Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Về chủ thể tiến hành hòa giải:

Về chủ thể tiến hành hòa giải:

Tải bản đầy đủ - 0trang

bộ nào của Tòa án cũng có thể tiến hành hòa giải. Việc quy định rõ ràng quyền

hạn của Thẩm phán sẽ nâng cao trách nhiệm của họ trong việc hòa giải làm cho

cơng tác hòa giải đạt kết quả cao.

Thẩm phán trong khi tiến hành hòa giải phải có thái độ khách quan, vô tư,

không cưỡng ép, không để đương sự biết dự liệu của Tòa án về xét xử vụ án,

phải giải thích rõ ràng, để hiểu quyền và nghĩa vụ liên quan đến đương sự trong

vụ án. Đương sự sau khi nghe Thẩm phán phổ biến pháp luật, tham khảo các vấn

đề Thẩm phán nêu ra từ đó có quan điểm giải quyết.

Là Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải, phải biết phân vai:

- Người trung gian: Thẩm phán luôn giữ chuẩn mực là người không thuộc

về một bên.

- Người điều đình: Biết tăng giảm liều lượng căng thẳng hoặc mềm dẻo,

duy trì mức độ trung hồ để đạt được mục đích hồ giải.

- Người trọng tài: Biết lắng nghe cả hai bên, chắt lọc và gợi ý để đi đến thoả

thuậnchung.

Tuỳ theo loại vụ án (dân sự, kinh doanh thương mại, ly hôn…) mà Thẩm

phán thể hiện từ phong thái đến phương án hoà giải và xử lý tình huống trong

q trình hồ giải; các kỹ năng chắt lọc thông tin, tổng hợp, ngôn ngữ và tư duy

của Thẩm phán khi hoà giải.

2. Kỹ năng xây dựng kế hoạch hồ giải:

Để việc hồ giải có hiệu quả, thì Thẩm phán cần có nhiều cơng tác chuẩn

bị khác nhau, trong đó có việc xây dựng kế hoạch hồ giải. Thơng thường việc

xây dựng kế hoạch hồ giải được tiến hành qua các bước sau:

Bước 1. Chuẩn bị các điều kiện về cơ sở, vật chất:

- Bố trí phòng hồ giải riêng biệt, sắp xếp chỗ ngồi của Thẩm phán, Thư

ký và đương sự hợp lý, vừa trang nghiêm nhưng cũng vừa cởi mở, tạo được sự

thoải mái cho đương sự.

- Tốt nhất nên bố trí bàn làm việc hình vng hoặc hình chữ nhật. Thẩm

phán và Thư ký ngồi cạnh nhau, trên bàn có để biển “Thẩm phán” và biển “Thư

ký” ngay trước mặt; phía đối diện Thẩm phán và Thư ký là chỗ ngồi của những

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phía bên phải Thẩm phán và Thư ký là



7



nơi ngồi của nguyên đơn; phía bên trái của Thẩm phán và Thư ký là chỗ ngồi

của bị đơn.

- Bố trí như trên thì ngun đơn và bị đơn ngồi đối diện nhau vừa đảm

bảo cho nguyên đơn và bị đơn thoải mái trình bày, nhưng cũng vừa giúp cho

việc ngăn ngừa hành vi quá khích của ngun đơn hoặc bị đơn, vì nếu họ muốn

đánh nhau thì phải chồm người qua bàn làm việc.

Bước 2. Thu thập, nghiên cứu đầy đủ các tài liệu, chứng cứ:

- Có thời gian thích hợp để nghiên cứu kỹ hồ sơ. Nắm vững nguyên nhân

tranh chấp, một hoặc nhiều quan hệ pháp luật mà các bên đương sự tranh chấp,

hiểu rõ được nội dung, tính chất, mức độ tranh chấp, thái độ tâm lý của các bên

đương sự trong từng vụ án, xác định các yêu cầu cụ thể của đương sự trong vụ

án, những nội dung các bên thống nhất được và những nội dung còn mâu thuẫn

để xác định; những yếu tố, điều kiện nào tốt nhất, có lợi cho các bên nhằm đạt

đến sự thoả thuận theo kế hoạch hoà giải của Thẩm phán.

- Lập phương án xử lý tình huống có khả năng xảy ra giữa các bên đương

sự tại phiên hồ giải.

