là cần thiết để cho phép dễ dàng liên lạc, phổ biến và sử lý thông tin.

4. Hệ thống sáng tạo có hiệu quả. Một mạng lưới các trung tâm nghiên cứu,

đại học, tổ chức chuyên gia, cố vấn, doanh nghiệp tư nhân, các nhóm cộng đồng là

cần thiết để thu nhận được kho tri thức tồn cầu ln khơng ngừng tăng, truyền bá

và thích ứng chúng cho các nhu cầu của đất nước,và sáng tạo ra các tri thức mới

cần thiết.

Trong thời đại kinh tế tri thức, Việt Nam có thể bỏ qua các thế hệ công nghệ

trung gian để đi ngay vào công nghệ tiên tiến, cơng nghệ cao. Song, điều đó khơng

có nghĩa cho phép chúng ta có thể chủ quan, nóng vội, đốt cháy giai đoạn mà bỏ

qua những mục tiêu của phát triển kinh tế. Quán triệt quan điểm của Đảng về đẩy

mạnh CNH, HĐH gắn với tri thức đòi hỏi chúng ta cần thực hiện tốt một số vấn đề

cơ bản sau:

Một là; đổi mới mạnh mẽ về tư duy, chính sách, thể chế, tổ chức quản lý, tạo

mơi trường kinh doanh sôi động, phát huy mọi khả năng sáng tạo.

Chuyển đổi triệt để từ kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường, từ

kinh tế hiện vật sang kinh tế giá trị, từ dựa chủ yếu vào nguồn lực vật chất sang dựa

chủ yếu vào nguồn lực trí tuệ, chuyển trọng tâm đầu tư từ đầu tư hữu hình sang đầu

14



tư vơ hình. Coi tri thức là nguồn vốn quan trọng nhất. Tạo môi trường kinh doanh

sôi động, thúc đẩy sự cạnh tranh. Chính sách, pháp luật rõ ràng, công khai, minh

bạch, thúc đẩy dân chủ, khuyến khích mạnh mẽ các khả năng sáng tạo. Vai trò của

Nhà nước chuyển từ chức năng điều khiển, chỉ huy sang chức năng kiến trúc sư của

nền kinh tế tri thức, định hướng phát triển, tạo môi trường thuận lợi và động viên

mọi người, mọi lực lượng phát huy năng lực sáng tạo xây dựng nền kinh tế tri

thức. Thể chế chính sách phải nhằm tạo lập một khơng gian (mơi trường) thuận

lợi cho các q trình đổi mới, thúc đẩy hình thành hệ thống đổi mới quốc gia hữu

hiệu. Đó là điều kiện để tiến nhanh vào kinh tế tri thức.

Hai là; Cải cách triệt để nền giáo dục, phát triển nguồn nhân lực chất lượng

cao - yếu tố quyết định sự thành công của chiến lược phát triển kinh tế tri thức.

Trong nền kinh tế tri thức, con người phải biết tự đào tạo, luôn tiếp thu tri

thức mới, có năng lực sáng tạo, thường xuyên đổi mới cách nghĩ, cách làm, ln

thích nghi với sự phát triển. Giáo dục, đào tạo có ý nghĩa vơ cùng quan trọng – sản

xuất vốn tri thức. Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011-2020 khẳng định:

Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất

lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định quá trình cơ cấu lại nền

kinh tế, chuyển đổi mơ hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh dài hạn, bảo đảm

phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững… Phát triển nguồn nhân lực cần phải quan

tâm cả phát triển con người và hiện đại hóa hoạt động giáo dục, đào tạo.

Nhà nước phải có chính sách trọng dụng nhân tài, thực sự coi "hiền tài là

nguyên khí quốc gia", tạo điều kiện làm việc thuận lợi, phát huy năng lực của

những cán bộ giỏi, đầu đàn trong các lĩnh vực khoa học-công nghệ, quản lý

kinh doanh, văn học-nghệ thuật…Nhiệm vụ cấp bách là tiến hành ngay một

cuộc cách mạng toàn diện trong giáo dục: cải cách triệt để, sâu sắc cả về mục

tiêu, nội dung, phương pháp dạy học, hệ thống giáo dục, phương thức tổ chức

quản lý giáo dục - đào tạo. Chuyển trọng tâm của giáo dục từ trang bị kiến thức

15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nền kinh tế tri thức

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×