Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NỘI DUNG CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI

NỘI DUNG CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI

Tải bản đầy đủ - 0trang

kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc

dân sự.

1.2. Nguyên tắc tiến hành hòa giải trong tố tụng dân sự:

Một là, Phải có sự tự nguyện thỏa thuận giữa các đương sự:

- Việc bảo đảm tính tự nguyện này được cụ thể hóa tại điều 205 BLTTDS,

theo đó thì khi hòa giải Tòa án phải tơn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các

đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương

sự phải thỏa thuận khơng phù hợp với ý chí của mình. Khi các đương sự đã tự

nguyện thỏa thuận tức là các đương sự tự lựa chọn, quyết định các vấn đề tranh

chấp bằng hòa giải và thương lượng, thỏa thuận với nhau giải quyết các vấn đề

của vụ án. Tự nguyện thỏa thuận còn có ý nghĩa các đương sự tự do về mặt ý chí

và tự do về việc bày tỏ ý chí. Nếu thiếu một trong hai điều kiện này hoặc việc

bày tỏ ý chí khơng phải từ tự do ý chí thì sẽ khơng có yếu tố tự nguyện thỏa

thuận giữa các đương sự và ngược lại.

Hai là, Việc hòa giải khơng trái pháp luật, đạo đức xã hội:

Khi Tòa án tiến hành hòa giải để giải quyết vụ việc dân sự ngoài yếu tố tự

nguyện thỏa thuận của các đương sự thì việc Tòa án hòa giải còn phải đáp ứng

các điều kiện sau:

- Phải tuân thủ đúng trình tự, thủ tục hòa giải và phạm vi hòa giải vụ án

dân sự theo pháp luật quy định.

- Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không được trái pháp luật hoặc

đạo đức xã hội.

II. Các quy định về chủ thể trong hòa giải:

1. Về chủ thể tiến hành hòa giải:

Điều 209 BLTTDS có quy định những người tiến hành hòa giải bao gồm

Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải, thư ký Tòa án ghi biên bản hòa giải.

Nhiệm vụ của Thẩm phán tại phiên hòa giải:

Theo quy định tại khoản 7 Điều 48 BLTTDS, Thẩm phán tiến hành hòa

giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án theo quy định

của Bộ luật này và ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Trách nhiệm hòa giải của Thẩm phán được quy định cụ thể trong

BLTTDS đã khắc phục được quan niệm cho rằng Tòa án hòa giải thì bất kỳ cán

6



bộ nào của Tòa án cũng có thể tiến hành hòa giải. Việc quy định rõ ràng quyền

hạn của Thẩm phán sẽ nâng cao trách nhiệm của họ trong việc hòa giải làm cho

cơng tác hòa giải đạt kết quả cao.

Thẩm phán trong khi tiến hành hòa giải phải có thái độ khách quan, vơ tư,

khơng cưỡng ép, khơng để đương sự biết dự liệu của Tòa án về xét xử vụ án,

phải giải thích rõ ràng, để hiểu quyền và nghĩa vụ liên quan đến đương sự trong

vụ án. Đương sự sau khi nghe Thẩm phán phổ biến pháp luật, tham khảo các vấn

đề Thẩm phán nêu ra từ đó có quan điểm giải quyết.

Là Thẩm phán chủ trì phiên hồ giải, phải biết phân vai:

- Người trung gian: Thẩm phán luôn giữ chuẩn mực là người khơng thuộc

về một bên.

- Người điều đình: Biết tăng giảm liều lượng căng thẳng hoặc mềm dẻo,

duy trì mức độ trung hồ để đạt được mục đích hồ giải.

- Người trọng tài: Biết lắng nghe cả hai bên, chắt lọc và gợi ý để đi đến thoả

thuậnchung.

Tuỳ theo loại vụ án (dân sự, kinh doanh thương mại, ly hôn…) mà Thẩm

phán thể hiện từ phong thái đến phương án hồ giải và xử lý tình huống trong

q trình hồ giải; các kỹ năng chắt lọc thông tin, tổng hợp, ngơn ngữ và tư duy

của Thẩm phán khi hồ giải.