- Có thể tiếp xúc và tác động theo hướng hoà giải tích cực đối với từng

bên nhằm nắm rõ nguyện vọng, ý định của mỗi bên trước khi hồ giải.

- Có thể gặp hoặc tiếp xúc với một số cơ quan có liên quan nhằm hỗ trợ

tốt cho việc hồ giải.

Ví dụ: Trong các vụ ly hôn, cần thiết Thẩm phán có thể tiếp xúc với chính

quyền địa phương, tổ dân phố trước khi tiến hành hoà giải để nắm được hồn

cảnh thực tế, mâu thuẫn đã xảy ra (nếu có) để có phương pháp hồ giải thích

hợp đối với từng trường hợp cụ thể.

Bước 3. Lựa chọn thời điểm hoà giải:

Sau khi Thẩm phán xử lý các thông tin cần thiết cho việc tổ chức phiên

hoà giải, Thẩm phán tổ chức phiên hoà giải nếu các dữ liệu thu thập được, khi

hồ giải có khả năng hồ giải thành rất cao.

Có phương án xử lý tốt nhất đối với các mâu thuẫn xoay quanh quan hệ

pháp luật mà Thẩm phán phải tác động đến, giúp đương sự dễ thoả thuận.

Nắm vững điểm mạnh, điểm yếu của mỗi bên đương sự để điều đình,

thương lượng, tăng giảm lợi ích của mỗi bên nhằm đạt đến sự thống nhất chung.

8



Ví dụ như trong vụ án ly hôn, Thẩm phán cần chú ý:

- Khả năng vợ chồng đồn tụ rất cao thì bố trí cho họ hồ giải ngay.

- Khả năng có thể họ sẽ suy nghĩ lại và thay đổi ý định ly hơn. Trường

hợp này khơng nên đưa ra hồ giải ngay, mà Thẩm phán cần tìm hiểu, đánh giá

thêm họ còn vướng mắc với nhau điểm nào, cái gì có thể hàn gắn họ được. Từ

đó, Thẩm phán có những biện pháp thích hợp tác động thêm đến họ cho đến khi

đánh giá khả năng họ có thể đồn tụ được, thì lúc đó mới tiến hành hồ giải.

- Khả năng họ không nghe lời ai hết, họ quá cương quyết, khơng thể nào

hàn gắn được thì Thẩm phán tiến hành hoà giải cho đủ thủ tục để đưa ra xét xử.

Trong hồ giải, Thẩm phán cần kiên trì, tránh tình trạng đưa ra hồ giải

chiếu lệ để lập biên bản hồ giải khơng thành cho đủ thủ tục trước khi đưa vụ án

ra xét xử. Đồng thời cần phân biệt thủ tục hoà giải trong từng giai đoạn, giai

đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm và thủ tục công nhận sự thoả thuận của các đương

sự tại phiên toà. Phương pháp lựa chọn thời điểm hồ giải có ý nghĩa quyết định

rất cao trong việc thành cơng của hồ giải, việc hồ giải có thể được tiến hành

nhiều lần ở các thời điểm khác nhau trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.

3. Kỹ năng giao tiếp trong hoà giải:

Kỹ năng giao tiếp là tất cả các yếu tố từ ánh mắt nhìn, cử chỉ hành động,

trạng thái tâm lý, ngôn ngữ ứng xử, sự hiểu biết và nắm vững kiến thức chuyên

môn của người Thẩm phán…

Tất cả những yếu tố đó hợp thành tạo nên những ấn tượng về sự cởi mở

dân chủ và niềm tin cho các bên hướng tới sự thoả thuận giải quyết tranh

chấp. Sau đây là một số kỹ năng giao tiếp, trong hoà giải mà Thẩm phán cần

phải có:

- Phong cách thư thái và tự tin tác động đến tâm lý đương sự khi Thẩm

phán bước vào phòng hồ giải.

- Thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về kiến thức xã hội có liên quan đến mâu

thuẫn cần phải hoà giải giữa hai bên nhưng đồng thời cũng thể hiện sự chia sẻ về

những tổn thất tâm lý mà mỗi bên đang phải chịu đựng. Luôn mềm dẻo trong

giao tiếp để lắng nghe những điều mà bình thường họ khơng thể thổ lộ với người

thứ ba. Chọn đúng thời điểm thích hợp để tác động đến suy nghĩ, tâm tư của mỗi

bên để định hướng họ. Bộc lộ cử chỉ để các bên có thiện cảm với Thẩm phán, họ

nhận thấy được sự vô tư và dễ gần gũi với Thẩm phán khi hoà giải.

9



- Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn, mâu thuẫn từ một phía hay cả

hai phía, mức độ mâu thuẫn. Những điểm chính của nội dung mâu thuẫn, điểm

mâu thuẫn nào là quan trọng, nếu tháo gỡ được mâu thuẫn này sẽ là chìa khố

mở ra cánh cửa của sự thoả thuận giải quyết vụ án.

- Khi hoà giải, có thể tuỳ mỗi trường hợp mà mỗi đương sự có những cử

chỉ, lời nói khác nhau: một bên chịu đựng, một bên lấn át; một bên hung hãn,

một bên dịu ngọt; một bên thô lỗ, một bên tế nhị; cả hai bên to tiếng với nhau…

nhưng lợi ích ở đây là thơng qua hành vi của họ để tìm được mục đích, ý định

của họ để Thẩm phán đưa họ đến điểm thống nhất chung.

- Thẩm phán lựa chọn phương án để giải quyết mâu thuẫn trong phiên hoà

giải phải nhanh, nhạy, lựa chọn phương án chung cho cả hai hoặc tổng hợp từ

hai cách lựa chọn của hai bên thành phương án chung hoặc từ phương án của

một bên nâng lên thành phương án chung để đạt được mục đích hòa giải.

- Lựa chọn ngun tắc chung là dựa trên các giá trị lợi ích chung mà cả

hai bên đương sự đều quan tâm đến. Vì vậy, nguyên tắc này sẽ giữ vai trò chủ

đạo mà theo đó các phương án giải quyết sẽ xoay quanh các nguyên tắc này

nhằm đạt được mục đích hồ giải mà người Thẩm phán mong muốn.

Kỹ năng này đòi hỏi Thẩm phán phải tự học hỏi thơng qua cách nói

chuyện với đương sự như một kỹ năng có rèn luyện, khắc phục dần những

nhược điểm, thuyết phục đương sự theo chức năng nghề nghiệp. Âm lượng kết

hợp với cử chỉ tạo nên thông điệp thu hút đương sự về các thông tin mà mình

định truyền đạt. Ví dụ như: âm lượng nhấn mạnh, mềm dẻo, trấn an… Đôi khi

cần biết “cương đúng lúc” đối với một bên có thái độ khơng đúng mực.

Lắng nghe là một kỹ năng cần thiết và quan trọng trong phiên hoà giải.

Tuy nhiên, kỹ năng lắng nghe cần phải chú ý tới hai thái cực:

Một là, đừng để đương sự nói dài vượt quá nội dung cần nghe để chắt lọc

thơng tin hồ giải.

Hai là, khơng cắt ngang mạch trình bày của đương sự làm cho họ bị ức

chế về tâm lý, mất sự tin tưởng đối với Thẩm phán chủ trì phiên hồ giải.

Những thơng tin mà Thẩm phán tiếp nhận từ các đương sự phải được chắt

lọc và tổng hợp đúng với ý định mà họ đã trình bày. Điều này giúp cho Thẩm

phán chủ động lựa chọn phương án giúp họ giải quyết vấn đề mâu thuẫn một

cách có hiệu quả, đạt kết quả tích cực về lợi ích chung của các bên.

10



Một số dạng câu hỏi mang tính chất gợi ý để đương sự chia sẻ nhằm giúp cho

Thẩm phán tìm hướng hồ giải có hiệu quả.

Câu hỏi đánh giá:

Loại câu hỏi thường nhằm đánh giá suy nghĩ, thái độ của người trả lời: Ví

dụ: “Anh (chị) cho biết tại sao anh (chị) ni con lại tốt hơn?”

Câu hỏi mở:

Người nghe có thể trả lời tuỳ theo ý của mình. Ví dụ: “Khi ly hơn, anh

(chị) ai là người ni con?”

