Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NỘI DUNG TĂNG TRƯỞNG XANH CỦA HÀN QUỐC

NỘI DUNG TĂNG TRƯỞNG XANH CỦA HÀN QUỐC

Tải bản đầy đủ - 0trang

Ngân sách tăng trưởng xanh tăng lên không nhất thiết dẫn đến việc giảm

đi các ngân sách y tế và giáo dục;

Phân bổ lại các nguồn ngân sách cho tăng trưởng xanh là cần thiết trong

một số khu vực chi tiêu.

6.1.1 Khơng có gói kích thích xanh nào là riêng lẻ. Tăng trưởng xanh đã

được tích hợp đầy đủ vào ngân sách bổ sung tháng 4/2009 của Hàn Quốc.



Từ cuối năm 2008 đến đầu năm 2009, các nước trên thế giới bắt đầu đưa

ra những gói kích thích kinh tế bổ sung nhằm đương đầu với cuộc khủng hoảng

tài chính toàn cầu. Xem xét từ mức độ mà cuộc khủng hoảng trên tác động đến

Hàn Quốc thì quốc gia này cũng cần tham gia vào cơng cuộc đó.



Tháng 1/2009, chính phủ Hàn Quốc đã khởi động Thoả thuận xanh mới

(Green New Deal), trong đó, xác định những dự án trọng điểm tập trung vào

năng lượng tái tạo, các cơng trình sử dụng năng lượng hiệu quả, các phương

tiện đường bộ và đường sắt ít (thải) các-bon, nước và quản lý chất thải. Trong

thoả thuận mới này, Chính phủ đã ban hành một kế hoạch đầu tư trị giá 50

nghìn tỷ won (38,5 tỷ đô la) cho giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2012.



Cùng lúc đó, một ngân sách bổ sung đã được chuẩn bị, trong đó, gói kích

thích xanh – bao gồm đầu tư cơ sở hạ tầng để tiếp sức cho nền kinh tế và tạo ra

các việc làm xanh – là chính. Với mức 17,9 nghìn tỷ won, chiếm 6,3 % tổng

ngân sách ban đầu của năm tài chính 2009, khoản ngân sách bổ sung trên là lớn

nhất trong lịch sử tài khoá Hàn Quốc và nhiều chương trình liên quan đến tăng

trưởng xanh đã được tính vào các khoản tăng chi tiêu này.



6.1.2 Một trong các yếu tố thành công then chốt là cơ quan tài chính và

kế hoạch trung ương đã chủ động ủng hộ việc lồng ghép các chương trình tăng

trưởng xanh vào trong phân bổ ngân sách quốc gia.

Tăng trưởng xanh là một ưu tiên dưới thời Tổng thống Lee Myung-bak.

Để liên kết chương trình nghị sự của chính quyền và chi tiêu cơng, Bộ Chiến

Lược và Tài Chính (Ministry of Strategy and Finance_MOSF) – cơ quan tài

chính và kế hoạch trung ương tại Hàn Quốc – đã dành quyền ưu tiên cao cho

các sáng kiến tăng trưởng xanh khi xây dựng kế hoạch chi tiêu trung hạn và

soạn thảo các ngân sách thường niên. Do đó, u cầu hỗ trợ tài chính trong Kế

hoạch 5 năm về Tăng trưởng xanh đã được phản ánh đầy đủ trong Kế hoạch

quản lý tài khoá quốc gia 5 năm (2009-2013) – kế hoạch chi tiêu trung hạn của

Hàn Quốc – cũng như trong các ngân sách thường niên sau đó.



Chính



phủ



cũng



ban



hành



“ngun tắc ngân sách 2%”, một chính

sách mà nhờ đó, 2% GDP sẽ được phân

bổ trong vòng 5 năm để thực thi các

chiến lược tăng trưởng xanh. Con số

tổng cộng được dự đoán cho giai đoạn 5

năm là 107,4 nghìn tỷ won, với mức chi

tiêu thực tế ước tính là 110,6 nghìn tỷ

won (Hình 1).