2. Kỹ năng xây dựng kế hoạch hoà giải:

Để việc hoà giải có hiệu quả, thì Thẩm phán cần có nhiều cơng tác chuẩn

bị khác nhau, trong đó có việc xây dựng kế hoạch hồ giải. Thơng thường việc

xây dựng kế hoạch hoà giải được tiến hành qua các bước sau:

Bước 1. Chuẩn bị các điều kiện về cơ sở, vật chất:

- Bố trí phòng hồ giải riêng biệt, sắp xếp chỗ ngồi của Thẩm phán, Thư

ký và đương sự hợp lý, vừa trang nghiêm nhưng cũng vừa cởi mở, tạo được sự

thoải mái cho đương sự.

- Tốt nhất nên bố trí bàn làm việc hình vng hoặc hình chữ nhật. Thẩm

phán và Thư ký ngồi cạnh nhau, trên bàn có để biển “Thẩm phán” và biển “Thư

ký” ngay trước mặt; phía đối diện Thẩm phán và Thư ký là chỗ ngồi của những

người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phía bên phải Thẩm phán và Thư ký là



7



nơi ngồi của nguyên đơn; phía bên trái của Thẩm phán và Thư ký là chỗ ngồi

của bị đơn.

- Bố trí như trên thì nguyên đơn và bị đơn ngồi đối diện nhau vừa đảm

bảo cho nguyên đơn và bị đơn thoải mái trình bày, nhưng cũng vừa giúp cho

việc ngăn ngừa hành vi quá khích của nguyên đơn hoặc bị đơn, vì nếu họ muốn

đánh nhau thì phải chồm người qua bàn làm việc.

Bước 2. Thu thập, nghiên cứu đầy đủ các tài liệu, chứng cứ:

- Có thời gian thích hợp để nghiên cứu kỹ hồ sơ. Nắm vững nguyên nhân

tranh chấp, một hoặc nhiều quan hệ pháp luật mà các bên đương sự tranh chấp,

hiểu rõ được nội dung, tính chất, mức độ tranh chấp, thái độ tâm lý của các bên

đương sự trong từng vụ án, xác định các yêu cầu cụ thể của đương sự trong vụ

án, những nội dung các bên thống nhất được và những nội dung còn mâu thuẫn

để xác định; những yếu tố, điều kiện nào tốt nhất, có lợi cho các bên nhằm đạt

đến sự thoả thuận theo kế hoạch hoà giải của Thẩm phán.

- Lập phương án xử lý tình huống có khả năng xảy ra giữa các bên đương

sự tại phiên hồ giải.

- Có thể tiếp xúc và tác động theo hướng hồ giải tích cực đối với từng

bên nhằm nắm rõ nguyện vọng, ý định của mỗi bên trước khi hồ giải.

- Có thể gặp hoặc tiếp xúc với một số cơ quan có liên quan nhằm hỗ trợ

tốt cho việc hồ giải.

Ví dụ: Trong các vụ ly hơn, cần thiết Thẩm phán có thể tiếp xúc với chính

quyền địa phương, tổ dân phố trước khi tiến hành hoà giải để nắm được hoàn

cảnh thực tế, mâu thuẫn đã xảy ra (nếu có) để có phương pháp hồ giải thích

hợp đối với từng trường hợp cụ thể.

Bước 3. Lựa chọn thời điểm hoà giải:

Sau khi Thẩm phán xử lý các thơng tin cần thiết cho việc tổ chức phiên

hồ giải, Thẩm phán tổ chức phiên hoà giải nếu các dữ liệu thu thập được, khi

hồ giải có khả năng hồ giải thành rất cao.

Có phương án xử lý tốt nhất đối với các mâu thuẫn xoay quanh quan hệ

pháp luật mà Thẩm phán phải tác động đến, giúp đương sự dễ thoả thuận.

Nắm vững điểm mạnh, điểm yếu của mỗi bên đương sự để điều đình,

thương lượng, tăng giảm lợi ích của mỗi bên nhằm đạt đến sự thống nhất chung.