• Câu hỏi gợi ý:

Người đưa ra câu hỏi thường gợi ý sự hợp tác của người trả lời. Ví dụ:

“Anh (chị) có đồng ý rằng, khi vợ chồng ly hôn, con cái khơng thể có trọn vẹn

tình cảm u thương từ bố mẹ?”



Câu hỏi yêu cầu:

Người hỏi yêu cầu người trả lời hướng đúng vào vấn đề mà người hỏi

quan tâm. Ví dụ: “u cầu anh (chị) nói rõ lý do vì sao anh (chị) có thái độ đối

với vợ (chồng) của anh (chị) như vậy?”

Câu hỏi đóng :

Dạng câu hỏi trả lời có hoặc khơng. Ví dụ: “Như vậy, anh (chị) có thừa

nhận là mình có thái độ cư xử q mức không?”

Câu hỏi tác động suy nghĩ:

Dạng câu hỏi để người được hỏi tự suy nghĩ. Ví dụ: “Với thời gian hai

mươi năm sống hạnh phúc với nhau, anh (chị) suy nghĩ thế nào chỉ vì một mâu

thuẫn nhỏ mà đánh đổ tất cả chuỗi ngày hạnh phúc mà anh chị đã có?”

3.1. Một số kỹ năng về điều hành và kiểm sốt phiên hồ giải:

- Kiểm sốt hành vi gây hấn hoặc quá khích của các bên đương sự.

- Duy trì trật tự phiên hồ giải. Tự nguyện thương lượng. Nếu hòa giải

thành, Thẩm phán ra quyết định cơng nhận hòa giải thành. Nếu khơng hòa giải

được thì tùy từng trường hợp Thẩm phán sẽ ra các quyết định khác.

Nhiệm vụ của thư ký Tòa án

11



- Thư ký Tòa án khơng chủ trì việc hòa giải như Thẩm phán. Thư ký Tòa

án tham gia vào q trình hòa giải với trách nhiệm ghi biên bản hòa giải. Trong

mọi trường hợp, thư ký Tòa án khơng được thay thế Thẩm phán chủ trì phiên

hòa giải. Việc ghi biên bản hòa giải của thư ký Tòa án phải được thực hiện theo

đúng quy định tại Điều 209 BLTTDS. Thư ký Tòa án phải chịu trách nhiệm về

việc ghi biên bản hòa giải của mình. Theo quy định tại Điều 209 BLTTDS thì

việc hòa giải được Thư ký Tòa án ghi vào biên bản. Thư ký Tòa án phải ghi rõ

vào biên bản hòa giải các nội dung chính sau đây:

Ngày, tháng, năm tiến hành phiên hòa giải;

Địa điểm tiến hành phiên hòa giải;

Thành phần tham gia phiên hòa giải;

Ý kiến của các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự;

Những nội dung đã được các đương sự thỏa thuận, khơng thỏa thuận.

Sau khi biên bản hòa giải được lập thư ký phải lấy đầy đủ chữ ký hoặc

điểm chỉ của các đương sự có mặt trong phiên hòa giải, chữ ký của Thư ký Tòa

án ghi biên bản và của Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải.

3.2. Về chủ thể tham gia hòa giải:

Theo khoản 1 Điều 209 BLTTDS thì những người tham gia hòa giải bao

gồm:

- Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự;

- Đại diện tổ chức tập thể lao động với những vụ án lao động khi có yêu

cầu của người lao động, trừ vụ án lao động đã có tổ chức đại diện tập thể lao

động là người đại diện, người bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp cho tập thể

người lao động. trường hợp đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động khơng

tham gia hồ giải thì phải có ý kiến bằng văn bản;

- Người bảo vệ quyền và lưọi ích hợp pháp của đương sự (nếu có);

- Người phiên dịch (nếu có).

Như vậy, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan,

người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án dân sự và

đương sự trong việc dân sự phải có mặt khi hòa giải.



12



4. Các quy định về phạm vi hòa giải:

4.1. Những vụ việc dân sự phải tiến hành hòa giải:

Căn cứ vào tính chất của vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền dân sự của Tòa

án, pháp luật tố tụng dân sự đã có những quy định về phạm vi những loại việc

mà Tòa án phải tiến hành hòa giải trước khi tiến hành xét xử sơ thẩm. Theo quy

định của BLTTDS thì các vụ án mà Tòa án phải tiến hành hòa giải là tất cả các

vụ án có tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Đối với những vụ

án mà Tòa án cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm thì việc tiến hành hòa giải

vụ án trước khi xét xử sơ thẩm là một thủ tục bắt buộc. Tuy nhiên, tại cấp phúc

thẩm thì BLTTDS khơng quy định Tòa án có trách nhiệm hòa giải tại Tòa án cấp

phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm chỉ hỏi xem các đương sự có thỏa thuận được

với nhau về việc giải quyết hay không.