Trong số ba mục tiêu ưu tiên, ứng phó với biến đổi khí hậu sử dụng phần

lớn nhất trong ngân quỹ (55%) do phần lớn dành cho Dự án cải tạo bốn sơng

lớn[1] vốn tiêu tốn 14,3 nghìn tỷ won trong giai đoạn trên (Hình 2).



6.1.3



Ban đầu, có lo ngại



rằng ngân sách tăng trưởng xanh

tăng sẽ gây tổn hại cho các khoản

ngân sách quan trọng khác. Tuy

nhiên, dữ liệu từ năm 2007 cho thấy

điều đó khơng chính xác.



Bộ Chiến lược và Tài chính (MOSF) đã tái ưu tiên ngân sách quốc gia để

gộp tăng trưởng xanh vào chi tiêu của các khu vực mà không gây ảnh hưởng

bất lợi đến việc phân bổ ngân sách cho các hàng hố cơng quan trọng như y tế,

phúc lợi và giáo dục. Trên thực tế, các khoản ngân sách và phần chia trong

tổng ngân sách phân bổ cho các hàng hố cơng nói trên đã liên tục tăng – chi

cho y tế và phúc lợi tăng từ 25,8% trong năm 2007 lên 28,5% trong năm 2013,

cũng trong giai đoạn này, chi cho giáo dục đã tăng từ 13% lên 14,6% (Hình 3).



Các quỹ cần thiết đã được huy động thơng qua một q trình xét lại chi

tiêu bằng cách cắt giảm chi tiêu đối với những chương trình có tỷ lệ thực thi

thấp và ít hiệu quả. Các nguồn bổ sung đã có được nhờ những nỗ lực giảm bớt

10% chi phí quản trị cơng.



6.1.4 Những điều chỉnh tài khoá trong phân bổ ngân sách được thực

hiện trong các khu vực chi tiêu cụ thể.



Ví dụ, trong lĩnh vực giao thông, ưu tiên ngân sách đã dịch chuyển từ

đường bộ sang đường sắt để hướng tới tăng trưởng xanh. Điều này dẫn đến

phần ngân sách phân bổ cho đường sắt tăng từ 19% trong năm 2007 lên 25%

trong năm 2013, kéo theo tỷ lệ giữa đường bộ với đường sắt trong ngân sách

giao thông giảm từ 1,6 xuống 1,2. Ngoài ra, trong lĩnh vực R&D, ưu tiên lớn

hơn đã được ban hành cho đầu tư vào R&D xanh, khiến cho tỷ lệ R&D xanh

trong tổng số R&D tăng từ 16,5% trong năm 2009 lên 22,2% trong năm 2012.



[1]Dự án cải tạo bốn sông lớn là một dự án thuỷ lợi với nội dung là xây

đập ngăn và nạo vét bốn con sông lớn của Hàn Quốc, các mục tiêu đặt ra:

(i) Đảm bảo các nguồn nước dồi dào để chống lại sự khan hiếm nước;



(ii) Thực hiện các biện pháp kiểm sốt lũ lụt tồn diện;

(iii) Nâng cao chất lượng nước và khôi phục hệ sinh thái;

(iv) Tạo ra các không gian đa dụng cho dân cư địa phương;

Theo đuổi phát triển vùng lấy các dòng sơng làm trung tâm.



VỀ NHỮNG SẮP XẾP THỂ CHẾ CHO TĂNG TRƯỞNG XANH TẠI

HÀN QUỐC

Để hồn thành tầm nhìn quốc gia về tăng trưởng xanh, Chính phủ Hàn

Quốc đã chủ động vào cuộc nhằm tạo ra các sắp xếp thể chế thích hợp hướng

tới tăng trưởng xanh. Rõ ràng rằng, trong việc biến tầm nhìn quốc gia thành

hiện thực thì tính hiệu quả trong điều hành có vai trò vơ cùng quan trọng.