8



Ví dụ như trong vụ án ly hơn, Thẩm phán cần chú ý:

- Khả năng vợ chồng đoàn tụ rất cao thì bố trí cho họ hồ giải ngay.

- Khả năng có thể họ sẽ suy nghĩ lại và thay đổi ý định ly hôn. Trường

hợp này không nên đưa ra hồ giải ngay, mà Thẩm phán cần tìm hiểu, đánh giá

thêm họ còn vướng mắc với nhau điểm nào, cái gì có thể hàn gắn họ được. Từ

đó, Thẩm phán có những biện pháp thích hợp tác động thêm đến họ cho đến khi

đánh giá khả năng họ có thể đồn tụ được, thì lúc đó mới tiến hành hồ giải.

- Khả năng họ khơng nghe lời ai hết, họ q cương quyết, khơng thể nào

hàn gắn được thì Thẩm phán tiến hành hoà giải cho đủ thủ tục để đưa ra xét xử.

Trong hoà giải, Thẩm phán cần kiên trì, tránh tình trạng đưa ra hồ giải

chiếu lệ để lập biên bản hồ giải khơng thành cho đủ thủ tục trước khi đưa vụ án

ra xét xử. Đồng thời cần phân biệt thủ tục hoà giải trong từng giai đoạn, giai

đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm và thủ tục công nhận sự thoả thuận của các đương

sự tại phiên toà. Phương pháp lựa chọn thời điểm hoà giải có ý nghĩa quyết định

rất cao trong việc thành cơng của hồ giải, việc hồ giải có thể được tiến hành

nhiều lần ở các thời điểm khác nhau trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.

3. Kỹ năng giao tiếp trong hoà giải:

Kỹ năng giao tiếp là tất cả các yếu tố từ ánh mắt nhìn, cử chỉ hành động,

trạng thái tâm lý, ngôn ngữ ứng xử, sự hiểu biết và nắm vững kiến thức chuyên

môn của người Thẩm phán…

Tất cả những yếu tố đó hợp thành tạo nên những ấn tượng về sự cởi mở

dân chủ và niềm tin cho các bên hướng tới sự thoả thuận giải quyết tranh

chấp. Sau đây là một số kỹ năng giao tiếp, trong hồ giải mà Thẩm phán cần

phải có:

- Phong cách thư thái và tự tin tác động đến tâm lý đương sự khi Thẩm

phán bước vào phòng hồ giải.

- Thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về kiến thức xã hội có liên quan đến mâu

thuẫn cần phải hồ giải giữa hai bên nhưng đồng thời cũng thể hiện sự chia sẻ về

những tổn thất tâm lý mà mỗi bên đang phải chịu đựng. Luôn mềm dẻo trong

giao tiếp để lắng nghe những điều mà bình thường họ khơng thể thổ lộ với người

thứ ba. Chọn đúng thời điểm thích hợp để tác động đến suy nghĩ, tâm tư của mỗi

bên để định hướng họ. Bộc lộ cử chỉ để các bên có thiện cảm với Thẩm phán, họ

nhận thấy được sự vô tư và dễ gần gũi với Thẩm phán khi hồ giải.

9



- Tìm hiểu ngun nhân dẫn đến mâu thuẫn, mâu thuẫn từ một phía hay cả

hai phía, mức độ mâu thuẫn. Những điểm chính của nội dung mâu thuẫn, điểm

mâu thuẫn nào là quan trọng, nếu tháo gỡ được mâu thuẫn này sẽ là chìa khố

mở ra cánh cửa của sự thoả thuận giải quyết vụ án.

- Khi hồ giải, có thể tuỳ mỗi trường hợp mà mỗi đương sự có những cử

chỉ, lời nói khác nhau: một bên chịu đựng, một bên lấn át; một bên hung hãn,

một bên dịu ngọt; một bên thô lỗ, một bên tế nhị; cả hai bên to tiếng với nhau…

nhưng lợi ích ở đây là thơng qua hành vi của họ để tìm được mục đích, ý định

của họ để Thẩm phán đưa họ đến điểm thống nhất chung.