Bộ luật Tố tụng dân sự hiện nay quy định là Tòa án có trách nhiệm tiến

hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về

việc giải quyết vụ việc dân sự.

4.2. Những vụ án dân sự khơng được hòa giải:

Điều 207 BLTTDS quy định về các trường hợp khơng phải tiến hành hòa

giải như sau:

- u cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước;

- Những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật

hoặc trái đạo đức xã hội.

Đây chính là các giao dịch dân sự vô hiệu nên khi giải quyết các vụ án

này Tòa án sẽ giải quyết theo hướng tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu và giải

quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu. Khi giao dịch dân sự vơ hiệu thì về

mặt pháp lý quyền và nghĩa vụ giữa các bên không được Nhà nước thừa nhận và

bảo vệ nên Tòa án khơng thể tiến hành hòa giải được.

Khoản 2 Điều 15 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 đã

có những hướng dẫn theo hướng mở rộng hơn phạm vi hòa giải đối với vụ án

dân sự phát sinh từ giao dịch trái pháp luật. Theo đó, Tòa án khơng được hòa

giải vụ án dân sự phát sinh từ giao dịch trái pháp luật (giao dịch vi phạm điều

cấm của pháp luật) hoặc trái đạo đức xã hội, nếu việc hòa giải nhằm mục đích

để các bên tiếp tục thực hiện các giao dịch đó. Trường hợp các bên chỉ có tranh

chấp về việc giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu do trái pháp luật hoặc trái

13



đạo đức xã hội, thì Tòa án vẫn phải tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa

thuận với nhau về việc giải quyết hậu quả của giao dịch vơ hiệu đó.

4.3. Những vụ án dân sự khơng tiến hành hòa giải được:

Những vụ án dân sự khơng hòa giải được quy định tại Điều 207 BLTTDS.

Mặc dù Điều 10 và Điều 205 BLTTDS đã khẳng định hòa giải vụ án là nguyên

tắc, Tòa án phải tiến hành trước khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án nhưng

đối với một số vụ án vì điều kiện khách quan mà Tòa án khơng tiến hành hòa

giải được. Trong những trường hợp này nếu Tòa án cố tình hòa giải thì việc giải

quyết vụ án cũng khơng đạt kết quả và cũng không thực hiện được mục đích của

hòa giải. Những vụ án dân sự khơng tiến hành hòa giải được bao gồm:

- Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã đươc Toà án triệu tập

hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt.

- Đương sự khơng thể tham gia hòa giải được vì lý do chính đáng;

- Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực

hành vi dân sự.

- Một trong các đương sự đề nghị khơng tiến hành hồ giải.

Điểm mới so với BLTTDS năm 2004, được sửa đổi bổ sung năm 2011, thì

BLTTDS năm 2015 tồ án khơng tiến hành hồ giải khi một trong các đương sự

đề nghị không tiến hành hồ giải, đó là quy đinh tơn trọng sự tự định đoạt của

đương sự.

5. Các quy định về thủ tục hòa giải vụ án dân sự:

Trước khi tiến hành phiên hòa giải, Tòa án phải thơng báo cho các đương

sự, người đại diện hợp pháp của đương sự biết về thời gian, địa điểm tiến hành

phiên hòa giải, nội dung các vấn đề cần hòa giải.

Tại phiên hòa giải, Thẩm phán sẽ tiến hành kiểm tra, xác minh sự có mặt,

vắng mặt của các đương sự và xử lý trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên

hòa giải.

Trường hợp vắng mặt nguyên đơn: Nếu trong vụ án chỉ có một nguyên

đơn mà nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vẫn vắng mặt thì

Tòa án hỗn hòa giải và tiếp tục triệu tập phiên hòa giải sau.



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Về chủ thể tiến hành hòa giải:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×