Có 3 yếu tố chính trong các sắp xếp thể chế do chính phủ tiến hành: (i)

Chiến lược và kế hoạch hành động;

(ii) Khả năng nhìn xa trơng rộng trong chính sách tăng trưởng xanh;

Sự tham gia của tất cả bộ ngành liên quan, trong đó, đặc biệt nhấn mạnh

đến khu vực tư nhân như một bộ phận đóng góp cốt lõi

Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh được thông qua cùng với Kế

hoạch 5 năm về tăng trưởng xanh.

Chiến lược quốc gia (2009-2050) này là trọng tâm trong kế hoạch của

chính phủ về tăng trưởng xanh. Nó đã đề ra ba mục tiêu chính với mười định

hướng chính sách cụ thể. Ngồi ra, để thực thi một cách có hệ thống và nhất

qn nghị trình đã đặt ra trong Chiến lược quốc gia trên, chính phủ đã phát



triển Kế hoạch 5 năm (2009-2013) vốn rất hiệu quả trong các giai đoạn đầu của

sự bùng nổ kinh tế Hàn Quốc.



Mục tiêu thứ nhất là ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu và đạt tới sự

độc lập về năng lượng. Mục tiêu này kêu gọi các hành động như đặt ra những

mục tiêu giảm thiểu từ trung hạn đến dài hạn, tăng cường sử dụng các nguồn

năng lượng mới và năng lượng tái tạo và củng cố năng lực ứng phó của quốc

gia nhằm chống lại những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu.



Mục tiêu thứ hai là tạo ra các động cơ tăng trưởng mới trên nhiều mặt

trận. Trọng tâm của nó là tăng cường những đầu tư chiến lược trong nghiên cứu

và phát triển công nghệ xanh, thiết lập cấu trúc cho tài chính xanh và đưa ra

các ưu đãi về thuế cho những hoạt động thân thiện với môi trường.



Mục tiêu thứ ba là nâng cao tổng thể chất lượng cuộc sống cho người

dân và gia tăng đóng góp cho cộng đồng quốc tế bằng cách vận động mạnh mẽ

cho tăng trưởng xanh. Xét tầm quan trọng của việc thay đổi hành vi, Chính phủ

đã thi hành các chiến dịch cộng đồng được thiết kế để tăng cường hiểu biết và

tham gia của cơng dân, ví dụ như Phong trào Khởi động xanh[1].



Hình 1. Ba mục tiêu và Mười định hướng của Tăng trưởng xanh



Chính

quyền



của



Tổng



thống



Lee Myung-



bak đã

bổ

nhiệm

một

chức

vụ mới

thuộc

văn

phòng

tổng

thống:

Thư ký

cấp

cao về Tăng trưởng xanh



Đầu tiên, chức vụ này được gọi là Thư ký về Tầm nhìn tương lai; sau đó,

họ đổi tên gọi và thăng cấp cho vị trí này với nhiệm vụ là giám sát chiến lược

“Tăng trưởng xanh, ít các-bon” và đóng vai trò chính trong việc chuyển đổi

phê chuẩn của Tổng thống đối với những sáng kiến tăng trưởng xanh thành các



thực thi trên thực tế. Nhờ sự cộng tác thành một nhóm làm việc giữa vị trí này

và Ủy ban Tổng thống về Tăng trưởng xanh (Presidential Committee on Green

Growth_PCGG), Hàn Quốc có thể tăng cường cấu trúc điều hành khơng chỉ

trong xây dựng chính sách và các chiến lược tăng trưởng xanh mà còn để giám

sát thường xuyên, cho phép điều chỉnh chính sách và kĩ thuật khi cần thiết.