- Thẩm phán lựa chọn phương án để giải quyết mâu thuẫn trong phiên hoà

giải phải nhanh, nhạy, lựa chọn phương án chung cho cả hai hoặc tổng hợp từ

hai cách lựa chọn của hai bên thành phương án chung hoặc từ phương án của

một bên nâng lên thành phương án chung để đạt được mục đích hòa giải.

- Lựa chọn ngun tắc chung là dựa trên các giá trị lợi ích chung mà cả

hai bên đương sự đều quan tâm đến. Vì vậy, ngun tắc này sẽ giữ vai trò chủ

đạo mà theo đó các phương án giải quyết sẽ xoay quanh các ngun tắc này

nhằm đạt được mục đích hồ giải mà người Thẩm phán mong muốn.

Kỹ năng này đòi hỏi Thẩm phán phải tự học hỏi thông qua cách nói

chuyện với đương sự như một kỹ năng có rèn luyện, khắc phục dần những

nhược điểm, thuyết phục đương sự theo chức năng nghề nghiệp. Âm lượng kết

hợp với cử chỉ tạo nên thông điệp thu hút đương sự về các thơng tin mà mình

định truyền đạt. Ví dụ như: âm lượng nhấn mạnh, mềm dẻo, trấn an… Đôi khi

cần biết “cương đúng lúc” đối với một bên có thái độ không đúng mực.

Lắng nghe là một kỹ năng cần thiết và quan trọng trong phiên hoà giải.

Tuy nhiên, kỹ năng lắng nghe cần phải chú ý tới hai thái cực:

Một là, đừng để đương sự nói dài vượt quá nội dung cần nghe để chắt lọc

thơng tin hồ giải.

Hai là, khơng cắt ngang mạch trình bày của đương sự làm cho họ bị ức

chế về tâm lý, mất sự tin tưởng đối với Thẩm phán chủ trì phiên hồ giải.

Những thông tin mà Thẩm phán tiếp nhận từ các đương sự phải được chắt

lọc và tổng hợp đúng với ý định mà họ đã trình bày. Điều này giúp cho Thẩm

phán chủ động lựa chọn phương án giúp họ giải quyết vấn đề mâu thuẫn một

cách có hiệu quả, đạt kết quả tích cực về lợi ích chung của các bên.

10



Một số dạng câu hỏi mang tính chất gợi ý để đương sự chia sẻ nhằm giúp cho

Thẩm phán tìm hướng hồ giải có hiệu quả.

Câu hỏi đánh giá:

Loại câu hỏi thường nhằm đánh giá suy nghĩ, thái độ của người trả lời: Ví

dụ: “Anh (chị) cho biết tại sao anh (chị) nuôi con lại tốt hơn?”

Câu hỏi mở:

Người nghe có thể trả lời tuỳ theo ý của mình. Ví dụ: “Khi ly hơn, anh

(chị) ai là người ni con?”

• Câu hỏi gợi ý:

Người đưa ra câu hỏi thường gợi ý sự hợp tác của người trả lời. Ví dụ:

“Anh (chị) có đồng ý rằng, khi vợ chồng ly hơn, con cái khơng thể có trọn vẹn

tình cảm u thương từ bố mẹ?”



Câu hỏi yêu cầu:

Người hỏi yêu cầu người trả lời hướng đúng vào vấn đề mà người hỏi

quan tâm. Ví dụ: “u cầu anh (chị) nói rõ lý do vì sao anh (chị) có thái độ đối

với vợ (chồng) của anh (chị) như vậy?”

Câu hỏi đóng :

Dạng câu hỏi trả lời có hoặc khơng. Ví dụ: “Như vậy, anh (chị) có thừa

nhận là mình có thái độ cư xử quá mức không?”

Câu hỏi tác động suy nghĩ:

Dạng câu hỏi để người được hỏi tự suy nghĩ. Ví dụ: “Với thời gian hai

mươi năm sống hạnh phúc với nhau, anh (chị) suy nghĩ thế nào chỉ vì một mâu

thuẫn nhỏ mà đánh đổ tất cả chuỗi ngày hạnh phúc mà anh chị đã có?”

3.1. Một số kỹ năng về điều hành và kiểm sốt phiên hồ giải:

- Kiểm sốt hành vi gây hấn hoặc q khích của các bên đương sự.

- Duy trì trật tự phiên hồ giải. Tự nguyện thương lượng. Nếu hòa giải

thành, Thẩm phán ra quyết định cơng nhận hòa giải thành. Nếu khơng hòa giải

được thì tùy từng trường hợp Thẩm phán sẽ ra các quyết định khác.

Nhiệm vụ của thư ký Tòa án

11



- Thư ký Tòa án khơng chủ trì việc hòa giải như Thẩm phán. Thư ký Tòa

án tham gia vào quá trình hòa giải với trách nhiệm ghi biên bản hòa giải. Trong

mọi trường hợp, thư ký Tòa án khơng được thay thế Thẩm phán chủ trì phiên

hòa giải. Việc ghi biên bản hòa giải của thư ký Tòa án phải được thực hiện theo

đúng quy định tại Điều 209 BLTTDS. Thư ký Tòa án phải chịu trách nhiệm về

việc ghi biên bản hòa giải của mình. Theo quy định tại Điều 209 BLTTDS thì

việc hòa giải được Thư ký Tòa án ghi vào biên bản. Thư ký Tòa án phải ghi rõ

vào biên bản hòa giải các nội dung chính sau đây:

Ngày, tháng, năm tiến hành phiên hòa giải;

Địa điểm tiến hành phiên hòa giải;

Thành phần tham gia phiên hòa giải;

Ý kiến của các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự;

Những nội dung đã được các đương sự thỏa thuận, không thỏa thuận.

Sau khi biên bản hòa giải được lập thư ký phải lấy đầy đủ chữ ký hoặc

điểm chỉ của các đương sự có mặt trong phiên hòa giải, chữ ký của Thư ký Tòa

án ghi biên bản và của Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải.

3.2. Về chủ thể tham gia hòa giải:

Theo khoản 1 Điều 209 BLTTDS thì những người tham gia hòa giải bao

gồm:

- Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự;

- Đại diện tổ chức tập thể lao động với những vụ án lao động khi có yêu

cầu của người lao động, trừ vụ án lao động đã có tổ chức đại diện tập thể lao

động là người đại diện, người bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp cho tập thể

người lao động. trường hợp đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động khơng

tham gia hồ giải thì phải có ý kiến bằng văn bản;

- Người bảo vệ quyền và lưọi ích hợp pháp của đương sự (nếu có);

- Người phiên dịch (nếu có).

Như vậy, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan,

người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án dân sự và

đương sự trong việc dân sự phải có mặt khi hòa giải.



12



4. Các quy định về phạm vi hòa giải:

4.1. Những vụ việc dân sự phải tiến hành hòa giải:

Căn cứ vào tính chất của vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền dân sự của Tòa

án, pháp luật tố tụng dân sự đã có những quy định về phạm vi những loại việc

mà Tòa án phải tiến hành hòa giải trước khi tiến hành xét xử sơ thẩm. Theo quy

định của BLTTDS thì các vụ án mà Tòa án phải tiến hành hòa giải là tất cả các

vụ án có tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Đối với những vụ

án mà Tòa án cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm thì việc tiến hành hòa giải

vụ án trước khi xét xử sơ thẩm là một thủ tục bắt buộc. Tuy nhiên, tại cấp phúc

thẩm thì BLTTDS khơng quy định Tòa án có trách nhiệm hòa giải tại Tòa án cấp

phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm chỉ hỏi xem các đương sự có thỏa thuận được

với nhau về việc giải quyết hay không.

Bộ luật Tố tụng dân sự hiện nay quy định là Tòa án có trách nhiệm tiến

hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về

việc giải quyết vụ việc dân sự.