Hàn Quốc thiết lập PCGG như một cơ quan liên bộ cấp cao nhất với sự

tham gia rộng rãi từ khu vực tư nhân

Uỷ ban này có đồng chủ tịch là Thủ tướng và một đại diện của khu vực

tư nhân, những thành viên khác là các bộ trưởng hữu quan và các đại diện của

khối tư nhân. Uỷ ban này được uỷ nhiệm để bàn thảo tất cả các chủ đề liên

quan tới việc theo đuổi tăng trưởng xanh, cũng như điều phối cơng việc của

chính quyền trong phạm vi này. Giống như PCGG trung ương, một Uỷ ban địa

phương về Tăng trưởng xanh đã được thành lập để thảo luận những vấn đề liên

quan tới việc xây dựng và thực thi chính sách Tăng trưởng xanh ở cấp chính

quyền địa phương. Thơng qua các Uỷ ban trung ương và địa phương này, việc

lên kế hoạch và thực thi các sáng kiến tăng trưởng xanh được giám sát và

khuyến khích nhằm đạt được những kết quả đã trù tính. Sự tham gia của khu

vực tư nhân cũng hết sức cần thiết để thúc đẩy thay đổi hành vi trong khu vực

này. Kết quả của nó là việc triển khai 05 Tổ chức Tư vấn Tăng trưởng xanh

thuộc khu vực tư nhân để liên kết giữa kinh doanh, các nhà khoa học, xã hội

dân sự, công nghệ thơng tin với các lãnh đạo tài chính lại với nhau để thu được

ý kiến chuyên sâu và thúc đẩy sự tham gia của khối tư nhân vào các chính sách

Tăng trưởng xanh.

ĐẦU TƯ CHO CÔNG NGHỆ XANH Ở HÀN QUỐC

Tính từ năm 2008, khi Tổng thống Lee Myung-bak cơng bố Tăng trưởng

xanh, ít các-bon là tầm nhìn quốc gia của Hàn Quốc và nhấn mạnh trọng tâm



phát triển là cơng nghệ xanh (CNX), năng lượng sạch thì quy mơ đầu tư cho

CNX của Hàn Quốc đã tăng dần theo từng năm. Theo số liệu thống kê[1], mức

tăng cụ thể từ năm 2008 đến năm 2013 là: 1,46 nghìn tỷ won (năm 2008) ➔

1,95 nghìn tỷ won (năm 2009) ➔ 2,24 nghìn tỷ won (năm 2010) ➔ 2,55

nghìn tỷ won (năm 2011) ➔ 2,71 nghìn tỷ won (năm 2012) ➔ 3,04 nghìn tỷ

won (năm 2013).

Hình 1: Đầu tư cho CNX (năm 2008 ~ năm 2013)

(đơn vị: nghìn tỷ won)



Nguồn: 녹녹녹녹녹녹 (2014), 2013 녹녹녹녹 녹녹녹녹녹녹녹녹 녹녹녹녹녹녹녹



Đồng thời, số lượng dự án gia tăng nhanh chóng, năm 2008 là gần 4.000

dự án và chỉ sau 5 năm (năm 2013), số lượng dự án đã tăng gấp đơi, thành hơn

8.000 dự án.



Hình 2: Đầu tư R&D cho CNX và số lượng dự án con (2008 - 2013)

(đơn vị: 100 triệu won, số lượng dự án)



Nguồn: 2014 Statistics Yearbook 2013 of Green Technology



Bên cạnh đó, tỷ lệ R&D cho CNX trên tổng R&D quốc gia cũng có

chiều hướng tăng dần theo từng năm. Năm 2013, quy mơ đầu tư của cho CNX

là 3,04 nghìn tỷ won, chiếm 17,9% tổng R&D quốc gia (16,91 nghìn tỷ won),

nghĩa là đã tăng 11,8% so với năm 2012.



Hình 3: Đầu tư cho CNX (năm 2008 ~ năm 2013)(đơn vị: trăm triệu

won, %)



Hình 4: Đầu tư cho CNX và CNX cốt lõi (năm 2008 ~ năm 2013)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NỘI DUNG TĂNG TRƯỞNG XANH CỦA HÀN QUỐC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×