4.2. Những vụ án dân sự khơng được hòa giải:

Điều 207 BLTTDS quy định về các trường hợp khơng phải tiến hành hòa

giải như sau:

- u cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước;

- Những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật

hoặc trái đạo đức xã hội.

Đây chính là các giao dịch dân sự vơ hiệu nên khi giải quyết các vụ án

này Tòa án sẽ giải quyết theo hướng tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu và giải

quyết hậu quả của giao dịch dân sự vơ hiệu. Khi giao dịch dân sự vơ hiệu thì về

mặt pháp lý quyền và nghĩa vụ giữa các bên khơng được Nhà nước thừa nhận và

bảo vệ nên Tòa án khơng thể tiến hành hòa giải được.

Khoản 2 Điều 15 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 đã

có những hướng dẫn theo hướng mở rộng hơn phạm vi hòa giải đối với vụ án

dân sự phát sinh từ giao dịch trái pháp luật. Theo đó, Tòa án khơng được hòa

giải vụ án dân sự phát sinh từ giao dịch trái pháp luật (giao dịch vi phạm điều

cấm của pháp luật) hoặc trái đạo đức xã hội, nếu việc hòa giải nhằm mục đích

để các bên tiếp tục thực hiện các giao dịch đó. Trường hợp các bên chỉ có tranh

chấp về việc giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu do trái pháp luật hoặc trái

13



đạo đức xã hội, thì Tòa án vẫn phải tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa

thuận với nhau về việc giải quyết hậu quả của giao dịch vơ hiệu đó.

4.3. Những vụ án dân sự khơng tiến hành hòa giải được:

Những vụ án dân sự khơng hòa giải được quy định tại Điều 207 BLTTDS.

Mặc dù Điều 10 và Điều 205 BLTTDS đã khẳng định hòa giải vụ án là nguyên

tắc, Tòa án phải tiến hành trước khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án nhưng

đối với một số vụ án vì điều kiện khách quan mà Tòa án khơng tiến hành hòa

giải được. Trong những trường hợp này nếu Tòa án cố tình hòa giải thì việc giải

quyết vụ án cũng không đạt kết quả và cũng không thực hiện được mục đích của

hòa giải. Những vụ án dân sự khơng tiến hành hòa giải được bao gồm:

- Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã đươc Toà án triệu tập

hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt.

- Đương sự khơng thể tham gia hòa giải được vì lý do chính đáng;

- Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực

hành vi dân sự.

- Một trong các đương sự đề nghị khơng tiến hành hồ giải.

Điểm mới so với BLTTDS năm 2004, được sửa đổi bổ sung năm 2011, thì

BLTTDS năm 2015 tồ án khơng tiến hành hoà giải khi một trong các đương sự

đề nghị khơng tiến hành hồ giải, đó là quy đinh tôn trọng sự tự định đoạt của

đương sự.

5. Các quy định về thủ tục hòa giải vụ án dân sự:

Trước khi tiến hành phiên hòa giải, Tòa án phải thơng báo cho các đương

sự, người đại diện hợp pháp của đương sự biết về thời gian, địa điểm tiến hành

phiên hòa giải, nội dung các vấn đề cần hòa giải.

Tại phiên hòa giải, Thẩm phán sẽ tiến hành kiểm tra, xác minh sự có mặt,

vắng mặt của các đương sự và xử lý trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên

hòa giải.

Trường hợp vắng mặt nguyên đơn: Nếu trong vụ án chỉ có một nguyên

đơn mà nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vẫn vắng mặt thì

Tòa án hỗn hòa giải và tiếp tục triệu tập phiên hòa giải sau.



14



Nếu nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt

khơng có lý do chính đáng thì theo Điểm c Khoản 1 Điều 217 BLTTDS Tòa án

sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

Trường hợp vắng mặt bị đơn: Tại phiên hòa giải nếu Tòa án triệu tập lần

thứ nhất nhưng bị đơn khơng đến thì Tòa án sẽ ra quyết định hỗn phiên hòa

giải. Trong trường hợp bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà

vẫn cố tình vắng mặt, thì Tòa án lập biên bản về việc khơng tiến hành hòa giải

được do bị đơn vắng mặt và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục

chung. Trong trường hợp tại phiên tòa, bị đơn có u cầu Tòa án hỗn phiên tòa

để tiến hành hòa giải, thì Tòa án khơng chấp nhận, nhưng cần tạo điều kiện cho

các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án (Điều 16 Nghị quyết số

05/2012/NQHĐTP ngày 03/12/2012).

Tuy nhiên, nếu triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà bị đơn vẫn khơng có mặt thì

lần này nếu các đương sự có mặt khơng đồng ý hòa giải thì Tòa án sẽ lập biên

bản khơng hòa giải được và quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Trường hợp vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ

liên quan: Theo quy định tại Khoản 3 Điều 209 BLTTDS thì nếu trong một vụ

án có nhiều đương sự, mà có đương sự vắng mặt trong phiên hòa giải, nhưng các

đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành hòa giải và việc hòa giải đó khơng ảnh

hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành hòa

giải giữa các đương sự có mặt. Nếu các đương sự đề nghị hỗn phiên hòa giải để

có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hỗn phiên hòa giải.

Các quy định trên đây có thể vận dụng cho các vụ án dân sự có nhiều nguyên

đơn mà một hoặc một số nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên

quan vắng mặt.

6. Thủ tục áp dụng trong trường hợp hòa giải khơng thành:

Đối với những vụ việc khơng được hòa giải, khơng có điều kiện để tiến

hành hòa giải hoặc với những vụ việc mà việc hòa giải khơng đạt được kết quả

và khơng có căn cứ để tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc thì Tồ án

phải lập biên bản hòa giải khơng thành và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ

thẩm hoặc mở phiên họp giải quyết việc dân sự.

Thủ tục áp dụng trong trường hợp hòa giải thành:

Trong trường hợp hòa giải thành, thủ tục áp dụng bao gồm:

15



- Thủ tục ra quyết định công nhận.

- Thủ tục trong trường hợp đương sự thay đổi ý kiến sau khi có biên bản

hòa giải thành.

- Thủ tục áp dụng trong trường hợp Tòa án hòa giải thành và đương sự rút

đơn khởi kiện.

Thủ tục áp dụng trong trường hợp các đương sự tự hòa giải:

Thủ tục áp dụng trong trường hợp các đương sự tự hòa giải bao gồm:

- Thủ tục trong trường hợp các đương sự tự hòa giải trước khi mở phiên

tòa sơ thẩm. Trong trường hợp các đương sự đã tự thỏa thuận và khơng u cầu

Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ

án dân sự (Điều 217 BLTTDS).

Về thủ tục trong trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về

các vấn đề tranh chấp tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm:

BLTTDS được xây dựng trên tinh thần "việc dân sự cốt ở hai bên" cho

nên Tòa án chỉ có trách nhiệm hòa giải các vụ án ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ

thẩm, còn đối với các giai đoạn tiếp theo thì Tòa án khơng hòa giải mà Tòa án

chỉ tạo điều kiện để các bên tự hòa giải.

Tại phiên tòa phúc thẩm nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về

việc giải quyết vụ án thì thỏa thuận này phải được ghi vào biên bản phiên tòa.

Nếu xét thấy thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện không trái pháp luật

hoặc đạo đức xã hội, thì Hội đồng xét xử vào phòng nghị án thảo luận và ra bản

án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.



III.THỰC TIỄN ÁP DỤNG CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI TRONG TỐ TỤNG

DÂN SỰ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

1. Thực tiễn áp dụng chế định hòa giải trong tố tụng dân sự:

Kết quả đạt được trong thực tiễn hòa giải vụ việc dân sự:

Theo kết quả nghiên cứu, khảo sát thực tiễn và các báo cáo tổng kết công

tác xét xử hàng năm của TANDTC từ năm 2004 đến năm 2012 cho thấy các vụ

án dân sự hòa giải thành chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số các vụ việc dân sự đã

được giải quyết. Cụ thể là:

16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NỘI DUNG CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×